Thứ Năm, 11 tháng 10, 2018

DẤU ẤN DÂN GIAN TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA PHAN THỊ THANH NHÀN

Là một trong những cây bút trưởng thành giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ là người có duyên thầm trong thơ mà còn có duyên kể chuyện, đặc biệt là những câu chuyện dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Bà đã ghi dấu trên chặng đường văn học thời kì Đổi mới với những tác phẩm như: Bỏ trốn, Đứa bé mất cha, Xóm đê ngày ấy, Tuổi trăng rằm, Học trò lớp 9.
Nhà văn Phan Thị Thanh Nhàn

Một trong những yếu tố tạo nên phong cách riêng của truyện thiếu nhi Phan Thị Thanh Nhàn là sự tiếp biến văn hóa dân gian trong sáng tác của bà. Những chất liệu dân gian được tác giả khai thác, chắt lọc, làm mới để đưa vào sáng tác của mình một cách khéo léo, tạo hiệu ứng tối đa, tác phẩm nhờ đó “sáng” lên lấp lánh, vừa gần gũi mà cũng vừa mới lạ, vừa cách tân hiện đại nhưng cũng vừa dân dã truyền thống.

1. Cuộc sống vốn vô cùng phong phú đa dạng và khả năng kì diệu của văn chương là phản ánh, tái tạo hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ. Song phạm vi đề tài được phản ánh sẽ giới hạn theo từng khả năng cũng như sự tâm đắc khi lựa chọn của mỗi nhà văn. Nói cách khác là mỗi đề tài trong tác phẩm đều ít nhiều mang dấu ấn phông nền văn hóa của tác giả. Lựa chọn viết cho thiếu nhi, Phan Thị Thanh Nhàn đã để lại dấu ấn trong lòng độc giả bởi những câu chuyện giản dị mà lôi cuốn qua từng biến động của cuộc đời nhân vật trên từng trang sách. Với năm tác phẩm dành cho thiếu nhi, chúng ta không khó để nhận ra hành trình sáng tạo của nhà văn chính là hành trình trở về với cội nguồn văn hóa, văn học dân gian. Hình ảnh những em bé mồ côi chịu thương chịu khó, chăm ngoan và hiếu thuận, những em bé thông minh, những người bà nhân hậu và giàu đức hi sinh… trong những câu chuyện cổ tích, truyện cười mãi là hình ảnh đẹp với bất kì ai và nó thực sự là nguồn cảm hứng, là sự ám ảnh không nguôi đối với những người cầm bút. Viết cho thiếu nhi, Phan Thị Thanh Nhàn cũng xây dựng cho tác phẩm của mình một hệ thống nhân vật trẻ em mang dáng dấp những số phận và tính cách của những nhân vật trẻ em trong cổ tích. Đó là Thi mồ côi mẹ, bố đi lấy vợ khác; là Nụ mất mẹ bởi bom đạn của chiến tranh; là Côi không biết bố mẹ ruột của mình là ai; là Thu, Vương, Hiên, Hoa, Thái, Luân… dù còn cha còn mẹ nhưng cũng chẳng khác gì mồ côi bởi sự tan vỡ của gia đình...; điểm chung của các em là luôn khao khát một mái ấm gia đình, được che chở và yêu thương. Đó còn là những em bé luôn chăm ngoan học giỏi, và dù cuộc đời với những biến cố đã xô đẩy các em vấp ngã thì cuối cùng các em vẫn vươn lên, hướng về những giá trị nhân văn để tự hoàn thiện tâm hồn mình. Những câu chuyện của Phan Thị Thanh Nhàn còn tạo nên sự thú vị cho bạn đọc bởi những tình tiết vui nhộn xoay quanh sự nghịch ngợm, lém lỉnh của các em - những cô bé cậu bé thông minh như trong cổ tích, trong truyện cười dân gian. Là sự dũng cảm của Gái trong Xóm đê ngày ấy khi một mình vật lộn với vợ chồng kẻ gian để lấy lại tài sản cho mẹ bạn. Là sự thông minh, mưu trí của nhóm bạn Nghĩa, Vương, Loan với hành trình tìm cách bảo vệ và giải cứu bạn trong Học trò lớp 9

Khi viết về đề tài thiếu nhi, khắc họa những nhân vật với những số phận, những biến cố, trắc trở, và tạo dựng cái kết cho từng tác phẩm, ngoài sự ảnh hưởng từ nền văn hóa, văn học dân gian, phải chăng còn là do những gì mà cuộc đời của bà đã từng nếm trải. Tác giả Phan Thị Thanh Nhàn từng tâm sự: “Tôi đã quan sát, ghi chép và cặm cụi ngồi viết lại những gì tôi cảm nhận, suy tư và xót thương số phận của những trẻ em không may mắn”. Ngoài ra, trong sáng tác của Phan Thị Thanh Nhàn, những phong tục, tập quán dân gian hiện lên sinh động, chân thực. Trong Xóm đê ngày ấy, tác giả đặc biệt tỉ mỉ tả cảnh hầu đồng tại nhà của bà đồng Toàn: “Trên chiếc chiếu hoa trải dưới chân điện thờ, bà đồng Toàn chân đi giày vải thêu hoa, tay cầm quạt lụa, nhún nhảy hết sang phải lại sang trái ra bộ đang chèo đò”. Hay phong tục tang ma cũng được nhắc đến trong Bỏ trốn khi mẹ và bà cái Thi mất: “Mùi hương nến ảm đạm. Trong nhà có bàn thờ, hình mẹ nó treo ở trên, xung quanh mờ mịt khói nhang cùng hoa quả”.

2. Phan Thị Thanh Nhàn khéo léo xây dựng những hình tượng nhân vật có những phẩm chất tốt đẹp là kết tinh những giá trị tâm hồn người Việt. Đó là bà ngoại của cái Thi trong Bỏ trốn, khiến chúng ta liên tưởng đến người bà trong truyện cổ tích Bà cháu, là hiện thân của sự bao dung, nhân hậu, giàu lòng vị tha. Bà chắt chiu, yêu thương và hết mực lo lắng cho đứa cháu côi cút. Đến lúc sắp lìa đời, nỗi bận tâm duy nhất của bà vẫn là đứa cháu bé bỏng gặp nhiều bất hạnh. Bà của Hiên trong Đứa bé mất cha cũng thế, ở tuổi xế chiều, trước sự tan vỡ gia đình của con trai, điều bà lo lắng chính là đứa cháu trai đang phải đối mặt với cú sốc quá lớn. Bà của Nụ trong Tuổi trăng rằm dù chỉ được nhắc đến với vài câu văn ít ỏi trong toàn bộ tác phẩm nhưng vẫn có thể làm nhói lòng người đọc bởi những dằn vặt về nỗi đau mất cháu đã nhiều năm. Dường như trong những trang viết của Phan Thị Thanh Nhàn, hình ảnh người bà là hiện thân của những người bà trong cổ tích bước ra để yêu thương những đứa cháu của mình cho đến hết cuộc đời.

Trong Học trò lớp 9, bố của Nghĩa là người cha hết mực thương con (“Con tôi không được bình thường. Nên tôi thương nó hơn thương chính mình”) và cũng rất yêu vợ (“Vợ tôi phải cái nói nhiều. Nhưng mà vẫn cứ… đáng yêu như thường”). Mẹ của Nghĩa là người đàn bà yêu chồng yêu con, dù nghèo nhưng giàu lòng tự trọng (“Bà dù nghèo nhưng quyết không tiêu tiền của người khác”). Bố mẹ Nghĩa như là một minh chứng cho những câu tục ngữ “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Đói cho sạch rách cho thơm”, như là kết tinh giá trị tốt đẹp của tâm hồn Việt. Chính những giá trị ấy quyện vào trang viết của Phan Thị Thanh Nhàn, một lần nữa tỏa sáng và có sức cảm hóa mạnh mẽ, vì thế mà khi đọc truyện của bà, người đọc, đặc biệt là bạn đọc nhỏ tuổi không có cảm giác mình bị “dạy dỗ” về bài học làm người, về đạo lí tốt đẹp của dân tộc một cách cứng nhắc, giáo điều. Người đọc như được hóa thân vào nhân vật để tự cảm, tự thấm những giá trị nhân văn ấy nhằm dần hoàn thiện nhân cách.

3. Khảo sát những trang viết của Phan Thị Thanh Nhàn dành cho thiếu nhi, kết quả đáng ngạc nhiên là những chất liệu dân gian với những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca, vè, câu đố… được tác giả lồng vào trong tác phẩm của mình một cách vừa vặn, phát huy hiệu ứng thẩm mĩ của nó, làm tăng giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Có những câu tục ngữ, những thành ngữ được sử dụng nguyên văn như “Con gái cái bòn”,  “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”, “Đói ăn vụng túng làm càn” (Bỏ trốn); “Con gà tốt mã vì lông”, “Nhường cơm sẻ áo”, “Nem công chả phượng” (Xóm đê ngày ấy). Có những câu ca dao, bài vè được lồng vào truyện như trong các tác phẩm Bỏ trốn, Xóm đê ngày ấy và Đứa bé mất cha. Câu đố và cách chơi chữ, vận dụng ca dao cũng xuất hiện trong tác phẩm của Phan Thị Thanh Nhàn khá nhiều: “Qua cửa sổ/ Đến cửa sắt/ Phơi chiếc tã/ Mãi không khô/ Là cái gì?” (Bỏ trốn); “Mặt Đường bẩn quá Đường ơi!” (Tuổi trăng rằm). Phan Thị Thanh Nhàn sử dụng chất liệu dân gian phù hợp với hoàn cảnh, tính cách của nhân vật. Ví như bà cái Thi bảo: “Đói ăn vụng túng làm càn”, câu nói đó phải là của một người bà giàu lòng bao dung và trải đời. Và những câu như “Con gái cái bòn”, “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng” cứ phải đặt vào miệng người chị dâu ích kỉ luôn khắc nghiệt với em chồng thì mới phát huy hết sức nặng của nó. Tương tự, những câu đố, câu vè, những câu thơ mang âm hưởng đồng dao và cách chơi chữ lại phù hợp với lứa tuổi hiếu động thích khám phá thế giới. Chính vì chất liệu dân gian được sử dụng với dung lượng vừa phải đan xen vào tình tiết cốt truyện một cách hợp lí, đúng hoàn cảnh, đúng đối tượng như thế nên đã phát huy giá trị của nó trong việc góp phần khắc họa tính cách tâm hồn nhân vật. Giọng điệu tác phẩm vì thế cũng gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày, không tạo cảm giác xa lạ, hàn lâm đối với lứa tuổi thiếu nhi. Những bài học nhân sinh từ tác phẩm nhờ thế mà thấm dần vào tâm hồn trẻ thơ một cách tự nhiên, không gượng ép.
*
*    *

Có thể nói, đưa chất liệu dân gian vào những trang viết dành cho thiếu nhi là cách để Phan Thị Thanh Nhàn góp phần đưa bạn đọc nhỏ tuổi trở về với cội nguồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Dấu ấn dân gian trong truyện thiếu nhi của bà tạo nên thế giới nghệ thuật mang điệu hồn dân tộc, làm nên bản sắc riêng cho mảng đề tài truyện viết cho thiếu nhi của bà. Năm tác phẩm dành cho thiếu nhi, con số chưa nhiều lắm nhưng cũng đủ để ghi dấu cho một phong cách với những trang văn chân thực, trong sáng, nhân văn và mang đậm phong vị dân gian của Phan Thị Thanh Nhàn.

MỘC MIÊN
Nguồn: VNQĐ

Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018

NHÀ THƠ HOÀI VŨ: SAU NHỮNG BÀI THƠ LÀ NHỮNG BÓNG HỒNG

Từ phải sang, các nhà thơ: Hoài Vũ, Văn Lê, Phan Hoàng

Vào Sài Gòn, hay tin vợ nhà thơ Hoài Vũ bất ngờ phải đi bệnh viện cấp cứu, tôi thấy buồn và nghĩ: Biết đâu, mình đã bị lỡ một cơ hội gặp ông? Nhưng rồi thì mọi chuyện cũng êm. Sau khi vợ ông được đưa về điều trị tại gia, Hoài Vũ cho tôi một cái hẹn. Và tôi coi đây là một cơ may.

1. Tôi nhớ Hoài Vũ qua nhiều bài thơ của ông là ca từ trong nhiều ca khúc nổi tiếng của nhiều nhạc sĩ danh tiếng như Trương Quang Lục, Phan Huỳnh Điểu, Thuận Yến… Đó là “Vàm Cỏ Đông”, “Anh ở đầu sông em cuối sông”, “Đi trong hương tràm”, “Chia tay hoàng hôn”… Trong đó, tên hai bài thơ: “Vàm Cỏ Đông” và “Đi trong hương tràm” cùng tên với hai ca khúc, còn “Miền hạ” được đổi thành “Anh ở đầu sông em cuối sông”, “Hoàng hôn lặng lẽ” được đổi thành “Chia tay hoàng hôn”. Riêng “Chia tay hoàng hôn”, phải gặp được Hoài Vũ, tôi mới hay: Ông là tác giả phần ca từ.

Trong ca khúc nói chung, nhất là khi đã đồng tác giả, có lắm khi tên của nhạc sĩ lấn át tên của thi sĩ, là thế. Hoặc giả cũng có trường hợp: Hát riết, giới thiệu riết trên báo nói và báo hình, có thể do phần lười biếng hoặc xao nhãng nào đó, người ta quên luôn tên người là cha đẻ của ca từ.

Nhân đây, cũng xin nhắc đến một chuyện vui vui. Cách nay dăm bảy năm, có một lần tôi tham dự một trại sáng tác ở Cao Bằng. Khi xuống giao lưu với học sinh ở một trường trung học phổ thông, cho dù trong đoàn có nhiều nhà văn, nhà thơ có tiếng, nhưng các em chỉ nhớ “Hương thầm” của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn và “Dòng sông phẳng lặng” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ.

Hỏi: Tại sao vậy? Một số em trả lời: Vì chúng cháu nghe ca khúc này trên đài và xem phim này trên truyền hình. Vậy là cái phần “nghe”, phần “xem” có tác động hơn hẳn phần “đọc”. Và sở dĩ các em còn nhớ được là vì hai tác phẩm này, một đã lên nhạc và một đã lên phim. Nêu thế để thấy cái ưu thế bề nổi, bề mặt đương nhiên của âm nhạc và điện ảnh trước văn chương.

Trở lại với bốn bài thơ đã nêu trên của Hoài Vũ. Ngay từ thuở thiếu thời và cho đến khi đã nhiều tuổi, tôi vẫn cảm nhận được sự rung động xốn xang, sự xúc động lắng sâu đầy tâm cảm từ chúng.

Mà không rung động, xúc động sao được sau mỗi lần đọc: "Ở tận sông Hồng em có biết/ Quê hương anh cũng có dòng sông/ Anh mãi gọi với lòng tha thiết? Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông"; "Anh ở đầu sông em cuối sông/ Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông/ Thương nhau đã chín bao mùa lúa/ Chưa ngày gặp lại, nhớ mênh mông"; "Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu/ Có nỗi thương đau, có niềm hy vọng/ Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng/ Hương tràm bên anh mà em đi đâu?"; "Anh phải về thôi, xa em thôi!/ Ngoài kia phiên chợ vãn lâu rồi/ Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc/ Mà lời từ biệt chẳng lên môi…".

 Thơ ấy là thơ của một người lấy cảm xúc chân thành làm thế mạnh và cũng nhờ thế mà những cảm xúc chân thành được thăng hoa một cách tự nhiên. Thơ ấy cũng là thơ của một người không làm dáng, làm điệu và không màu mè, vô hình trung đã rút ngắn đến không còn khoảng cách khi trái tim đến với trái tim.

2. Hoài Vũ nói rằng: Nhiều thi phẩm của ông đều có và đều thấp thoáng những bóng hồng. Hay nói cách khác: Hầu hết thi phẩm của ông đều có gốc gác từ những  bóng hồng ở các không gian khác nhau, hoàn cảnh cụ thể khác nhau.

Ông kể: “Trước năm 1968, đang trên đường đi công tác thì bị địch bất ngờ tập kích. Có hai chiến sĩ bảo vệ hy sinh, còn mình tôi thoát chết. Bị dồn vào đường cùng, tôi liều chạy vô một ấp chiến lược. Từ trong bụi ô rô chui ra, tôi hét to: “Có nghe tiếng súng nổ không? Tôi là người trong cuộc đây! Mong được cứu giúp!”. Rồi tôi được hai người con gái, một tên Duyên, một tên Hạnh che chở, cưu mang một đêm một ngày.

Chỉ sau này tôi mới biết cả Duyên và Hạnh đều là du kích nằm vùng, là đồng chí của mình. Khi chia tay, tôi đã gửi sự tri ân của mình bằng bài thơ “Hoàng hôn lặng lẽ”, trong đó có hai câu: "Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc/ Mà lời từ biệt chẳng lên môi". Sau này, tôi đã viết lại chuyện này khá kỹ trong hồi ký “Kỷ niệm thức dậy” đấy”.

Ông kể: “Năm 1968, khi theo đại quân vào Sài Gòn, không may tôi bị sốt rét, đành phải nằm lại Trạm giao liên Đồng Tháp Mười. Tại đây, tôi đã gặp 5 – 6 nữ giao liên. Tôi đặc biệt có cảm tình với một cô tên là Lan. Đến năm 1971, khi tôi quay lại thì cả rừng tràm đã xác xơ vì bom đạn tàn phá và rất buồn khi biết tin Lan đã hy sinh. Một đêm, cảm xúc đau xót và mất mát ùa ra, tôi viết ngay được bài thơ “Đi trong hương tràm”, trong đó có hai câu: "Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng/ Hương tràm bên anh mà em đi đâu?".

 Ông kể: “Hồi ở R., năm 1969, tôi mê một nữ đồng đội có đôi mắt đẹp đến hút hồn và hằng ngày, chỉ nhìn thấy dấu chân của em thôi, đã thấy nhớ. Có lúc tôi đã thầm ghen với đất. Rồi tôi viết rất nhanh bài “Nhớ” với tình cảm thật trong niềm si mê vụng dại, trong đó có mấy câu: "Đất vui nhiều lắm đất/ Nhớ chia ta một lần/ Để tim này như đất/ Đường in lên bàn chân…/ Đất ấm tình người xới/ Mà dấu chân em đâu?".

Sau khi nhận được bài thơ tôi tặng, theo lời nữ nhà thơ Lê Giang, người ấy đã “trùm mền, đọc thơ và khóc cả đêm”. Sau đó, cổ bị địch bắt, bị đi đày tận Côn Đảo, mà sau 1975 gặp lại, vẫn giữ bản thảo bài thơ đã úa vàng như là kỷ niệm của tôi một thuở”.

Ông kể: “Cách nay hai thập kỷ, tôi có bài thơ “Người đẹp Hàng Châu” đăng trên Tạp chí Văn nghệ Chiết Giang (Trung Quốc). “Người đẹp Hàng Châu” ra đời từ một “thi cảnh” hết sức bất ngờ. Bữa ấy, khi đi tàu hỏa từ Thượng Hải đến Hàng Châu, tôi may mắn được ngồi cạnh một người đẹp. Tự nhiên tôi thấy “đã” và như cảm được vẻ đẹp lộng lẫy của một người xa lạ.

Sau khi về nước, chúng tôi đã liên lạc với nhau qua thư từ. Có lần, khi đi tháp tùng phái đoàn thăm và làm việc tại Trung Quốc của Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Võ Trần Chí, y hẹn, tôi đã gặp lại cô ấy ở Hàng Châu và chúng tôi đã coi nhau như hai người bạn có “duyên kỳ ngộ” với nhau”.

Còn những chuyện liên quan đến bóng hồng thông qua thơ của Hoài Vũ, cũng không thiếu. Trong lúc trò chuyện với tôi, ông nhắc đến một cô gái dạy văn ở một trường học phổ thông Xứ Thanh mê hát bài “Vàm Cỏ Đông” đến nỗi đồng nghiệp toàn gọi cô là “cô Vàm Cỏ Đông” như một biệt danh. Sau 1975, “cô Vàm Cỏ Đông” có vào tận Sài Gòn tìm Hoài Vũ.

3. Hoài Vũ tập kết ra Bắc từ năm 1954 khi 18 tuổi. Ông từng khai thêm một tuổi để đủ tuổi đi du học Bắc Kinh và đến năm 1962 thì về nước. Đầu năm 1963, ông cùng những văn nghệ sĩ: Trần Đình Vân, Ngô Y Linh, Kim Chi, Hồng Sến, Thái Ly… vào chiến trường B để tham gia hoạt động văn học tại chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Ông từng làm việc ở nhiều nơi: Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Báo Nhân dân, Đài Phát thanh giải phóng, Báo Văn nghệ giải phóng, Báo Văn nghệ, Báo Sài Gòn giải phóng… Ông từng là Tổng biên tập Báo Văn nghệ giải phóng, Phó Tổng biên tập Sài Gòn giải phóng, Tổng biên tập Tạp chí Nhịp sống Sài Gòn, Trưởng đại diện đầu tiên của Báo Văn nghệ tại TP Hồ Chí Minh. Có dạo, ông là trợ lý của Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Võ Trần Chí, là Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh.

Hoài Vũ sinh năm 1935, tên khai sinh là Nguyễn Đình Vọng, người quê gốc Quảng Ngãi. Ông chọn Sài Gòn là quê hương thứ hai đã trên 40 năm nay. Tính đến nay, ông đã xuất bản 6 tập thơ, 5 tập truyện và 6 tập truyện dịch từ các tác phẩm văn học Trung Quốc. Ở tuổi 82, Hoài Vũ vẫn hiền hòa, dễ mến, dễ gần gũi như những bài thơ của ông. Khi tiếp xúc, tôi cảm nhận được sự ấm áp, sự thân thiện từ cái bắt tay đến cái nhìn nơi ông.

Khi suy nghĩ về nghề văn, ông viết: “Tôi viết văn, làm thơ với niềm đam mê không bao giờ vơi cạn. Hạnh phúc lớn nhất đến với người cầm bút là dẫu năm tháng đi qua, người đọc vẫn nhớ đến tác phẩm của mình như nhớ đến một hình bóng thương yêu thoáng qua đời họ”.

Khi tôi hỏi: “Thế chú nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật khi nào?”. Hoài Vũ trả lời: “Đã nhận bao giờ đâu. Lâu lắm rồi, mình có một lần làm hồ sơ gửi ra ngoài ấy. Không thấy ai nhớ đến mình và mình cũng quên chuyện này từ lâu rồi”.

Khi tôi hỏi: “Vàm Cỏ Đông là ca khúc nổi tiếng thời chống Mỹ mà chú và nhạc sĩ Trương Quang Lục là đồng tác giả. Hẳn hai người phải gắn bó với nhau lắm?”, Hoài Vũ lắc đầu: “Ai cũng tưởng vậy mà không phải vậy. Bài thơ này của chú đăng trên Báo Văn nghệ khoảng cuối năm 1963 đầu năm 1964. Đến năm 1966 thì anh Trương Quang Lục phổ nhạc. Nghe đâu hồi ấy ảnh là kỹ sư ở Nhà máy Supe phốt phát gì đó và cũng là người đồng hương với mình. Từ đó đến nay, mình chưa có dịp nào được gặp ảnh. Thật tiếc!”. 

ĐẶNG HUY GIANG
Nguồn: VNCA

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2018

PHẠM SỸ SÁU & CẢM THỨC NHÂN SINH

Giữa đám đông những người viết văn làm thơ, không khó để nhận ra một người đàn ông tóc hớt cao, bụng hơi phè ra dáng quan, nhưng đôi mắt nếu nhìn vào sâu một chút lại thấy có chút gì rụt rè.

Người đàn ông đó là nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, hiện là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Anh sinh năm 1956 tại huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Trước khi trở thành nhà thơ, Phạm Sỹ Sáu đã có một thời gian chừng mười năm tham gia quân ngũ, còn trước đó nữa là sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn.
Nhà văn Cao Chiến và nhà thơ Phạm Sỹ Sáu ở chiến khu Đ - 8.2017

Một ngày giữa tháng 8 năm 2017, anh tặng tôi tác phẩm mới nhất của mình, trường ca “Giữa ngày và đêm”, do Nxb Văn hóa - Dân tộc ấn hành. Trường ca này, như lời đề từ ở đầu trang của Phạm Sỹ Sáu, anh viết để “Thương yêu tặng những người thân yêu của đồng đội và tôi”.

Sau tác phẩm đầu tay “Hãy mở lòng ra mùa thu tới” (Thơ, Mây Biển, Đà Nẵng, 1973) viết ở tuổi học trò, những năm tháng sau đó những “Khúc ca vào chiến dịch” (Ký sự thơ, in chung, NXB Văn Nghệ & báo Tuổi Trẻ, TP.HCM, 1981); “Điểm danh đồng đội” (Thơ, NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1988); “Ra đi từ thành phố” (Trường ca, NXB Trẻ, TP.HCM, 1994); “Chia tay cửa rừng” (Thơ NXB Trẻ, TP.HCM, 2002); “Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ” (Thơ, NXB Trẻ, TP.HCM, 2004); “Thơ với tuổi thơ” (Thơ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2005); “Khúc ca đồng đội” (Thơ, NXB Trẻ, TP.HCM, 2008); “Giữa ngày và đêm” (Trường ca, NXB Văn hóa Dân tộc) của Phạm Sỹ Sáu nối nhau ra đời. Và anh cũng giành được khá nhiều giải thưởng văn chương.

Trong bài viết này tôi chỉ xin giới hạn trong phạm vi tác phẩm “Giữa ngày và đêm”. Thực sự là tôi không mấy chú trọng tới cái gọi là lớp lang bởi với một người viết có nghề như Phạm Sỹ Sáu thì đó là đương nhiên, mà chỉ dành sự quan tâm một thứ duy nhất rằng gan ruột tác giả hòa điệu với đồng đội của mình và với chính mình thế nào qua thơ. Thơ Phạm Sỹ Sáu nói chung và trường ca “Giữa ngày và đêm” nói riêng, hầu như chỉ nói về người lính, kể cả đôi bài có tí gọi là thế sự thì ẩn bên trong vẫn là một nhiệt huyết của người lính.

Người chưa cầm súng có thể vẫn có những trang viết rất hay về người lính, nhưng đọc một cách kỹ lưỡng, vẫn phảng phất nhận ra họ không phải là lính. Chủ quan tôi cho rằng chỉ khi người ta thực thụ xông pha, đi qua sinh tử cận kề thì lúc ấy cái gọi là chất lính mới thành máu thịt. Giữa đám đông, từ lối đi đứng, khẩu khí, giọng điệu, không quá khó để nhận ra họ. Phạm Sỹ Sáu với bản trường ca “Giữa ngày và đêm” là một trường hợp có dáng dấp như vậy. Tình cảm anh dành cho đồng đội thật ấm áp.

“Ba lô hai mươi ký nặng vai/Thở hì hà hì hục/Mồ hôi đẫm áo như vá chằng vá đụp/Mồ hôi rơi nhòe tóc, ướt lông mày/Mồ hôi tràn ướt đẫm cả chân tay/Những chàng trai không quen lửa đạn/Những chàng trai chiến trường chưa có ngày dày dạn/Lại vào rừng, vào rừng/Về với đồng bưng, trảng nước”

“Sau những ngày đội nắng trên đầu như chảo lửa/Chúng tôi bước vào một mùa mưa ngập ngụa/Một mùa mưa như chưa gặp bao giờ/Không phải mùa mưa của ký ức tuổi thơ”

“Khắp nam bắc tây đông ở đâu cũng một màu vàng rực/Cái màu vàng làm những người lính tức ngực/Cái màu vàng làm người lính nôn nao”

“Nắng xua tan những sương mù/Liếm môi trên lá có thu được gì”

Trường ca “Giữa ngày và đêm” của Phạm Sỹ Sáu

Có thể nhận thấy ngôn ngữ ở đây rất mộc, chẳng ví von, cũng chẳng có gì gọi là ẩn ý cao siêu, ai đọc cũng hiểu. Thậm chí, nếu bỏ đi các dấu ngắt thì có thể biến thành một câu văn. Nhưng nói vậy mà không phải vậy. Không ở rừng, không có những ngày đội đầu đi dưới chảo lửa, và trong một khoảnh khắc không đắm hồn vào trong tứ bề một màu vàng rực thì chẳng thể nào cất lên nổi những câu thơ như thế. Cái chất tôi gọi là mộc của ngôn ngữ trong thơ Phạm Sỹ Sáu là thứ muối mặn gừng cay, ngỡ tưởng nhộn nhạo nhưng nuốt thì chất đằm thắm đọng lại mãi.

“Cơm nầy cơm của ơn trời/Cơm nầy cơm của ơn đất/Cơm nầy cơm của ơn Phật/Ăn vào phải nhảy múa thôi/Ăn vào phải ra đồng rồi/Ăn vào xuống sông bắt cá”

“Con gái giờ đã căng đầy/Sau những ngày cơm có cá”

“Đẩy đưa, ấm no, rậm rực/Nghe trong bầu ngực tức tức/Nghe trong lòng đang sục sôi/Lấy chồng thôi, cưới chồng thôi”

Sự hồi sinh vô cùng mãnh liệt của cuộc sống được Phạm Sỹ Sáu diễn tả rất tài tình. Cũng vẫn là thứ ngôn ngữ mộc xuyên suốt ấy nhưng giờ biến hóa, giàu nhạc điệu của trống của lửa, khiến cho người đọc cuốn vào rậm rực muốn nhảy dựng lên. Có thể nói đây là ngôn ngữ riêng của thơ Phạm Sỹ Sáu, không chỉ bởi hiện thực anh trải nghiệm, mà tôi cho rằng những điệu ru câu hát của miền ấu thơ đã thấm một cách vô thức, và như bản năng bởi ngữ cảnh bật ra trong tác phẩm của mình, tươi rói lên.
  
Nhưng đôi chỗ, chủ quan tôi cho rằng Phạm Sỹ Sáu đi trượt ra khỏi hệ ngôn ngữ mang sắc thái riêng của mình. Cùng nói về tâm trạng khát khao, nhưng hai câu tôi dẫn ra đây đích thị là của Phạm Sỹ Sáu: “Ôi ánh mắt nhìn chi mà tha thiết/Để lính con trai cứ ngỡ của riêng mình”; “Những thằng lính chưa được làm đàn ông cứ tiếc dài dài/Giá mà biết trước thì làm liều một cái/Để lỡ có hy sinh không còn thây thì cũng không thấy ngại/Khi biết chút mùi đời ở tuổi mười chín đôi mươi/Để biết ôm một vòng ôm ấm ngực với núi đồi/Với tóc mượt, với môi hồng con gái”. Còn câu này, thì có hơi hướm đi ghé: “Nhớ một làn môi, một mái tóc buông mềm/Một bóng dáng của người đâu xa lức/Một bóng dáng vẫn theo mình đánh giặc/Để đêm mơ thành… chiến sĩ… phòng không”. Tôi mạo muội nói là đi ghé bởi Phạm Sỹ Sáu có thể né ngọn núi “Tây tiến” sừng sững của Quang Dũng với “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Nhưng, điều tôi muốn nói về thơ Phạm Sỹ Sáu, chính xác hơn là đôi cảm nhận về  trường ca “Giữa ngày và đêm” của anh không phải là những thứ ở trên, dù rằng với một nhà thơ thì bây nhiêu vốn liếng cũng có thể coi là khá ổn dưới bầu trời thi ca. Nhiều năm về trước, ở Nha Trang có một rạp chiếu phim, được dựng lên cho một cuộc liên hoan phim Việt Nam. Thời gian này tôi đang đi biệt phái, căn bản là tự mình quản lấy mình. Ở đấy, cứ rảnh là chui vô rạp. Có một phim, nếu tôi nhớ không lầm được chuyển thể từ một cuốn tiểu thuyết của ông nhà văn Trần Văn Tuấn, có hình ảnh dòng người di trú coi rất xúc động. Bất chợt tôi nhận ra sự sẻ chia về kiếp người trong cõi nhân sinh. Trường ca “Giữa ngày và đêm” của Phạm Sỹ Sáu có những dòng thơ đã chạm khẽ nơi chốn ấy. Thơ của anh, ở những dòng này như bị nhập đồng, là tôi thấy thế, hớn hở, náo nức, khóc cười.
  
“Quê xưa đã xa ngút ngàn/Quê xưa giờ đã tan hoang hết rồi/Chi bằng bèo giạt mây trôi/Cứ theo về hướng có người dừng chân/Phum ven đường, phum xa xăm/Khi chân đã mỏi thì thân nhân là/Người đồng hành quãng đường xa/Chia nhau miếng nước, miếng cà, miếng canh/Chia nhau miếng đường để dành/Chia nhau cả những tâm tình, chia nhau/Nhận thân nhân, nhận đồng hao/Nhận chung phận kiếp dãi dầu từng qua/Trở về, giờ trở về nhà/Không còn ai, miễn còn ta, còn mình/Còn người chung kiếp nhân sinh/Bắt tay xây dựng đời mình từ đây”

“Mai sau có dịp đi tìm/Về nơi chốn cũ thì xin nhớ rằng/Một thời chiến trận khó khăn/Một thời sống chết tim hằn nỗi đau”

Còn nhiều câu thơ hay, và cũng còn nhiều nỗi niềm Phạm Sỹ Sáu gửi gắm trong tác phẩm, thiết nghĩ tốt nhất là để bạn đọc tự khám phá. Để có thể đi tới cảm thức nhân sinh, để hồn vía kiếp người quyện vào trong hồn vía mình và đơm hoa, thì với một người cầm bút, tài năng và nghệ thuật dùng chữ chỉ là một yếu tố mang tính kỹ thuật. Khi đối diện với thân phận người, phải có một day dứt và sẻ chia đủ sâu sắc mới khiến cho câu thơ có hồn. Trong một chừng mực nào đó, với trường ca “Giữa ngày và đêm” Phạm Sỹ Sáu đã có được phẩm chất ấy.    

TP Hồ Chí Minh 18.9.2017
CAO CHIẾN
Nguồn: NVTPHCM

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

LÊ CÔNG SƠN & RĂNG MÀ THƯƠNG MÀ NHỚ

Trong những người viết báo trẻ hiện nay, tôi đã nhìn thấy ở đồng nghiệp Lê Công Sơn tố chất của một người luôn nỗ lực “vượt lên chính mình”. Anh từng bước tiếp cận với nhiều mảng đề tài gai góc về văn hóa, văn nghệ. Và đã có những bài viết công phu, cố gắng chuyển tải thông tin mới học thuật mà anh chịu khó ghi chép, cảm nhận, phản ánh với tư cách một nhà báo. Âu cũng là một tín hiệu đáng mừng, khi Lê Công Sơn - một nhà báo vẫn còn giữ được tư duy ngày đang mất dần: “Đi và viết”.
Nhà báo Lê Công Sơn tặng sách cho nhà nhiếp ảnh Giản Thanh Sơn

Với Lê Công Sơn, trong quá trình tác nghiệp ấy, sau khi thể hiện qua nhiều, rất nhiều bài báo mang hơi thở thời sự, anh còn viết cho riêng mình. Đó là những cảm xúc bất chợt ùa về như gió gọi mùa sang, từ sâu thẳm tâm hồn anh đã bật lên những giai điệu mới. Nói cách khác, anh thủ thỉ với chính anh qua thơ, văn. Những câu thơ đôi lúc trầm lắng đến nao lòng:

Thèm về quê. Đã về quê
Ngồi nghe tiếng quẫy cá trê, ao nhà

Âm thanh thân thiết ấy, sao lại là một ám ảnh không nguôi? Phải chăng cũng là một hoài niệm về ký ức tươi đẹp đã xa xăm, đã mất? Trong thơ anh, có nhiều âm thanh vọng lên, có lúc là tiếng ru chứa chan tình phụ tử:

Ầu ơ… tiếng ru nôi
Đưa con vào giấc ngủ
Ví dầu cầu ván cũ
Trang vở Mây đầu đời…

Thơ, chính là lúc phản chiếu tâm trạng của chính mình. Có thể là lúc:

Đưa tay vuốt vội mái đầu
Nhặt thời gian… sợi tóc sâu, giật mình

Ai lại không từng trải qua tâm trạng thản thốt này? Đó là một trong những câu thơ hay của anh. Mà không chỉ có thơ, trong tập tản văn Răng mà thương mà nhớ… còn có những áng văn xuôi, ngắn ngắn, gẫy gọn những cảm xúc bất chợt. Khi đọc, có lúc ta bùi ngùi, cảm động nhưng lại cũng có khi phải tủm tỉm cười. Sao lại không cười, khi anh chàng nọ được “tự do” vì vợ ốm nghén phải về quê cả tháng.

Ừ, sướng nhất là không bị vợ cằn nhằn nữa. Cô ấy cằn nhằn những gì? “Khuya đi làm về mệt mỏi cũng phải “lết” vào buồng tắm kẻo không hôi hám vợ sẽ cho... ngủ đất. Mệt mỏi nhất là vụ... nghiến răng và ngáy…”. Lúc ấy, “Theo quy ước, mỗi lần tôi nghiến răng hoặc ngáy, vợ lại nhỏm người dậy... bóp mũi để tôi biết. Nửa đêm đang mệt, tư dưng nghe có ai bóp lỗ mũi đến ngộp thở, nhiều lần tôi toát mồ hôi hột. Giật mình mở mắt ra thấy ánh mặt nghiêm khắc của vợ, biết “lỗi”, tôi nín thin thít”.
Tập Răng mà thương mà nhớ của Lê Công Sơn

Vậy, thời gian vợ vắng nhà, khỏe re chứ gì? Đã thế lại được tha hồ nhậu nhẹt. Lê Công Sơn kể tiếp: “Đang say sưa men chiến thắng ở quán thịt rừng trong tiếng cụng ly dô dô tán thưởng của bạn bè, tự dưng máy điện thoại đổ chuông hiện lên chữ... “bà xã yêu”, buộc tôi phải phi vào... toilet ngay: “Anh đang ở đâu vậy?, Làm gì mà tui gọi đổ chuông hoài anh không nhấc máy?”.“Em thì lúc nào cũng rần rần hà. Anh đang ngủ chứ làm gì đâu, tại máy điện thoại anh để trong hộc bàn nên vậy chứ gần sáng rồi, đi đâu...” - tôi ngập ngừng. Bỗng, tiếng vợ nhẹ nhàng như tha thiết trong điện thoại: “Anh đang nhậu phải không, mau mau lấy xe về nhà mình đi, tui nhớ anh quá nên tui ở quê phải vào nằm chờ anh về nghe ngáy, nghe nghiến... bóp mũi mới ngủ được nè?”.

Câu kết thâm trầm và ý vị quá đi thôi. Lê Công Sơn đã biết khai thác thế mạnh của sự duyên dáng ấy ở nhiều đoản văn khác, khiến bạn đọc ưng ý và cười một phát, há cũng là cái thú của Răng mà thương mà nhớ.

Sau tập sách đầu tay này, với những gì đã đọc, tôi nghĩ rằng, sẽ còn có thêm nữa những trang viết mới của Lê Công Sơn. Sao lại không? Hãy nghe anh tâm tình:

Chân trời ở phía bên tê,
Lang thang một cõi đi về… xa xăm

Ấy là lúc cảm hứng lại ùa đến. Chúc mừng Lê Công Sơn đã có những bước “đi-về” đầy ấn tượng trong tập sách này.

7.2018
LÊ MINH QUỐC
(Lời tựa tập sách Răng mà thương mà nhớ
của Lê Công Sơn, NXB Hội Nhà văn 2018)

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2018

NHÀ THƠ KIÊN GIANG: HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM

Nhà văn Sơn Nam tinh tế khi viết: "Một cuộc đời lăn lóc, chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu hổ với đất nước. Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi".
Nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà

Nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà là người làm thơ tình chân quê Nam bộ hiếm hoi còn sót lại ở thiên niên kỷ thứ ba này. Đọc thơ ông là thấy cả tuổi thơ ấu ở miệt vườn, gánh hát cúng đình, ngọn khói đốt đồng, nghe văng vẳng tiếng xe trâu lốc cốc… Có lần ngồi quán cóc ông buột miệng đọc bốn câu ca dao:

    Lồng đèn treo cột đáy
    Nước xoáy lồng đèn xoay
    Dĩa nghiêng múc nước sao đầy
    Lòng thương người nghĩa ba má rầy cũng thương

Tôi reo lên: "Hay quá! Sao không thấy in trong sách?". Ông cười, nói nhỏ: "Bà già tao đọc, ngâm nga ru ngủ hồi nhỏ, riết rồi nhập tâm".
   
Nhà thơ Kiên Giang sinh ngày 17.2.1929, tên thật là Trương Khương Trinh tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, cùng quê với nhà văn Sơn Nam. "Vốn liếng về từ ngữ người Kiên Giang rất ít, hàng ngày sống lân la với người Hoa bán tạp hoá và người Khmer làm ruộng. Ở đây có thể nói tiếng Việt không phát triển, lại thêm "tiếng lóng" mà người địa phương khác khó chấp nhận. Vốn duy nhất là ca dao được mẹ dạy cho, từ thuở ấu thơ. Vốn quan trọng hơn vẫn là cái tâm, lòng yêu nước, muốn giới thiệu tâm hồn người dân nghèo xóm mình với cả nước, cùng chia sẻ buồn vui (Sơn Nam- Cùng bạn đọc- lời tựa tập Hoa trắng thôi cài trên áo tím, NXB Văn Học 1995).
   
Ông từng tự bạch: "Năm 1943 tôi học trường tư Lê Bá Cang (Sài Gòn). Ăn cơm tháng, ở nhà trọ trên một ốc đảo đường Hàn Sanh (nay là Bạch Đằng) gần chùa Long Vân. Khi thức đêm học bài, tôi thấy và nghe hình tượng nhạc xe bò. Đêm nào đoàn xe bò ấy cũng lăn bánh ngang cửa thảo trang. Một thứ nhạc khô khan và thắm thiết, triền miên mà nức nở ngân vang từ những móng sắt vành xe. Tôi thao thức vì ghiền nghe nhạc xe bò, cố tìm những nét sống đẹp để tô điểm thành thơ. Hình ảnh một chiếc võng giăng dưới dạ xe chở phân rác, bốn móng bò mòn lẵn,  chiếc roi tơi tả, ngọn đèn chong leo lét nhất là mái tóc phong trần luôn rối tung chính là những nét sống - trong một nếp sống nghèo mà đẹp - của người mẹ đánh xe bò. Tất cả là thơ và nhạc. Tôi đã ôm ghì được vú sữa của nguồn hứng cảm nhưng chắc hẳn chỉ ghi lại được một vài góc cạnh mà thôi. 14 năm sau, kể từ năm 1943, khi trở lại xóm chùa Long Vân, tôi không tìm được nhà trọ năm nào. Nhà tường mọc lên, người cũ đi mất, chết hoặc bị xua đuổi. Năm 1993, xóm chùa, xóm Hàng Sanh đã bị xoá mất. Người cũ mất hết. Chiếc xe bò chỉ còn trong ký ức.

   Tình tang! Lốc cốc! Tang tình!
   Nhạc vang hòa khúc viễn trình đắng cay

                              (Nhạc xe bò)
  
Bùi Giáng trong quyển Đi vào cõi thơ - NXB Ca Dao 10.1969 viết: "Lành mạnh, thanh cao, vị tha và ái quốc”, ông Thiếu Sơn nói không sai một tấc một ly nào cả, khi giới thiệu thơ Kiên Giang.
  
Ông Kiên Giang tuyệt nhiên "không cầu kỳ, không giả tạo" mà đạt tới chỗ sâu thẳm nhất trong linh hồn mọi người, một cách thuần nhiên.
  
… Quê hương thơ ấu của Kiên Giang sẽ nằm trong nước Việt như Kinh thư nằm trong nước Tàu. Một quê hương bình dị thiết tha và hình như chúng ta đang đánh mất. Chỉ kêu gọi về trong những trận chiêm bao".
  
Thơ Kiên Giang có nhiều câu phổ biến rộng rãi như:

-  Ong bầu đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn

-  Ngày mai đám cưới người ta
    Cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn

-  Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương

Và trong bài thơ Tiền và lá ông đề: "Kính tặng thi sĩ Nguyễn Bính để nhớ ngày tá túc ở xóm biển Kiên Giang", có lúc bị nhầm là thơ Nguyễn Bính. Bài thơ có những câu phảng phất tâm hồn chân quê cảm động: "Bây giờ những buổi chiều êm/Tôi gom lá đốt, khói lên tận trời/ Người mua đã bị mua rồi/ Chợ đời họp một mình tôi… vui gì!".
   
Kiên Giang còn là soạn giả cải lương lừng danh cùng thời Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều- Hoa Phượng, Quy Sắc… với nghệ danh Hà Huy Hà (Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới…). Ngoài ra ông là ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn trước 1975 như Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tin Sáng…, tham gia phong trào ký giả ăn mày ngày 10.10.1974. Chính vở tuồng đầu tay của ông là Người vợ không bao giờ cưới đã tạo bệ phóng cho nghệ sĩ Thanh Nga đoạt Giải Thanh Tâm, lên hàng ngôi sao trong giới cải lương. Ông lang thang rày đây mai đó, vẫn với bộ vó giang hồ, vai mang túi xách, đầu đội chiếc nón trắng ngã mầu, cả đời lận đận với nghiệp thơ. Sống cuộc sống vất vả, lúc về hưu lui tới thường xuyên Ban Ái hữu nghệ sĩ TP.HCM ở số 133 đường Cô Bắc, mở lớp dạy đờn ca tài tử miễn phí  cho học sinh trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu, thật đúng là hình ảnh kẻ sĩ hiếm hoi trong thời buổi kinh tế thị trường.
   
Nhắc đến thơ Kiên Giang nhiều người nhớ ngay đến bài thơ nổi tiếng Hoa trắng thôi cài trên áo tím. Chị Hà Khánh Phương (chị bà con liệt sĩ Mai Thị Non- anh hùng lực lượng vũ trang tỉnh Long An) cho biết chị còn giữ bài thơ nầy in dưới dạng tờ bướm từ lúc 17 tuổi đến nay trên 40 năm.
   
Nhạc sĩ Huỳnh Anh (con trai danh cầm Sáu Tửng) phổ nhạc, nhiều thế hệ ca sĩ hát bài này như Thanh Thuý, Hoành Oanh, Giao Linh, Trường Thanh và Hồ Điệp ngâm nhiều lần trong chương trình tiếng thơ Mây Tần do Kiên Giang phụ trách trên đài phát thanh Sài Gòn. Kiên Giang cho biết: "Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944 tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH. -cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH.  đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn 'Con Tám NH. vẫn chờ mày'. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu huê kỳ. Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. Kết trước là: "Xe tang đã khuất nẻo đời/ Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu/ Từ nay tóc rũ khăn sô/ Em cài hoa tím trên mồ người xưa" thành cái kết: "Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo/ Nhưng tin có Chúa ở trên cao/ Trong lòng con giữ hoa màu trắng/ Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!"… Năm 1999, Hãng phim TFS Đài Truyền hình TP.HCM có làm phim Chiếc giỏ đời người về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH. ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là:

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ".
  
Nguyễn Văn Thức trong bài viết Vài nhận định về thơ và các nhà thơ ở  Thành phố Hồ Chí Minh có đoạn nhận xét về Kiên Giang"Một nhà thơ chỉ còn giao lưu với câu lạc bộ thơ quận là chính, Hoa trắng thôi cài trên áo tím nay chỉ còn là kỷ niệm. Đôi khi tôi thấy nhà thơ buồn như sương giá, lạnh quanh đời". Tôi nghĩ một nhà thơ tuổi gần bát thập, dời chỗ ở hơn chục lần, đấu tranh vì độc lập đất nước, làm thơ, soạn tuồng cải lương, viết báo tận tuỵ cống hiến cho đời, để lại nhiều câu thơ hay là một thành công về văn học, là một tâm gương sáng trong cuộc sống hôm nay. Nhà văn Sơn Nam tinh tế khi viết: "Một cuộc đời lăn lóc, chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu hổ với đất nước. Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi".

 TRẦN HỮU DŨNG


Thơ KIÊN GIANG

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

I.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! Chuông nhà trường

II.

Lần kia anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi

III.

Sau mười năm lẻ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
- Hoa trắng thôi cài lên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang, cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

IV.

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thẫm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím tình thơ đã nhạt màu

V.

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ

VI.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa thánh đường

"Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !"
                                              
Bến Tre, 14.11.1958

Nguồn: NVTPHCM 

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

NGUYỄN THỊ THANH LONG CÒN NỢ NỬA VÒNG TAY…

Sau tập Một milimét ấn hành năm 2011, đã thấy Nửa vòng tay vượt lên bằng nỗ lực sáng tạo đáng quý. Một Nguyễn Thị Thanh Long vượt qua cái bình thường đến với thi ca như một nét duyên…
Nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long

Đọc Nửa vòng tay (NXB Hội Nhà Văn) của nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Long ta đã bắt gặp bài thơ Biển chiều ở trang bìa, hình như Thanh Long xếp bài thơ này xuất hiện đầu tiên thay lời tựa cho cả tập thơ như có dụng ý. Sau đó gặp ngay một Nửa vòng tay là tựa đề của tập thơ đã gợi mở cho ta thấy một thân phận, lương duyên, tình yêu, đất nước với bút lực dồi dào cùng cái duyên của tấm lòng thơ uyên nguyên vị tha:

Biển chiều nay xin đừng lặng thế
Hãy thét gào như buồm đã buông trôi
Thuyền nhổ neo còn nguyên bến đỗ
Nụ hôn òa
               chết đuối
                             giữa bờ môi

(Biển chiều)

Chỉ bốn câu thơ thôi chị đã gói trọn và điểm xuyết thân phận một cuộc tình của mình, hay của ai đó đi qua một quãng đời với nỗi niềm xót xa: Thuyền nhổ neo/ còn nguyên bến đỗ/ Nụ hôn òa/ chết đuối/ giữa bờ môi. Bài thơ chỉ bốn câu thôi mà người viết đã mã hóa hình tượng ngôn ngữ với một sắc thái riêng. Cũng là chia li, là nỗi đau nhưng nhà thơ không cho nỗi đau đó chết tức tửi mà cho cuộc tình ấy chết đuối ở bờ môiCái chết đuối ở nơi nông cạn nhất, đẹp đẽ nhất. Nhưng điều tan vỡ không phải lúc nào cũng bi ai mà được nhà thơ tìm thấy nụ hôn chết ở nơi thánh thiện lãng mạn.

Với bài thơ Nửa vòng tay, đây là lời tâm tình của người con Đất Tổ, đã gửi trọn tâm tư của mình với tất cả tình yêu thương trong từng con chữ, thi ảnh để người đọc cảm nhận được sự huyền ảo, lung linh:

Sợ tiễn anh rồi em khóc đấy
Trung du còn nợ nửa vòng tay
Phù sa sông Hồng ta lớn dậy
Hương bưởi Đoan Hùng mái tóc bay

(Nửa vòng tay)

Quê hương nơi được sinh ra, lớn lên, nơi nuôi dưỡng tâm hồn, chắp cánh ước mơ. Nơi thời con gái gội đầu bông bưởi. Nơi chia tay tưổi thơ trong trẻo sao mà chất chứa yêu thương đẹp đẽ đến thế… em khóc đấy/… nợ nửa vòng tay. Từ đây Thanh Long minh họa miền quê của mình, tình yêu của mình:

Để hoa mua tím triền vụng dại
Đồi chè bát úp ngọt môi say
Bắc cầu dải yếm thời con gái
Ai nỡ buộc hờ lạnh heo may

(Nửa vòng tay)

Đọc khổ thơ này ta thấy câu chữ được ẩn dụ mơ mộng, thi ảnh đẹp như tranh, khiến người đọc dễ liên tưởng đến ý nghĩ xa xôi.Ở triền vụng dại mà đồi chè chỉ như đôi bát úp ngược mà lại ngọt môi say /bắc cầu dải yếm/ ai nỡ buộc hờ/ lạnh heo may  thì quả là không còn gì bằng.Thử hỏi trên cõi đời này còn nơi nào, lúc nào thi vị hơn,thanh tao hơn chút lãng mạn ấy. Thanh Long tả thực nhưng ngôn ngữ được hình tượng hóa. Triền vụng dại/ bát úp /môi say/cầu dải yếm/ buộc hờ… là ta dã thấy sự ẩn hiện của ngôn từ mà Thanh Long đưa ta về với bao kỉ niệm đẹp đẽ ở vườn tình yêu nơi ấy lý trí của tâm hồn và lửa tình cứ cháy lên giữa khát khao trong con tim của lứa đôi.

Lạc vầng trăng ướt hôm mười sáu
Ngậm ngừng rừng cọ gối đêm thâu
Hong lời hen ước xanh màu lá
Mây cuối trời kia đã nát nhàu

Rừng cọ gối đêm thâu/mây nát nhàu. Phải chăng đó là cuộc chia li định mệnh của một mối tình đầu. thơ dại của bao thế hệ con gái, con trai làng quê Việt trước lúc đi xa? Bài thơ càng đọc càng gợi lại nỗi niềm riêng tư như có thân phận mình trong đó, cái thời trong veo, đẹp đẽ ấy mà bây giờ ít quá , khó gặp…
Nhà thơ Thanh Long viết về tình yêu, duyên nợ, thân phận gắn với quê hương, đất nước của nỗi lòng người xa xứ. Tập thơ Nửa vòng tay là tập hợp sự đa đoan, phức hợp của tình cảm, những liên hệ suy tư trên nẻo hành trình đan mê sáng tạo, khao khát vươn tới cái đẹp qua nhiều trải nghiệm. Câu chữ thường nhật ấy, đam mê ấy trên quãng hành trình đã hóa thành những câu thơ làm xốn xang tình cảm và rung động con tim người đọc:

Lại một lần không về trẩy hội
Hoa gạo ngập ngừng nhuộm đỏ tháng ba
Nguyên vẹn trong em màu sim tím quê nhà
Khánh Ngọc xưa thẹn tùng bối rối

(Hẹn mùa sau)

Người đi xa chưa trở về với lễ hội Đền Hùng có nhiều lí do, Thanh Long đã nói hộ mọi người và chính lòng mình, hẹn lại lần sau. Ở đây chốn linh thiêng khơi gợi tâm hồn để tác giả tạo nên tiếng tiếng tơ lòng níu kéo thời gian, hồn cốt quê hương: nhuộm đỏ tháng ba/ sim tím quê nhà. Và:

Em không về mưa rửa đền đừng vội
Bậc đá nào còn in dấu chân em
Gốc thiên tuế thêm một vòng chờ đợi
Rừng thông già no gió có buồn reo.
Tập thơ Nửa vòng tay của  Nguyễn Thị Thanh Long

Thanh Long thổi hồn vào câu chữ cho nên từ ngữ lắng đọng, dư vị ngọt ngào, biết chắt chiu ngôn ngữ bằng cái tình, cái nghĩa trong thơ. Ở trong thập niên đầu của thế kỉ này, có một số người viết tự cho mình là đổi mới câu chữ, họ nhân danh cái mới để lạ hóa thơ đến mức phản thơ, làm cho người đọc không hiểu tác giả viết cái gì. Họ cầu kì đến thô thiển ở chọn câu, chọn chữ. Đã có nhiều ý kiến phê bình cho rằng đó không phải là thơ. Thanh Long không làm thơ kiểu ấy mà vẫn mới, vẫn nguyên giá trị nhân văn, vẫn trong sáng mà gần gũi:

Có lần đêm tâm sự
đêm bị lạm dụng
thiên vị ngày
mười hai tiếng nâng niu

đêm buồn bị giam trong bốn xó nhà
đèn sáng trưng từ đầu hôm tới canh ba
bản ngã người đàn bà… đã thắng
trải lòng với đêm chân thực

bằng những ngôn từ dịu dàng
đôi khi hằn học
có vị mằn mặn và chát đắng cuộc đời
đêm giận hờn từ ấy bỏ tôi đi

(Đàn bà đêm)

Với lối viết dung dị, chất chứa bao hình ảnh, thơ Thanh Long sẽ ở lại với người đọc qua thử thách khắc nghiệt của thời gian, bởi thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo đích thực của cuộc sống. Hãy ghé thăm Chợ làng của Thanh Long để chiêm ngưỡng bức tranh tromg tình quê đẹp đẽ và chân chất đến mức độ nào:

Bà tôi đi chợ đầu làng
Mấy gian lều cũ vít hàng tre cong
Chợ làng họp buổi hừng đông
Mớ rau con cá bán trong tiếng chào
 Cháu đi xa chợ làng mình 
 Nhớ bà nhớ cả mái đình làng xưa
Bà về tròn bóng nắng trưa
Hàng cau nhún nhảy đong đưa dáng bà

(Chợ làng)

Có thể khẳng định rằng tâp thơ Nửa vòng tay của nhà thơ Thanh Long là cả một tấm lòng diệu vợi, là tâm tình của nỗi nhớ, là những lời tự sự trong quãng đời đi qua. Nửa vòng tay là những bức tranh đất nước, quê hương đẹp đẽ và sinh động. Thơ Thanh Long để lai ấn tượng sâu sắc như tiếng hát đẹp của một giọng nữ cao vượt lên trên bè trầm. Thanh Long khắt khe với câu chữ, đầy ắp tâm tư tình cảm. Xin trích hai khổ thơ của hai bài thơ mà Thanh Long viết về hôm qua và bây giờ:

Về Mã Đà
người ơi xin nhón bước
nhè nhẹ gót giầy bụm đất bùn loang
các chị các anh nằm ở nơi đâu
gọi nghĩa trang mộ không còn một nấm

(Mã Đà huyền thoại)

Và:

ngọn sóng nào cao hơn sóng nhớ
bát cơm thơm cõng bão tố Trừơng Sa
mùa vẫn chín trái bàng vuông thẫm đỏ
trong tim em con sóng ấp òa

(Trường Sa mùa vẫn chín)

Sau tập Một milimét ấn hành năm 2011, đã thấy Nửa vòng tay vượt lên bằng nỗ lực sáng tạo đáng quý. Một Thanh Long vượt qua cái bình thường đến với thi ca như một nét duyên. Chắc rằng khi Nửa vòng tay đến với bạn đọc ta sẽ bắt gặp nhà thơ Thanh Long ở độ chín giữa đỉnh điểm của thi ca trong nửa vòng tay duyên nợ.

Thành phố Hồ Chí Minh cuối tháng 9.2013
NGUYỄN VŨ QUỲNH
Nguồn: NVTPHCM





NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU