Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019

HOÀNG VŨ THUẬT - CÂY XANH NGOÀI LỜI - BẢN LĨNH CỦA SỰ LỰA CHỌN

Hoàng Vũ Thuật có nhiều năng lượng: làm thơ, viết phê bình, bút kí. Nhưng có thể nói, từ trước năm 1975 đến nay, thể loại xuyên suốt, chủ đạo, khẳng định phong cách và làm nên thương hiệu Hoàng Vũ Thuật vẫn là thơ.

Thơ ông có mạch ngầm riêng khác, độc đáo, đầy chiêm nghiệm, trở trăn về tình yêu, thân phận và cuộc sống. Phong cách ấy được khẳng định từ Thế giới bàn tay trái(*) trở đi. Tập thơ Cây xanh ngoài lời(**) xuất bản năm nay tiếp tục tựa vào điểm nhìn trái chiều ấy, hồi quy cội nguồn - nơi bắt đầu của mọi tình yêu, để bồi đắp, kiến tạo tình yêu Tổ quốc; giải phẫu tính đa diện đa chiều, phồn tạp của nhân thế với những cật vấn của một chủ thể muốn thức tỉnh con người, tìm lối đi trước sóng bão đời sống đương đại.
Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật

Tính từ Những bông hoa trên cát (1979), Thơ viết từ mùa hạ (1984), Gửi những ngọn sóng (1986), Giàn bí đỏ (1987), Thế giới bàn tay trái (1989), Cỏ mùa thu (1994), Đám mây lơ lửng (2000), Tháp nghiêng (2003), Ngôi nhà cỏ (2010), Màu (2010), Mùi (2014) đến Cây xanh ngoài lời (2017), Thế giới bàn tay trái(*) được xem là cột mốc thể nghiệm những đổi mới, cách tân, chuyển từ thi pháp truyền thống sang thi pháp hiện đại. Từ Đám mây lơ lửng, Tháp nghiêng cho đến Mùi(*) là sự lên ngôi của các thủ pháp tượng trưng, siêu thực, tân hình thức và hơi hướm tinh thần hậu hiện đại. Do vậy, khi đánh giá, nhận định về thơ Hoàng Vũ Thuật, nhiều tác giả cho rằng, thơ ông giàu tính triết luận, kết cấu đa tuyến, lập thể, hình ảnh thơ đa tầng, đa nghĩa, lạ, phong phú biểu tượng.

Đối với nghệ sĩ chân chính, con đường sáng tác không hề đơn giản. Sáng tác nghĩa là phải chấp nhận sự chuyển dịch, vận động, tiến về cái mới, đổi khác chính mình. Tuy nhiên, đôi khi việc trở lại khai hoang trên chính thuở ruộng cũ cũng bung nở nhiều hoa trái độc đáo, tạo nhiều bất ngờ. Sự xuất hiện của Cây xanh ngoài lời đã chứng minh thành quả ấy. Tập thơ có nhiều khác biệt, vẫn tiếp nối dòng chảy của dạng thơ triết lý, chiêm nghiệm, nhưng được cấu trúc trong một chỉnh thể dung dị, đời thường. Khởi đầu Cây xanh ngoài lời là một cái tôi hướng về nguồn cội quê hương. Cát trắng quê nhà, con người thuần hậu neo bám như một vòng tròn đồng tâm cội nguồn nghiệm vào tư duy, cảm xúc thơ của Hoàng Vũ Thuật: “mẹ ra chợ/ gánh theo mưa nắng/ mồ hôi đẫm/ mồ hôi/ muối mặn/ lá trầu tươi hình trái tim/ trái cau hình giọt máu/ lặn sâu trong lồng ngực lép nhọc nhằn/ những âm thanh Tổ quốc kẽo kẹt/ những âm thanh bền lâu/ tôi hằng ôm ấp” (tôi muốn nói bằng tiếng nói Tổ quốc tôi). Trong lời giới thiệu tập thơ Cây xanh ngoài lời, Yến Thanh cho rằng thơ Hoàng Vũ Thuật xuất hiện quá trình “lại giống”. Quả đúng vậy. Nếu hình ảnh người thơ “ngược con đường” trước đây tuyên ngôn mạnh mẽ, sẵn sàng đối chọi với cuộc sống bộn bề phức tạp thì bây giờ cõi thơ ấy vẫn được khẳng định lại nhưng dung dị hơn khi đặt trong bầu không của sự “lại giống”, quay về với cội nguồn quê hương. Cần phải thấy rằng, sự trở về này khác hoàn toàn với nền móng “trong trẻo” ban đầu của Những bông hoa trên cát, Cỏ mùa thu(*). Cảm quan nguồn cội của Cây xanh ngoài lời đã được mang vác bằng hơi thở khác, hệ quy chiếu khác. Theo tôi, nổi bật cho lộ trình trở về ấy là bài thơ “tôi muốn nói bằng tiếng nói Tổ quốc tôi” và “đám tang của biển”.

Tổ quốc hiển hiện qua ngôn ngữ, âm thanh, giai điệu, hình ảnh, qua nếp ăn nếp nghĩ của con người như một số tập thơ trước nhưng ở Cây xanh ngoài lời đã có cái nhìn sâu hơn, mới hơn khi Hoàng Vũ Thuật lồng Tổ quốc trong tình yêu mẹ, đưa Tổ quốc trở về nguyên nghĩa của nó - mẫu gốc: “con thương Tổ quốc thời loạn lạc/ giặc ở bên hông giặc ngủ trong nhà/ con thương Tổ quốc/ chiếc đòn gánh hai đầu mưa sa/ sao đường đi chênh vênh heo hút/ vẹt mòn bàn chân mẹ” (đám tang của biển). Tổ quốc không ở đâu xa, nó nằm ngay trong chính trái tim ta, là cuống nhau huyết thống, máu thịt ta. Hình ảnh mẹ gắn bó với cố hương, hòa quyện trong tình yêu Tổ quốc là biểu tượng vững bền, thiêng liêng, cao cả mà chúng ta đã bắt gặp khá nhiều trong thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Nam Hà, Lê Thị Mây, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Phan Quế Mai,... và ngay cả trong thơ của Hoàng Vũ Thuật trước đây. Song Cây xanh ngoài lời có chiến lược khác, cũng nhìn Tổ quốc từ biển, nhưng Hoàng Vũ Thuật khéo léo sắp chồng các hình ảnh, gắn Tổ quốc với hai móc xích chủ đạo - tâm thức hướng Mẫu và biểu tượng nước, nguồn sống thanh khiết vĩnh cửu: “con thương mẹ/ tháng ngày hạt dẻ/ núi cát ngất trời/ ngăn lại bão giông/ trai gái làng yêu nhau rừng xây thành lũy/ chợt gục xuống sau lưỡi dao cạm bẫy/ con thương mẹ như thương Tổ quốc/ mạch nước ngầm trong vắt mấy nghìn năm” (đám tang của biển). Sự kết hợp đó tự thân đã minh định Tổ quốc trong ý nghĩa khởi nguyên, nguồn cội, vĩnh hằng. Tuy nhiên, cảm xúc cao nhất, mãnh liệt nhất có lẽ là sự hóa thân của nhà thơ vào Tổ quốc. Ở những khổ đầu bài thơ“tôi muốn nói bằng tiếng nói Tổ quốc tôi”, Tổ quốc là những gì hiện hữu xung quanh ta, thân thiết, đời thường, đến khổ cuối nhà thơ đã rút ngắn, san bằng khoảng cách, hòa nhập, đồng điệu với Tổ quốc:

khi tôi chết
tôi cũng là Tổ quốc
được sống cùng sương
ruỗi rong
cùng gió
giọng điệu của dế kể chuyện canh khuya
ngôn ngữ phiêu du mây bạc
tôi lắng nghe
thiêng liêng nếu Tổ quốc kêu gọi
như người lính sẵn sàng
đứng bên đồng đội
chẳng ai thấy tôi có mặt trên đời
Tổ quốc vĩnh hằng thế đó bạn ơi.

Có thể nói, bày biện Tổ quốc dựa trên các lớp cắt của thời gian và không gian, dựa trên cấu trúc tương phản giữa quá khứ-hiện tại, xưa-nay, cụ thể-trừu tượng, hữu ngôn-vô ngôn,... Hoàng Vũ Thuật đã giúp người đọc hình dung khái niệm về Tổ quốc, tình yêu Tổ quốc, gắn với những trải nghiệm và cuộc đời của thi sĩ. Khi sự hóa thân được đẩy đến mức tối đa, đặt trong đối sánh âm-dương: "khi tôi chết/ tôi cũng là Tổ quốc", lúc này, Tổ quốc đâu chỉ là máu thịt, là cuống nhau nữa mà đã trở thành hình tượng bất tử, hoá thân thành linh hồn của thi sĩ. Với cảm quan này, Hoàng Vũ Thuật đã giải trình tiếng nói Tổ quốc, tình yêu Tổ quốc rất riêng, rất mãnh liệt của mình; vĩnh hằng Tổ quốc, khẳng định sức sống và tình yêu lâu bền đối với Tổ quốc - Tổ quốc ngôi nhà bền vững âu vàng.
Tập thơ Cây xanh ngoài lời của Hoàng Vũ Thuật

Vòng tròn cội nguồn trong Cây xanh ngoài lời còn hiển hiện qua những hình ảnh thân thuộc của quê hương, qua hình ảnh người mẹ hiền. Có thể nói, những chất liệu này luôn cựa quậy, xuyên suốt các tập thơ của Hoàng Vũ Thuật. Và tiếp tục làm nên vỉa-trầm-tích-lòng cho Cây xanh ngoài lời. Ông đã từng tâm sự: "Thơ tôi là những hạt cát li ti giữa hai nếp nhăn vầng trán mẹ tôi. Nó là dòng chảy buồn buồn như dáng mẹ mảnh khảnh một mình băng qua cồn cát khi ánh tà xuống, hoặc những lúc bất ngờ gặp trận bão táp dữ dội..." (Nguồn sữa tôi(***)). Từ tập thơ Những bông hoa trên cát đến Cây xanh ngoài lời, chúng ta thấy “dòng chảy buồn buồn” trong thơ ông được tạo dựng nên bởi hai thanh âm: cát (biểu tượng của vùng quê gió lào cát trắng) và mẹ (biểu tượng mẫu gốc). Hai thanh âm này chính là chủ âm nguồn cội trong thơ ông. Đây cũng là điểm khác biệt của Hoàng Vũ Thuật so với các nhà thơ khác. Sự tích hợp “cát - mẹ” thể hiện rõ ở các tập thơ. Mỗi tập thơ đều có giọng điệu, kết cấu riêng. Nhưng đều gặp nhau trên một tọa độ - nguồn cội của tâm hồn. Cảm xúc nguồn cội của Cây xanh ngoài lời không phải là những cơn chấn động tức thời khi nhà thơ đắm mình trong cuộc trở về mà nó đã được xây dựng ngay từ nền móng đầu tiên – Những bông hoa trên cát. Tâm thức nguồn cội chính là dòng chảy khát khao bền vững, bất tận, là báu vật kí ức, là gốc rễ thơ ông. Vì thế mạch tình quê trong Cây xanh ngoài lời vẫn dồn dập gọi nhau về: “con thương mẹ/ tháng ngày hạt dẻ/ núi cát ngất trời/ ngăn lại bão giông (đám tang của biển); “quê hương ôm tôi trong cánh diều chao liệng/ mở ra trang sách/ làn mây chớp trắng trên đầu/ ngôi sao cúc áo vẫn cài lên vòm cao xanh thuở trước/ giọt nước mắt khóc người thân nằm xuống sau cồn cát khô rang/ hình như tôi đã gọi hai tiếng mẹ ơi/ con vẫn chờ (hình như tôi đã). Nhà thơ sinh ra từ cát, lớn lên từ cát. Cát cũng là nơi ôm ấp mẹ. Hình ảnh mẹ vẫn xanh, xanh đến buốt lòng: “mỗi khi con về/ mẹ nhìn như trái rụng// con nghẹn ngào đột nhiên ngó xuống/ một vệt đá mòn dấu chân người bước/ ai đang cào đau nhói trong con/ suốt đời quẩn quanh mảnh vườn/ cái màu xanh/ cái màu xanh đến buốt” (mẹ). Hình ảnh thơ, cách diễn đạt giản dị nhưng tác động mạnh đến cảm xúc của người đọc bởi cách sắp xếp tăng dần những động từ trạng thái (rụng - nghẹn ngào - mòn - cào đau nhói - buốt), nhờ cấu trúc đó, nhà thơ đã đẩy tình yêu mẹ, cảm thức nguồn cội lên đến đỉnh điểm. Sự kết dính “cát - mẹ” lan toả, phóng chiếu lên câu chữ, vừa giúp chúng ta thấu thị hồn thơ đẹp của thi sĩ vừa như được tắm táp, gột rửa trong bầu không chôn nhau cắt rốn.

Như vậy, viết về Tổ quốc, về mẹ, về quê nhà, những vần thơ của Hoàng Vũ Thuật cứ chân chất từ lòng mà đi ra. Ánh sáng dân dã này vừa đủ để chúng ta soi chiếu mẫu-gốc-hồn trong thơ ông và khơi gợi, đánh thức tình yêu văn hóa cội nguồn ở người đọc. Bình dị mà sâu nặng vô cùng: "tôi yêu Tổ quốc/ như mẹ tôi yêu mảnh vườn chăm từng tấc đất" (tôi muốn nói bằng tiếng nói Tổ quốc tôi)

Thế sự là địa hạt không lạ trong thơ Hoàng Vũ Thuật. So với những tập thơ gần đây như Ngôi nhà cỏ, Màu, Mùi thì Cây xanh ngoài lời có dung mạo khác, biến tấu của những ngữ ngôn ám dụ, siêu thực được gia giảm vừa đủ, kéo người đọc gần hơn với khoảnh khắc, bản thể cuộc sống. Trước đây, có luồng dư luận cho rằng thơ ông tắc tị, bí hiểm, mà Đám mây lơ lửng(*) là viên gạch trái chiều đầu tiên. Thực ra, theo tôi, khi hình ảnh thơ ôm chứa trong nó nhiều tầng bậc, ngôn ngữ được ẩn trong lớp áo siêu thực ma mị, nó đòi hỏi người đọc không chỉ ở tinh thần đồng sáng tạo mà còn ở kinh nghiệm giải mã thơ, vượt qua barie quen thuộc để có cái nhìn nghệ thuật hơn trước những bài thơ bị tước bỏ nhạc tính, phi lôgic. Đến cái tuổi thất thập cổ lai hi, Hoàng Vũ Thuật vẫn cần mẫn, không ngừng sáng tạo. Chất suy tưởng, chất thơ của ông vẫn sắc bén, vượt ra ngoài mọi khuôn khổ, rào cản, tiếp tục trương nở, đời thường nhưng vẫn tinh tế, hiện thực nhưng vẫn huyền mị. Tâm thế muốn nói, bứt phá luôn nóng rẫy, "chật chội" trong thơ ông: "tiếng sấm nén chặt trong đầu/ mười ngón chân bật khóc" (đất chết). Có thể nói, Cây xanh ngoài lời là những mảng tự sự, giãi bày của một tâm thơ nhân bản trước hệ lụy của xã hội. Giọng điệu chuyện trò với em, với nàng, với Lãm,... không hề phẳng lặng, ẩn đằng sau đó là nỗi hoài nghi xen lẫn bất lực, tuyệt vọng, cô đơn của một thi sĩ luôn khát khao lí giải những phức tạp, góc khuất của đời sống. Khi đời sống được soi rọi, khơi sâu qua những lát cắt tâm trạng, chiêm nghiệm, hiện thực Cây xanh ngoài lời được bóc tách “giản dị tới mức không thể giản dị”: "hãy mở giấy ra/ đừng nghe kẻ giả nhân răn dạy/ thơ cao sang mà cũng chẳng cao sang gì/ cứ trải thơ thành manh chiếu rách cho người hành khất khốn khổ của bạn/ đôi đũa gãy bữa cơm thiu/ cái bô dưới chõng tre cà vạt thơm trên cổ/ thơ mặc áo và thơ trần truồng" (viết). Đó là bức tranh cận cảnh đầy lở lói, đau thương của hiện thực đời sống: "gió cùm dọc những con hẽm chuột/ người ta chia nhau từng milimet ánh sáng/ người ta chia nhau mùi xú uế tởm lợm nhầy nhụa/ người ta cùng nhau cãi cọ đâm chém cùng nhau ném xác xuống sông như ném bóng/ người ta cùng nhau hôn hít làm tình cùng nhau dấu bọc thai nhi trong thùng rác/ cùng nhau chia/ chia” (miền cát du). Đó là số phận đau thương, tàn khốc của những người tị nạn đã bỏ mình trên Địa Trung Hải: “bập bênh trên mặt Địa Trung Hải/ trò chơi bầy đàn/ đánh số từ một/ những xác chết nổi loạn/ trong tấm áo tơi tả nàng là mặt trời/ đen và đặc” (sự nổi loạn của xác chết),...

Sáng tạo là quá trình người nghệ sĩ luôn ý thức vượt rào chính những trải nghiệm mà bản thân đã kinh qua. Ở đây, ta thấy chất tượng trưng, siêu thực ở những tập thơ trước nhạt dần ở Cây xanh ngoài lời không có nghĩa là thơ Hoàng Vũ Thuật đánh mất những gì đã làm nên chất giọng thơ ông. Người đọc cần vén màn sương nhiều lần mới giải mã được Đám mây lơ lửng, Ngôi nhà cỏ, Màu, Mùi, thì bây giờ, thay vào những yếu tố ma mị ấy, ông phóng chiếu hiện thực ngay trên cái nền hiện thực, tước bỏ "mặt nạ tác giả", để thế giới sấp ngửa, bất toàn ngay trước mắt người đọc nhưng vẫn đảm bảo tính uyển chuyển, tinh tế và sâu sắc của những mật từ. Mô hình vận động này, theo tôi, nó không hề tạo điểm kênh, ngược lại, rất hợp với lộ trình "lại giống" ở trên. Phải chăng đó cũng là cách Hoàng Vũ Thuật kháng cự lại chuỗi phân thân và giấc mơ trước đây để có những trải nghiệm hiện sinh, sắc thái mới, phù hợp với kiểu con người muốn mở chốt, tìm hiểu nguyên nhân giữa một cơ chế đầy bất ổn. Nỗi niềm tâm sự có tính chất can dự của ông trong Cây xanh ngoài lời về cuộc đời, có thể nói, chưa bao giờ hết nhiệt. Tâm trạng cô đơn mà thi sĩ đã gieo xuống câu chữ qua nhiều tập thơ trước, nay vẫn thế “... hết nỗi buồn này sẽ là nỗi buồn khác”. Xanh là một bài thơ xác lập đúng những khủng hoảng của đời sống: “Nơi nào bấm nút cho những quả tên lửa/ sa mạc người nối sa mạc người/ (...)// nơi nào cấm vận tấn công hạn chế tấn công/ lật đổ dựng xây rồi lật đổ/ (...)// nơi nào bom liều chết nổ tung thánh đường/ thác máu hết ngày này sang ngày khác". Những câu hỏi trực ngôn không còn ở góc độ cảnh báo nữa mà đã chỉ ra căn nguyên, cốt tủy của sự đổ vỡ ý nghĩa và giá trị cuộc sống. Ta nên thỏa hiệp hay phản kháng trước những áp chế khi "hết thảy chân trời đều là đường cong”, "khi thế giới đang mê say trộn máu với cái nóng phủ phàng"!? Theo tôi, nhận thức lí trí cũng là một cách phản ánh bản chất của hiện thực. Trước đây, sự bi quan, nghi hoặc của một cái tôi cô đơn khiến nhà thơ nhiều lần mượn bóng tối, mượn giấc mơ, cái chết để lên tiếng (rõ nhất ở các tập Đám mây lơ lửng, Ngôi nhà cỏ, Màu, Mùi), thì bây giờ, ông tự đối diện với bất trắc, kiểm chứng bằng thức cảm hết sức mạnh mẽ. Cho nên, khi trả lại bản nguyên của ngôn ngữ và hiện thực đời sống, tôi khẳng định, những thanh âm trong thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn "đầy đặn" bởi ý thức sáng tạo nghiêm túc của thi sĩ. Tiếp cận hiện thực cả bề rộng lẫn bề sâu của những câu thơ “là mưa nhưng không là giọt mưa bạn thấy”, tư duy triết lý của Hoàng Vũ Thuật như một điểm sáng hành trình về phía bình minh: "mọi thứ đều thuộc về thì hiện tại/ ước sao sau giấc ngủ dài thức dậy tất cả không giống trước/ mỗi cánh cửa mở ra một bầu trời/ sau bầu trời là bầu trời khác/ sau bầu trời khác là bầu trời khác nữa/ bóng tối rẩy chết đắp thành nấm mồ trong viện bảo tàng" (miền cát du). Tính triết lý càng sâu hơn khi lồng ghép trong nó cảm hứng thế sự và nỗi đau thân phận: "đâu đó/ người ta tôn vinh ma quỷ/ chối bỏ cả thánh thần/ chối bỏ giấc mơ bào thai sắp tới giờ sinh nở/ người đàn bà sau bóng tối/ khát vọng giản đơn như ý nghĩ/ là mẹ hiền trong căn nhà lặng gió/ khi thế giới đang mê say trộn máu với cái nóng phủ phàng" (người đàn bà sau bóng tối). Vậy, lõi cốt của Cây xanh ngoài lời vẫn nặng trĩu, ngồn ngộn chất đời và bản lĩnh nhất quán của nghệ sĩ khởi từ Thế giới bàn tay trái. Hoàng Vũ Thuật đã tìm được lối thoát cho chính mình ở Cây xanh ngoài lời mà trước đây ý thức tự do, phản kháng phải vin vào những mặt nạ khác khi đụng chạm đến khoảng nhạy cảm.

Mỗi con chữ trong Cây xanh ngoài lời chưng cất một mật mã riêng. Nhưng khi đặt lên vai chúng sứ mệnh thế sự, chức năng biểu đạt các khía cạnh của cuộc sống, Hoàng Vũ Thuật đã tượng trưng hóa "những chữ cái" của Cây xanh ngoài lời - hiện thực nhưng luôn đòi hỏi trí tưởng tượng phong phú. Đúng như một câu thơ của thi sĩ: “thơ tôi là cát lạo xạo khắp các ngã đường bạn từng đi qua”. Là cát mà bạn nhìn thấy song không hề giản đơn, luôn ẩn trong nó lớp lớp trầm tích:

những chữ cái thiết lập trang sử khôi nguyên
những chữ cái làm chân đế đồng bào
những chữ cái rịt lại vết thương nhức nhói
những chữ cái thức dậy linh hồn đã khuất
những chữ cái tô đậm đất liền biển đảo
những chữ cái cắm cột mốc chủ quyền

                                          (viết)

Cuộc sống dù có cỗi cằn, phi lý, mất mát, con người dù có hoang mang, hồ nghi đến chừng nào thì bản ngã thánh thiện, thanh cao không bao giờ bị mất đi, tình yêu cội nguồn cũng không bao giờ bị đánh cắp. Với Hoàng Vũ Thuật, cái đẹp vẫn hiện tồn, vẫn xanh non mặc kệ mọi thị phi - Cây cứ xanh ngoài lời, sự sống cứ tiếp nối như ông đã tuyên ngôn: “này em/ anh biết sự dịu dàng của ngày xưa thành nấm mồ chôn chặt/ những con chim chờ chết hót tiếng sau cùng/ những con chim xếp cánh chẳng thể bay đi/ vô vọng chồng lên vô vọng/ nhưng anh tin giờ khắc đã điểm/ cuộc đời/ sẽ xanh như ý niệm ta yêu" (ý niệm).

Nhật Lệ cuối tuần trăng tháng 6.2017
HOÀNG THUỴ ANH
Nguồn: NVTPHCM


__________
(*). Tên các tập thơ của Hoàng Vũ Thuật.
(**). Cây xanh ngoài lời, Nxb Hội Nhà văn, 2017.
(***). Hoàng Vũ Thuật, Văn chương tìm và gặp (tiểu luận - phê bình), Nxb Văn học, 2008.



Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ: Ý TƯỞNG LÀ QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU

Năm qua, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư gây chú ý trên văn đàn với tập truyện ngắn “Cố định một đám mây” và tập thơ “Gọi xa xôi” cùng Giải thưởng Liberaturpreis của Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin, trao cho tập “Cánh đồng bất tận” (bản tiếng Đức). Trước thềm xuân mới, PV báo Đại Đoàn Kết có cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

PV: Thưa nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, nhắc tới Tết, chị nghĩ tới điều gì?

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Những rộn ràng cũng cũ. Tôi từng viết vậy, về Tết. Nó không còn là thứ ngọt ngào như lúc còn con nít mà từ hồi nào trở nên nhàm chán, tẻ nhạt. Như một trò thiêng đã giải xong. Có thể vì tôi đã khác hoặc Tết đã khác. 

Tôi nghĩ là do cả hai. Điều đó  khiến cho những trang viết về Tết của chị, trong tản văn hay truyện ngắn, cũng khác xưa. Đã từng có khi nào chị phải gò mình lại để viết, để chiều theo những lời mời cộng tác bài vở với các tờ báo Tết?

- Hồi xưa thì có. Giờ thì tôi tự do viết theo ý mình. Và biết từ chối những lời mời, dù những mời mọc là thứ áp lực cần thiết để tôi làm việc (đôi khi quá sức của mình). Cơ bản tôi không muốn bên mời cảm thấy khó xử, khi gọi bài mà lại không thể in, bởi tác phẩm của mình hoặc quá rầu rĩ, hoặc phạm vào kiêng kị. Bao giờ tôi cũng nói, văn tôi u tối lắm, anh (chị) nhắm có chịu được không?

Dù là viết theo “đơn đặt hàng”, nhưng suy nghĩ thì không ai “đặt” được?

- Không, ý tưởng là do tôi tự chủ. Nên phải từ chối nếu họ thích tôi viết gì đó có liên quan tới Tết, hay những thứ đèm đẹp, kiểu như Tết nhớ gì đó, thương gì đó. Người ta có thể nhớ bất cứ lúc nào, sao phải đợi Tết mới nhớ. Mà tôi chắc già rồi, không ưng cái kiểu hoài nhớ, ngoái lại nữa. Bữa rồi nghe nói có cuốn sách Tết, tôi hơi sợ, nghĩ đọc hết cuốn ấy, từ đầu tới đuôi toàn Tết, chắc là một trải nghiệm ám ảnh. 

Vậy thì khi bắt đầu viết một tác phẩm mới, sau khi đã có ý tưởng, chị thường quan tâm nhất là điều gì?

- Mình sẽ kể câu chuyện này theo cách nào, giọng điệu nào, nhìn từ ngôi nào. Tôi nghĩ mỗi người đều biết những câu chuyện gần giống nhau về con người, về tình yêu và thù hận, cảm thông và đố kỵ, nhưng tùy vào cách kể, mà câu chuyện ấy sống động hay tẻ nhạt. Dĩ nhiên ý tưởng là quan trọng hàng đầu, sau khi có nó, mọi thứ đều thuần về kỹ thuật.

Thế còn yếu tố cảm xúc có vai trò như thế nào trong việc viết của chị? Chị có thường phải nuôi dưỡng cảm xúc cho mình? Những cảm xúc xã hội, những cảm xúc gia đình liệu có chi phối và tác động như thế nào đến việc viết của chị? 

- Ý tưởng chính là cảm xúc. Nó gây hưng phấn ngay từ hình thành. Và tôi sẽ nghĩ về nó, theo đuổi nó trong một thời gian trước khi bắt đầu viết. Mệnh nó có thể yểu, vì tôi không tìm thấy hứng thú ở nó nữa, nhưng tôi chẳng tiếc nuối vì biết nó chưa đủ dày dặn, mạnh mẽ để có cơ hội sống sót. Lúc đó là mối quan hệ tay đôi, giữa tôi và ý tưởng của tôi, những tác động chung quanh không quan trọng. Tôi có thể trì hoãn viết vì bận những chuyện vặt không tên, mà một bà nội trợ nào cũng phải trải qua mỗi ngày, nhưng rồi sẽ tới lúc thôi, ngồi vào bàn và viết. 

Vậy thường, điều chị nghĩ đến đầu tiên khi hoàn thành một tác phẩm là gì? Và có tác phẩm nào, khi đặt dấu chấm hết, chị cảm thấy hoảng sợ, hay ít ra là có chút bồn chồn, lo lắng?

- Mình không còn ý tưởng nào đang chờ nữa. Lại phải tìm kiếm rồi. Tôi chỉ sợ vậy. Nhưng may là, ý tưởng khác cũng hay nảy ra trong lúc tôi đang đắp da thịt cho ý tưởng này. Trống rỗng thật sự là khi in xong cuốn sách. Tôi thấy mình phải làm lại từ đầu. Mình trắng tay rồi, mình hết sạch, mình phải viết rất nhiều câu chuyện nữa, bày ra một đống chữ nữa, cho cuốn sách tiếp theo.
Cuốn “Cố định một đám mây”.

Chị có thường “kiểm đếm” lại những “đứa con” của mình không? Tính tới thời điểm này, có nhiều lắm không những tác phẩm của chị chưa được công bố?

- Nếu đã có nhiều tác phẩm chưa công bố thì tôi đã không thấy trống trải sau một cuốn sách vừa ra đời rồi. Tôi ngày càng không dư dả vì ngày viết mỗi chậm hơn. Nói rung cảm chai sạn đi cũng đúng, nhưng tôi tự cảm thấy, mình càng khắc nghiệt, đòi hỏi cao, trước hết là với bản thân. Phần khác tôi tự làm khó mình, bởi viết nhiều quá, nhìn đâu cũng thấy mình đã viết rồi.

Còn việc kiểm đếm, tôi không để ý, thiệt tình. Giờ phải ngồi đếm mình đã in cuốn thứ bao nhiêu thì cũng ra con số, nhưng tôi không thích hành động này. Cơ bản tôi thấy chuyện qua rồi tức là qua rồi, của tôi ngày hôm qua sao quan trọng bằng những gì của tôi sắp tới. Tôi quan niệm, những thứ không thể chỉnh sửa thì đừng ngồi đó nhấm nháp hoài, mất thời gian.

Chị có phải tính toán về nơi công bố tác phẩm và thời điểm công bố không? Vì sao cuốn “Cố định một đám mây” lại rời một đơn vị xuất bản quen thuộc với nhiều đầu sách của chị, mà trôi xuôi ra tận Đà Nẵng?

- Thường thì tôi “gả” bản thảo tới những nơi quen biết cũ. Làm việc với những anh chị biên tập viên đã biết ý mình thì đỡ mất công. Tôi cũng không cầu kỳ lắm trong việc sách phải đẹp như thế nào, bìa bắt mắt ra sao. Nhưng, quả là tôi có nghĩ tới chuyện bán sách.  Chuyện “Cố định một đám mây”, vì sao phải lang thang, thì không tiện kể. Tôi không muốn bạn đọc bị mất phương hướng bởi những chuyện không liên quan tới văn chương. 

Nhiều người cho rằng, ở Việt Nam, hiện có nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư là những người có thể sống khỏe bằng nhuận bút. Một cách thẳng thắn nhất, chị có phải là nhà văn sống được bằng nhuận bút? 

- Tiền dĩ nhiên quan trọng, nhất là với người sống bằng nghề viết như tôi. Nhưng ngoài tiền, tôi còn kiêu hãnh nữa. Và từ khi viết có ý thức hơn, không còn bản năng như xưa, tôi đã bắt đầu chuẩn bị cho cái việc mình không thể sống bằng bán sách. Nhưng người mua sách tôi thích một cô Tư trữ tình ngày xưa hơn là cô Tư lạnh lẽo của bây giờ.

Mới rồi, thấy chị đứng ra tài trợ cho cuộc thi truyện ngắn về phụ nữ: “Một nửa làm đầy thế giới”. Vì sao chị lại “nghiêng về phe nước mắt”?  

- Ồ, dùng chữ tôi tài trợ thì không chính xác lắm. Đó là phần dự án văn chương dành cho phụ nữ, kèm theo giải Liberatureis mà tôi nhận được. Tôi chỉ là nghĩ ra cách dùng tiền (dù không đáng là bao), sao cho hiệu quả nhất. Rồi phát hiện xài tiền cũng khó như kiếm tiền vậy.

Trân trọng cảm ơn nhà văn Nguyễn Ngọc Tư!

HOÀNG THU PHỐ (thực hiện)
Nguồn: Đại Đoàn Kết



Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2019

NGUYỄN DUY THI SĨ THẢO DÂN

(Về thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy)

Duy đã thổi hồn của thế hệ mình vào đó, đã đưa được hơi thở chúng sinh thì hiện tại vào đó. Nó không chỉ có hồn cổ, hồn quê, mà còn cả hồn phố. Vì thế, nó khỏe khoắn, nồng đượm, tân kì. Nó là rượu chúng sinh đựng bằng lục bát. Nó là Duy…
Nhà thơ Nguyễn Duy

1. Tìm tên
         
Gần đây, cứ thấy giữa đô thị bỗng mọc lên những nhà gianh, nhà sàn, nhà rông với tranh tre, nứa lá, gỗ lạt thô mộc. Người ta bỗng thích của đồng rừng, đồng bãi. Những thứ như lươn cua ốc ếch, kì đà kì nhông, rau bí rau lang... thành đặc sản tuốt. Đến nỗi người quê có thể kiêu hãnh mà định nghĩa : những thứ nhà quê chán ăn, ra phố lập tức thành đặc sản. Cái tầm tầm quê kiểng bỗng lên ngôi, bỗng thời thượng. Đã đến thời chân quê được chấn hưng chăng? đô thị đã ngả mũ trước gốc rễ của nó chăng ? Tôi giàu trí tưởng bở. Chẳng qua là làm hàng, là một cái mốt lạ thời kinh tế thị trường thôi. Bởi thế, bước vào triển lãm thơ Nguyễn Duy, tại 29 Hàng Bài, thấy bày những xó bếp với cột kèo, đống rấm con cúi, nồi đất đen thui, thúng mủng, nong nia, rành mẹt, rổ rá, giần sàng, chum vại, thửng hũ, cóng ang...trên đó la liệt những câu thơ, trang thơ, tập thơ, tôi có thoáng nghĩ : lại một mốt lạ, một lối chơi ngông. Nhưng không phải. Vào đây tôi gặp mình. Bao nhiêu thứ tưởng có thể quay lưng đang bày biện cả ra kia ! Cái nền văn hoá đã đào luyện nên mình mà mình cứ hòng quên đấy! Cũng là con đẻ của xó bếp, của rơm rạ, của tre pheo và đất thó, chẳng nhẽ Duy lấy những cái đó chỉ để làm chơi? Không. Vừa là một cuộc chơi, lại vừa có cái gì thiêng liêng trang trọng lắm. Không thế, làm sao Duy có đủ xác tín để mang tất cả những thứ đơn sơ đến nôm na, quê kiểng đến quê mùa kia sang trưng bày một cách kiêu hãnh ở Singapore hay ở những cường quốc như Mĩ, Đức tựa như một sứ giả của nền văn hoá này được ! Hay Duy đang tôn vinh xó vườn, xó bếp ? đang giã ơn cái rổ cái xề ? trả nghĩa cái chum cái chĩnh ? Cũng không. Việc như thế một kiếp thi sĩ làm sao kham nổi ! Không mặc cảm, không đùa bỡn, không kiêu bạc. Chỉ đơn giản là Duy đang trình bày mình, đang phơi trải mình, đang trưng bày cái tông tích mình, cái cội rễ thơ mình đó thôi. Và đó là cuộc trưng bày xưa nay chưa từng có. Cuộc chơi thế này người ta có thể làm lúc còn trẻ không? Sao có thể làm được, phải vào cái tuổi tri thiên mệnh trở đi, người ta mới dần trở lại với tuổi thơ. Chỉ có trẻ thơ và kẻ trải tất rồi mới hiểu được Chơi là việc Nghiêm túc (còn khối việc nghiêm túc lắm khi lại là chơi).

Vậy, Nguyễn Duy là ai ? Tác giả của hàng loạt thi phẩm sáng giá như Tre Việt Nam, Đò Lèn, Hơi ấm ổ rơm, Ánh trăng, Tuổi thơ, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Lời ru đồng đội, Mưa trong nắng nắng trong mưa, Sông Thao, Ông già Nam Bộ, Xẩm ngọng, v.v... là ai ? Dù xuất thân như thế, tôi vẫn không nghĩ anh là thi sĩ thôn dân. Duy còn là một thị dân, còn là lính. Hay gọi là Thi sĩ chiến sĩ ? Nghệ sĩ chân chính nào chẳng là chiến sĩ. Thi sĩ công dân ?- Vẽ, ở ta ai chẳng công dân. Thi sĩ bình dân ? - thì cả thi sĩ quan lại quí tộc có ai không nhận là bình dân đâu. Thi sĩ phó thường dân? E rằng sẽ khó được coi là cụm từ nghiêm túc. Thế còn nhà thơ dân đen ? Nghe nó mặc cảm thế nào...Thôi, trong khi đợi phong là thi sĩ nhân dân, tôi cứ gọi Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân. Có người sẽ bảo : như manh dânlê dân... chữ thảo dân cũng đầy mặc cảm chứ hơn gì. Phải, nó nói cái phận hèn, cái kiếp vô nghĩa, cái đời mong manh. Nhưng đấy là xưa. Tôi thích chữ ấy vì nó… xưa. Và quan trọng hơn, vì cái từ xưa này đang được làm mới, với những sắc thái thú vị của thì hiện tại, bởi một phong cách ngôn ngữ mà Duy đương phải lòng - ngôn ngữ "cơm bụi". Đã đành, cánh làm thơ xứ ta đa phần là thảo dân. Nhưng thi sĩ thảo dân lại là chuyện khác. Ấy là một kiểu nhà thơ.
                                                         
2. Từ những chiếc kim la bàn của một đời thơ...                                                                 

Có thể thấy Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân ngay từ trong quan niệm nhân sinh và nghệ thuật. Thói thường, có được một quan niệm riêng đúng đắn, xem như có một hoa tiêu tin cậy cho hành trình sáng tạo rồi. Quan niệm của một kẻ viết, cố nhiên, không phải nhất thành bất biến. Chả hiếm gì những tâm niệm cuối đời muốn đính chính những ngộ nhận đầu đời. Song ở Duy, cái quan niệm buổi chập chững đã là một kim la bàn khá chuẩn. Càng về cuối chỉ càng sắc nét hơn.

Nghĩ cũng vui, theo cái định nghĩa vĩ đại của Đêcac, đã có bao cái khác nảy sinh. Hồi đánh Mĩ, cả Chế Lan Viên cùng Việt Phương đều nhất quyết: Ta đánh Mĩ vậy ta tồn tại. Trong tình yêu thì Lưu Quang Vũ cũng ngất ngây: Anh yêu em vậy anh tồn tại. Lời kia sắm vai triết gia của kháng chiến, lời này diễn vai triết nhân của ái tình. Còn Duy không thế. Duy nói lên cái triết lí thảo dân: Ta là dân vậy thì ta tồn tại. Thực tình, phải đến sau này, 1989, anh mới đúc thành châm ngôn tổng quát như vậy. Nhưng cái tư tưởng trọng dân thì vốn đã sẵn trong căn cốt rồi. Không thế, làm sao hồi 68 - 70, cậu lính non choẹt bấy giờ đã thấy ra và ghi lòng tạc dạ: "Một đời không thể nào quên / lòng dân - chiếc mộc vững bền che ta"? Còn đến 1993, sau hơn 30 năm, tính từ bài thơ đầu đời, thì nó đã thành hẳn một tuyên ngôn bướng bỉnh: "Cứ chìm nổi với đám đông / riêng ta xác định ta không là gì(...) Cứ là rượu của chúng sinh / cho ai nhắm nháp cho mình say sưa"... Chìm nổi cùng chúng sinh, làm rượu của chúng sinh, thế mới là chân thảo dân. Và đáng nói nữa, theo Duy, phải thế mới xứng là đấng tài tình"lẫn trong thập loại chúng sinh / người như thế mới tài tình làm sao". Duy ngộ ra điều ấy đúng cái lúc tảo mộ Nguyễn Du, hay Duy đang thầm lặng đưa ra quan niệm riêng để đánh giá tầm vóc Nguyễn Tiên Điền? Thật khó mà tách bạch. Chỉ biết cái lõi của nó chính là một chuẩn mực ngỡ như khiêm nhường, kì thực lại cực khe khắt về người nghệ sĩ: sống chết cùng thập loại chúng sinh, nói về họ, rồi thuộc về họ, mới là tột bậc tài tình. Hoá ra thế, thuộc về vô danh mới là vô giá. Mới là siêu danh. Đó chẳng phải thước đo cao nhất dành cho mẫu thi sĩ thảo dân hay sao?
     
Không có quan niệm đẻ ra tài năng. Chỉ có tài năng đẻ ra quan niệm. Vì quan niệm chân chính bao giờ cũng là sự lên tiếng của một đời văn. Nó phải được đời văn ấy bảo hành, bảo hiểm. Thực mà nói, hiểu ra sự bền vững muôn đời của dân, chả có gì mới. Dĩ dân vi bản, rồi thì quan nhất thời dân vạn đại là những tư tưởng đã xưa lắm rồi. Điều khó là anh, chính anh, có thể trở thành một định nghĩa sống hay không. Khối người có ý muốn cận dân, thân dân, muốn thành kẻ hát rong trong chúng sinh. Nhưng vẫn chỉ suông thôi. Để thành thi sĩ thảo dân xịn đâu có dễ. Chìm nổi cùng thập loại chúng sinh đã không dễ gì, làm được rượu của chúng sinh lại càng không dễ.

***

Quan niệm về nghề, dầu sao, mới chỉ là những định hướng bên ngoài. Nó nghiêng về phần ý thức xã hội của nghệ sĩ. Nó chọn mẫu nghệ sĩ và chọn hướng đi cho một cuộc dấn thân, chứ chưa hẳn là ý thức thẩm mĩ của anh ta. Nhưng ở Nguyễn Duy, nó cũng trở thành một phần của ý thức thẩm mĩ, khi được chuyển hoá vào hình tượng cái Tôi thi sĩ.
     
Tập thơ đầu tay "Cát trắng" in năm 73, tập thơ cuối cùng (lúc tuyên bố bỏ thơ) in năm 97 có tên là "Bụi". Tuyển tập in lần này sẽ có bốn phần như một mạch tuần hoàn: Đường làng, Đường nước, Đường xa và Đường về. Đó là hành trình thơ Nguyễn Duy. Hành trình từ Xó bếp ra Thế giới. Từ hạt Cát đến hạt Bụi. Hành trình của "giọt nước lìa nguồn ra biển", của "giòng nước trôi đi giọt nước lại rơi về". Trên những chặng đường dài dặc ấy, Nguyễn Duy đã trình ra trọn vẹn cái tôi của mình. Là hạt nhân của một kiến trúc nghệ thuật, cái tôi trữ tình thường được hình dung như một hình tượng sống, với nhân dạng, với tư thế và tâm thế trữ tình đặc thù. Nó nảy nở từ con người thực của tác giả, nhưng đã được điển hình hoá để trở thành một hình tượng nghệ thuật toàn vẹn: hình tượng Cái Tôi. Ở Duy ? ấy là cái tôi thảo dân. Này xem, những ẩn dụ tự hoạ mới cỏ giả làm sao! Duy thường ví mình như hạt bụi bay trong cõi người, như hạt cát dạt trôi trong lòng sông Mạ, như "giọt nước nhỏ biệt tăm ngoài biển cả"... và thiết tha nhất là như cỏ dại vô danh mà hữu ích: "những mong có ích cho người / dẫu làm thân cỏ dập vùi... sá chi". Chẳng phải đó là thảo dân theo nghĩa đen của chữ hay sao!
    
Tôi vẫn cho rằng hình tượng sống động luôn là nhất thể toàn vẹn, nó toàn vẹn bởi sự hoà hợp của các đối cực. Tôi tin vào sự hoà hợp này. Đó là cấu trúc phổ biến của vẻ đẹp. Cái tôi Nguyễn Duy cũng thế. Các đối cực ngỡ đầy nghịch lí đã hài hoà trong một nhất thể. Một mặt, nó cực bụi: "ta nhớ ta / bụi bặm quê nhà", mặt khác, nó cực nghiêm: "xin nghe anh nói cực nghiêm / linh hồn cát bụi ở miền trong veo". Hình hài thì cát bụi, linh hồn thì trong veo. Vừa là "gã hát rong không xin tiền" vừa sẵn sàng viết "những câu thơ tuẫn tiết". Cỏ giả thôi mà Nghĩa khí đấy. Nghĩa khí đấy mà Cỏ giả thôi. Nếu thiếu sự hoà hợp của các đối cực như thế, làm sao có thể coi là một cái tôi thảo dân chân chính được ?

Tuy nhiên, trong thế giới hình tượng, cái bản nguyên này vẫn thường hiện ra với hai bản tướng: thảo dân khoác áo lính và thi nhân trong kiếp thảo dân.
      
Là lính, thì chàng lính này vào chiến trường sẵn sàng xả hết mình vì nước gặp tai ương, chứ cóc phải vì ham súng đạn, mơ chiến tích, hay màng huân chương. Không máu mê đánh chác, không ngất ngây trước đụng độ máu lửa. Mà ngay cả lúc bị cuốn đi giữa "sục sôi bom lửa chiến trường", thì "tâm tư yên tĩnh vẫn vuông một vùng". Chủ yếu là những tâm tư ở bề sâu của cuộc chiến. Không hẳn là cái nhìn sử thi, cũng không hẳn là cái nhìn đời tư. Anh lính ngay lúc trẻ đã già này nhìn chiến tranh bằng cái nhìn của một thảo dân. Một thảo dân đích thực bao giờ cũng vừa thiết tha với số phận đất nước, vừa lo âu cho thân phận chúng sinh. Trong cái nhìn ấy, phần trăn trở nhất của chiến tranh vẫn là thân phận người, thân phận lương dân. Những lẽ Hơn - Thiệt, Được - Thua, Thắng - Bại, Vinh - Nhục, Họa – Phúc, Sang - Hèn, Còn - Mất... nhất nhất phải lấy sự an nguy của dân lành làm chuẩn. Cái nhìn ấy khiến anh soi thấy "Cát trắng ánh lên màu đỏ". Thấy bom dội thì "nhà bà tôi bay mất / đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền / Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết / bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn". Thấy lính tráng suốt đời chỉ biết gối lên tay mình mà ngủ thì cất lên lời ru đồng đội. Đuổi theo thằng lính địch thì chỉ muốn bắt, không muốn bắn - không ham giết một kẻ thù, chỉ mong cứu một đời người - nghĩa là vì một chiến thắng cao hơn. Thấy "AQ túm tóc Chí Phèo / để hai bác lính nhà nghèo cùng thua". Thấy một tân binh thì, cái tôi đã vào sinh ra tử với nhiều lần chết hụt ấy có lời "chúc chú mày cứ đẹp như cây cảnh / và, lạy trời / không bao giờ phải ra trận". Thấy chiến tranh kết thúc thì vừa nhận ra những mảnh đời tan tác lưu lạc trên hai nửa đất đai đang sum họp, vừa thấy người bạn vĩnh viễn nằm lại bên kia cầu xa lộ vào cái giây chót cùng của cuộc chiến. Thấy "mỗi phút thanh bình thật đắt giá / Những giọt máu nặng như chùm quả"... Và bao trùm hết thảy là nghiệm sinh này: "nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh / phe nào thắng thì nhân dân đều bại". Một cái tôi như thế chẳng phải là một thảo dân mặc áo lính hay sao?
      
Còn là thi nhân, thì chân ướt chân ráo vào nghề đã tuyên ngôn dứt khoát "là ta ta hát những lời của ta", đã đau đáu một nguyện ước cất lên "những tâm tình ở đằng sau tâm tình". Vào những năm 70, thời "minh họa" và "phải đạo" còn ngự trị, tâm nguyện thế này chẳng phải như một thứ tiên phong cho thức tỉnh và đổi mới sau này hay sao ? Mà thơ Duy là thế, lúc nào cũng là "những tâm tình ở đằng sau tâm tình"! Điều rất đáng nói nữa là: cái tôi thi nhân kia thực là kẻ có đạo. Ấy là Đạo Chân Thành - "dù có sao cũng phải chân thành". Cả trong thơ lẫn trong đời, Duy đều coi chân thành là cứu cánh và cứu tinh của mình. Không chân thành làm sao dám nói lên những tâm tình ở đằng sau tâm tình ? làm sao có thể sẵn sàng tuẫn tiết viết những lời thơ đánh thức lương tri ? sẵn sàng làm những bài thơ "hạng nặng”1 như "Nhìn từ xa... Tổ quốc", "Đánh thức tiềm lực", "Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ" để nói thật, nói thẳng, không hề tránh né những vấn đề bức xúc của thì hiện tại được ? Rồi nữa: cái tôi thi nhân kia lúc cần tự họa mình thì cũng cứ chân thành đến đáy, chẳng hề làm dáng làm duyên, chẳng nề hà những nhếch nhác, bụi bặm. Là "một thằng dớ dẩn / ngồi làm thơ rưng rưng". Là "thi nhân hoá phăm phăm ngựa thồ". Là kẻ mắc bệnh thơ - "Con ơi cha mắc bệnh thơ / ú a ú ớ ù ờ thâm niên /lềnh phềnh thân phận chúng sinh / lênh phênh hồn xứ thần linh tít mù".Là "gã hát rong chẳng xin tiền”. Là “xẩm ngọng”, mà “ngạo nghễ khúc đồng dao nhăng cuội "... Nghĩa là không phải cái tôi cao đạo, khoác áo tao nhân mặc khách. Không phải cái tôi triết nhân khệnh khạng táo bón. Không phải cái tôi quyền uy rao giảng phán truyền... Đừng nghĩ cái tôi này làm ra thế là muốn dị ứng với những cái tôi đó. Hoặc kị giơ với quí tộc, trí thức, thị dân, chính khách. Chẳng dại gì, mà cũng chẳng hơi đâu. Cũng đừng vội chụp mũ rằng thế là cái tôi phi chính trị. Một con người tự đáy lòng đã khắc cốt ghi tâm "dù ở đâu cũng Tổ quốc trong lòng / cột biên giới đóng từ thương đến nhớ", làm sao lại thờ ơ hay quay lưng với chính trị được ? Nghe thêm Duy nói đây này, trực tiếp bằng chính luận chứ không phải gián tiếp qua thơ phú gì gì đâu: "Là một nghệ sĩ mà anh đã đứng về phe Nhân Dân, Dân Tộc thì trong bất kì thời đại nào anh phải có thái độ chính trị của mình... Nhà văn có thái độ chính trị nhưng nhà văn không phải là cái đuôi của chính trị". Vâng, cái tôi đây chỉ muốn là chính nó - một thi sĩ thảo dân,một thảo dân thi sĩ. Thế thôi. Đây, hãy xem bộ dạng tự hoạ (không hẳn là tự trào!) của Duy thế này: "Ta dù lếch thếch lôi thôi / mong thơ sinh hạ cho đôi ba dòng...Cứ bèo bọt bước thiên di / đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng...Cứ là rượu của chúng sinh / cho ai nhắm nháp cho mình say sưa / Cứ như hoa cỏ bốn mùa / giọt sương giọt nắng giọt mưa vơi đầy", chẳng phải là một thảo dân xịn sao? Cái chân-dung-tổng-quát nhìn lệch, hay là nhìn loằng ngoằng này, xem thế mà nét đáo để !

***

Lõi cốt  của quan niệm thẩm mĩ vẫn là quan niệm về cái đẹp. Tôi cho rằng, về căn bản, nhân văn là thái độ trước cái Đẹp, còn nhân đạo là thái độ trước cái Khổ. Hạt nhân của thái độ nhân văn là tình yêu, còn hạt nhân của thái độ nhân đạo là tình thương. Tuỳ tạng người mà nặng về từng phía. Có lẽ không chỉ ở xứ ta, vấn đề dằn vặt dân đen nhất vẫn là cái Khổ. Khổ vì đói, nghèo, vì thiên tai, địch họa, vì áp bức xách nhiễu... Do Khổ là một thực tại quá phổ biến và dai dẳng, mà thơ ca dân gian than Khổ có phần đậm hơn mê Đẹp. Đến nỗi hễ ai mải mê tìm kiếm cái đẹp đơn thuần, ít nói đến khổ, thì dễ bị coi là kẻ nhởn nhơ, vô tình. Oan mà khó cãi. Đành rằng, thi sĩ phải là kẻ đồng cảm trước hết với cái khổ. Nhưng ngoài cái khổ thảo dân, còn có cái đẹp thảo dân. Không lập được một mĩ học phù hợp, đừng hòng trở thành rượu của chúng sinh.
        
May thay, ngay từ trong "cơ địa", Duy đã sẵn mang một mĩ học như thế. Duy nhạy cảm với cái Khổ. Anh tâm sự: "Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo / quen cái thói hay nói về gian khổ / dễ chạnh lòng trước cảnh thương tâm". Cũng sinh ra ở xứ Thanh "ăn rau má, phá đường tàu, đục ống dẫn dầu, cắt dây điện thoại", tôi hiểu những bộc bạch thành thực kia có cội rễ từ đất nào. Nhưng anh không nỉ non than nghèo kể khổ. Chẳng mới gì, mà cũng chẳng ích chi. Hướng của Duy là tìm cái Đẹp trong cái Khổ. Cũng theo hướng này, có khối người đã thơ mộng hoá cái Khổ. Chấp nhận khổ và ráng chịu khổ từng được xem như cái Đẹp một thời. Cái Đẹp thế đồng nghĩa với chữ Nhẫn. Coi Nhẫn một bề là Đẹp, làm sao còn biết ngẩng lên ! Giờ Duy cũng thi vị hoá một bề sao ? Duy không vô tâm, tàn nhẫn thế. Chỉ ai muốn lừa mình, mị người mới thế. Cũng tìm cái Đẹp ngay trong cái Khổ, nhưng quan niệm của Duy khác: khắc chế cái Khổ và vượt lên cái Khổ đó chính là cái Đẹp. Một tư tưởng mĩ học như vậy thật khoẻ khoắn và thực tế. Đó chỉ có thể là mĩ học thảo dân. Hướng tới cái đẹp đó, thái độ nhân đạo và nhân văn của nghệ sĩ đã tìm thấy được tiếng nói chung để hoà giọng, hoà điệu. Duy đọc ra di chúc của người xưa giấu trong bức tranh "Lí ngư vọng nguyệt": "bùn nước rong rêu đắm chìm lặn lội / cứ lững lờ nhắm nháp một vầng trăng". Nhọc nhằn lam lũ không hề loại trừ lãng mạn thăng hoa. Đọc vào tre Việt Nam, Duy thấy cái lẽ sống của tre là vươn mình, vượt khổ:"Vươn mình trong gió tre đu / cây kham khổ vẫn hát ru lá cành". Kham khổ đắng cay nhưng đâu thiếu ngọt ngào đằm thắm... Duy nhận ra cái đẹp của hoa chắt chiu (tôi ngờ, nguyên nó là hoa chạc chìu?): "Đồi cằn hoa cũng chắt chiu / Chắt chiu hoa muốn nói điều chi đây / Dạ thưa một chút hương này / Mồ hôi hoa đấy tháng ngày chắt chiu". Nhận ra cái đẹp của tre Việt Nam: "Rễ siêng không ngại đất nghèo / Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù"... Khổ mà vẫn Đẹp, Đẹp bởi vượt lên Khổ, là thế. Không có quan điểm kia, làm sao Duy có thể trân trọng, chắt chiu được những vẻ đẹp này ?
      
Tôi vẫn cho rằng niềm trăn trở nhất trong suy cảm trữ tình của một nghệ sĩ chân chính là chuyện Còn - Mất của những gì mình coi là quí giá thiêng liêng. Nghĩa là niềm canh cánh về Giá trị và Phản giá trị. Tư duy nghệ sĩ sẽ phân lập toàn bộ thực tại thành dãy tương ứng : đẹp - xấu, tốt - xấu, hay - dở, sang - hèn, thanh - phàm, thiêng - tục, thật - rởm, lành - dữ, nghiêm - chơi, hữu ích - phù phiếm, cao quí - xoàng xĩnh, cao cả - thấp hèn, vĩnh cửu - chốc lát, trường tồn - thoáng qua, bất diệt - băng hoại, vững chãi - mong manh, bền thắm - phai tàn v.v... Cái thế giới nghệ thuật sống động của nghệ sĩ, trong chiều sâu của nó, sẽ là sự tương tranh không ngừng mà đầy biến hoá giữa các đối cực ấy. Một bản lĩnh nghệ thuật phải bộc lộ thành xác tín về sự vĩnh viễn của những gì mình coi là giá trị. Duy cũng thế. Nhiều lúc ngẩn ngơ nhận thấy: "có gì lạ quá đi thôi / khi gần thì mất... xa xôi lại còn". Và vẫn hằng tin: "Sẽ còn mãi những gì không thể mất". Vậy, giá trị nào, cái đẹp cụ thể nào đã trở thành đức tin của thi sĩ thảo dân này ? Nhìn tổng thể có thể thấy: đơn sơ mà kì diệu chính là diện mạo bao trùm của cái đẹp Nguyễn Duy. Đơn sơ chứa đựng kì diệu, kì diệu ngay trong đơn sơ. Cái đẹp ấy sẽ chi phối ngòi bút của anh trong việc sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của mình, từ nội dung đến hình thức, từ cảnh vật tới nhân vật...Duy sẽ đi vào cái vô danh để mang về cái vô giá. Đi vào "những cọng rơm xơ xác gầy gò" để chắt chiu thứ "hơi ấm hơn rất nhiều chăn đệm". Đi vào cái tối để mang về ánh sáng: "thình lình đèn điện tắt / phòng buyn đinh tối om / vội bật tung cửa sổ / đột ngột vầng trăng tròn". Đi vào cái lặng im mang về những cái giật mình sâu thẳm: "trăng cứ tròn vành vạnh / kể chi người vô tình / ánh trăng im phăng phắc / đủ cho ta giật mình". Đi vào cái nhỏ nhoi, mang về cái cao quí, đi tới chốn mong manh để đem về cái bất diệt: lắng nghe câu hát đảo đèn để nhận ra trong câu hát có cái gì bất diệt, ngắm nhìn hạt cát long đong chìm nổi trôi dạt trên những ngọn triều của cuộc đời thấy hạt cát có cái gì bất diệt, đi vào cái mất để đem về cái không thể mất: "Bao triều vua phế đi rồi / người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ", "dẫu cho dòng thời cuộc cứ trôi đi / dẫu em sẽ già như bà vũ sư kia / thì còn lại muôn đời là điệu múa / Cái đẹp giương cao ngọn cờ bất diệt","Tuổi thơ tôi cứ ngỡ mất đi rồi / năm tháng trôi qua không bao giờ chảy lại / cái năm tháng mong manh mà vững chãi / con dấu đất đai tươi rói mãi đây này"... Quan điểm ấy đã giúp Nguyễn Duy vững vàng đi suốt con đường nghệ thuật của mình.
      
Cố nhiên, không phải ngay từ đầu mọi chuyện đã hoàn chỉnh đến thế. Có thể thấy tư tưởng của anh ngày càng định hình cùng hai bước ngoặt lớn. Lần thứ nhất : đối mặt với thực tại chiến tranh. Trước khi vào lính, cũng như bao người khác, Duy còn "trong suốt giữa hai bờ hư thực", nghĩa là cả tin và ngây thơ giữa cõi thực và cõi hư, mà hư lại nhiều hơn thực. Thực tại tàn khốc của chiến tranh với "bom Mĩ dội nhà bà tôi bay mất / đền Sòng bay bay tuốt cả chùa chiền / Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết / bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn", đã thẳng tay ném Duy về hiện thực. Cái hiện thực của kiếp thảo dân: "Khi tôi biết thương bà thì đã muộn / bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi". Và lần thứ hai, đối mặt với thực tại sau chiến tranh khi thấy "tầng ôzôn có vấn đề gì đó". Một lần nữa, anh lại thấy "Bụi thần thánh nhấp nhánh rơi", và nhất quyết đem "trả cho sao một chút trời xa xăm", còn riêng phần mình thì hoàn toàn "bình tâm làm hạt bụi người mà bay". Nghĩa là anh mới thấu suốt cái vạn đại của thảo dân, cái vĩ đại của rạ rơm, cái trong veo của cát bụi: "xin nghe anh nói cực nghiêm / linh hồn cát bụi ở miền trong veo"Đơn sơ mà kì diệu, bấy giờ, không chỉ là một chân lí của nghệ thuật, mà đã trở thành xác tín của nhà nghệ sĩ. Bấy giờ, chìm nổi với thập loại chúng sinh, suốt đời làm rượu của chúng sinh, thực sự thành lẽ sống của Duy.

3. ... đến thập loại chúng sinh thì hiện tại                                                                

Xây dựng thế giới nhân vật không phải là công việc nhất thiết của một thi sĩ trữ tình. Điều căn bản là bộc lộ cái tôi của mình. Tuy nhiên, cái tôi ấy chỉ thực sự được phơi trải khi gặp đối tượng của nó. Cho nên nhân vật trong thơ trữ tình vừa là đối tượng khách thể vừa như những đối ảnh, những hoá thân, hiện thân khác nhau của cái tôi thi sĩ. Cái thế giới mà Nguyễn Duy dựng lên suốt cả nghiệp thơ của mình, hoàn toàn có thể coi là cõi chúng sinh thì hiện tại: binh lửa và bụi bặm, bùn nước và gió trăng, nghèo đói và tiềm năng, tàn phá và gây dựng, xơ xác và nhen nhóm, bần bách và phù hoa ... mà đâu đâu cũng là mồ hôi và nước mắt. Có ngẫu nhiên đâu, khi ở đó, nhân loại nhân vật của thi sĩ này hầu hết là thảo dân ! Họ là thập loại chúng sinh thì hiện tại. Trong đó, ta cũng thấy bóng dáng những ông vua. Nhưng hoặc là ông vua vì chúng sinh mà phải gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người (vua Duy Tân), hoặc là đã trải hết nỗi đời một thảo dân, trăm sự đều vì đời sống lương dân (Pie đại đế), chứ không phải loại vua coi dân là lương thảo. Còn thì tất cả thuần là thứ dân. Họ là những bà và mẹ -  "Bà và mẹ hoá cánh cò cánh vạc", là ông và cha - "ông và cha man mác kiếp trâu cày", là bà mẹ đồng chiêm - "bà mẹ đón tôi trong gió đêm / nhà mẹ chật nhưng còn mê chỗ ngủ / mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ / rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm", là ông già sông Hậu - "Trôi dạt theo sông về đây cày cấy mướn / sống giang hồ trên đồng ruộng bao la". Họ là những Thị Nở, Thị Đốp, Thị Kính, Thị Màu, những AQ với Chí Phèo. Họ là ông già Chàm gù lưng, là lão bị gậy khóc khàn trên sân ga, là bà bới rác nằm co ro gầm cầu, là một em điếm ế đón giao thừa gốc cây, là chú bé đi bụi khoèo mái hiên lắng nghe pháo tết, là một người nạng gỗ ngồi bên sông nhớ nhà, "những sinh linh đầu đường sinh linh cuối chợ / tết đến đùng đùng ai đi đâu về đâu".v.v... Họ đều "Lóc cóc kiếp đá cuội, kiếp bùn nước", kiếp "con cò lặn lội bên bờ đại dương", "ngán ngẩm những con đường mệt lử", suốt đời "thình thịch những bước chân toẽ ngón", "những bàn chân Giao Chỉ"... Nhưng, họ không chỉ mang nỗi khổ thảo dân mà còn mang cái đẹp thảo dân. Họ sống với những lẽ phải muôn đời, giản dị đến nôm na mà lớn lao đến khôn lường, thâm trầm khiến ngơ ngác:"Ai nghèo thiếu qua chia cơm xẻ áo / bụng người sôi cũng sôi giống bụng ta / ki cóp một thân làm chi cho cực / giàu ở lòng còn đẹp ở thịt da / dư ít nuôi làng dư nhiều nuôi nước / thành tích đéo gì mà phải nêu tên", "Cha tôi đó dân làng tôi vậy đó / xả hết mình khi nước gặp tai ương / rồi thanh thản trở về với ruộng / sống lặng yên như cây cỏ trong vườn". Chẳng phải họ là thảo dân theo nghĩa đen của chữ đó ư ? Cái đạo lí muôn đời của thảo dân vẫn vậy. Có gì bình dị mà vĩ đại hơn thế ? có gì đơn sơ mà kì diệu hơn thế ? Duy viết về họ bằng niềm cảm thương, bằng nỗi đau đời day dứt, nhưng hơn hết là bằng một niềm kính trọng.
           
Trong cuộc sống cũng như trong thi ca, người ta yêu thương cả nhân loại thật dễ, còn yêu thương được những người cụ thể thật khó. Cái lẽ của thường dân vốn cho rằng: khó có thể tin vào tình thương dành cho nhân loại của ai đó, nếu như kẻ ấy không biết thương ngay những người quanh mình, những  người thân của mình. Lòng thương với những người máu mủ ruột rà bao giờ cũng là thước đo tin cậy nhất cho lòng nhân ái của một con người. Ta hiểu vì sao, dù phiêu dạt đường nước, dù phiêu du đường xa xứ người, với bao nhiêu là mời gọi quyến rũ, Nguyễn Duy vẫn đau đáu một niềm cố hương, vẫn thiết tha đến thế với "cỏ và lúa và hoa hoang quả dại vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải - bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua..., thuỷ chung đến thế với tre pheo, rơm rạ, xó bếp, góc vườn, cái chum, cái chĩnh, cái rổ, cái xề, nặng tình đến thế với bạn bè đồng đội... Ta cũng hiểu vì sao trong nhân loại nhân vật của thi sĩ này, hình ảnh và thân phận những người máu mủ ruột rà của anh lại động lòng người đến vậy: bà- "bà mò cua xúc tép ở đồng Quan / bà đi gánh chè xanh Ba Trại / Quán Cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn", mẹ - "Mẹ ta không có yếm đào / nón mê thay nón quai thao đội đầu", cha - "ai thấy nữa ông già đầu bạc xoá / đẩy xe thồ ngang dọc lũng Tà Cơn"... và vợ. Duy dành cho vợ hẳn một tập thơ - tập "Vợ ơi"(1995). Việc này ở ta xem ra là độc nhất vô nhị. Cảm hứng về người yêu thì vô tận, cảm hứng về vợ lại dễ... cùng tận. Người ta vẫn kháo nhau rằng thơ cho vợ chỉ có độc một loại thôi: ấy là "thơ...vẹo". Nghĩa là "theo vợ" ấy mà ! Nhưng Duy không thế. Thơ về vợ của Duy gợi ta nhớ đến Tú Xương. Cũng thương rát lòng, cũng đau thắt ruột, cũng cười ra nước mắt. Bà tú xưa chênh chao ở mom sông, bà tú nay chòng chành giữa phố :"Áo mưa vợ giăng cánh buồm giữa phố / Chồng với con mấp mé một thuyền đầy / năm tháng bão giông sang sông lũ đổ / một tay em chèo chống ngày ngày ngày". Có điều, ông tú đời nay không thể chỉ thương với hận suông. Mỗi khi bà tú đời mới lăn ra ốm, ông tú Duy (thực ra là ông cử) lập tức hoá thành ngựa thồ để lo đủ "việc thiên việc địa việc nhà / một mình anh vãi cả ba linh hồn". Gặp tai ương ập xuống làm cho sất bất sang bang, vì cuộc sống của thân nhân, anh đành phải cắt lòng bán bớt đi một ít vàng ròng để cứu khổ cứu nạn. Rồi thì vợ chồng cứ lầm lụi, chia sẻ nhau cái phận người của mình, với cái khổ thảo dân  cái đẹp thảo dân.
                                                 
***

Vào thơ Duy mà chỉ nói chuyện tư tưởng, quan điểm mĩ học với lại hành trình sáng tạo cùng thế giới hình tượng vầy vậy không thôi, khác nào chỉ sắm được mỗi vai "triết gia quàu quạu". Nói chuyện tình nghĩa mà quên chuyện tình tang, thì e rằng khối tình kia hãy còn thiêu thiếu. Đơn giản vì cái tôi mà Duy sáng tạo ra quả là một thảo dân chánh hiệu, nghĩa là: cực nghiêm mà cực bụi (bụi dân sinh ấy bụi người đấy em), cực tình nghĩa mà cũng cực tình... tang. Trong bất cứ thi sĩ nào cũng có một gã tình nhân. Mỗi gã yêu theo một tạng. Thơ yêu của Nguyễn Duy thuộc tạng nào đây ? Thì còn tạng nào ngoài tạng... tình tang. "Ai sinh ra thói tình tang / để ai hoá gió lang bang quê nhàAi làm ra lúng liếng sông / để đưa tu hú sổ chồng sang ngang". Dường như, trong hồn gã thảo dân này vẫn có một ngọn gió lang bang như thế, vẫn có một con tu hú như thế. Trách chi, Duy đã làm cả một "Bài ca phiêu lưu", dành một nhiệt hứng "hơi bị" trong lành để "lập thuyết" cho chuyện tình tang: "Xin em đừng nản lòng yêu / tình tang là cuộc phiêu lưu tuyệt vời". Tình tang đây có vẻ gần với lối phong tình dân gian, "lối huê tình" của người Quan họ. Suy cho cùng đó là những cảm xúc nhân văn, là nhu cầu thăng hoa, là những khoảnh khắc quên đi kiếp rong rêu bùn nước để lững lờ ngắm một vầng trăng, là "thêm chút sang bớt chút hèn / Nhìn em thôi đủ yêu em rất nhiều". Duy có cả một lí sự thảo dân cho cái đẹp và cho "tính hợp pháp" của việc thưởng ngoạn những cái đẹp trời cho: "hình và nét cũng có thì / cất làm chi giấu làm chi của trời / không em đời vẫn đẹp thôi / có thêm em nữa thì đời đẹp thêm".Vậy nên, ngẫm cho kĩ thấy Duy chủ yếu tình tang bằng mắt: "Yêu bằng mắt cũng là yêu / cõi đời đẹp đủ liêu xiêu cõi mình". Dường như cái đẹp luôn giữ ta trong một khoảng cách. Khoảng cách của nỗi buồn. Nhưng trong nỗi buồn ấy, vẻ đẹp được bảo tồn nguyên vẹn. Đành lòng, cầm lòng đôi khi lại là một ứng xử cao cả đối với cái đẹp vậy. Khi ấy, khát vọng thăng hoa thành cái nhìn bao luyến. Những nồng nàn luyến ái như muốn bao bọc đối tượng trong một bầu khí quyển ỡm ờ và mơn trớn: "Người con gái chợt qua đường / áo em mong mỏng màn sương núi đồi / Chợt rơi lại một nụ cười / và... sương rười rượi một trời phía sau / Đem nhan sắc tặng cho nhau / em giăng cái đẹp ngang cầu ban mai / chả riêng ta... chả riêng ai / để heo hút gíó thở dài trên cây". Thăng hoa thành cái nhìn lơ đãng vờ: "tôi lơ đãng nhìn em nhìn lơ đãng / siêu nước pha trà vừa ấp úng sôi". Có phải "nguy tai" nhất là cái nhìn vòng vẹo: "Em e ấp nấp mình sau đá / để cái nhìn thành vòng vẹo quanh co" ? Chưa đâu, "giết người" nhất, phải là cái nhìn không nói này cơ: "Sông Thao thêm một lần tôi tắm / thêm một lần tôi đến để rồi đi / gió cứ thổi trống không ngoài bãi vắng / tôi nhìn em để không nói năng gì"... Đúng là đàn ông yêu bằng mắt. Ánh mắt phát sóng và phủ sóng. Mắt dù có tham lam táo bạo đến mấy cũng vẫn cứ là kênh giao cảm an toàn nhất, ít gây "xicăngđan" nhất. Ngay cả khi "đối phương" cảm thấy "nhìn ngắm còn tệ hơn sờ mó", nó vẫn dễ yên bề hơn cả. Bởi thế thơ yêu của Duy không thiếu nhục cảm, nhưng đều là nhục cảm từ thị giác thăng hoa thôi : "Ối giời ơi...nõn nà chưa / bột trinh bạch đấy trời vừa rây xong / hình như gò trắng phập phồng / bao nhiêu con gái ngủ trong tuyết dày"... Cũng bởi thế, trong thơ Duy, tình tang mà vẫn tình nồng, giây lát mà thiên thu. Những thoáng qua ngỡ trôi đi mà vẫn rơi về: "Yêu mến ạ xin đừng buồn em nhé / giòng nước trôi đi giọt nước lại rơi về"... Thì gốc của tình tang đây cũng vẫn là chuyện còn - mất cả thôi.
           
Từ đó, bèn có thơ rằng: thăng hoa... nào chỉ thăng hoa / tình tang thế mới gọi là... tình tang.
                                                          
4. Đùa ghẹo mà minh triết
         
Đọc Nguyễn Duy, theo liên tưởng ngang, ai cũng nghĩ đến vài tay bút nổi nhất của thế hệ thơ chống Mĩ. Còn theo chiều dọc, tôi lại thích liên tưởng đến Nguyễn Bính. Tất nhiên, chả phải nhằm tạo ra một cặp bài trùng: đằng ấy - "gã chân quê tiền chiến", đằng này - "gã chân quê đời mới". Cùng gốc quê đấy, nhưng khí xa nhau. Song, cứ đối sánh đôi chút, cũng có sao đâu! Bính là cái tôi lỡ làng- sinh bất phùng thời, Duy là cái tôi thảo dân -  thời nào cũng sống. Bính đoái thương các thân phận lỡ dở, Duy nổi chìm với thập loại chúng sinh. Bính là con chim lìa đàn, Duy là hạt cát lang thang. Bính kiêu bạc mà sầu tủi, Duy cỏ giả mà kiêu sang. Bính lang bạt tìm kiếm mình, Duy lang bang phơi trải mình. Bính muốn giữ nguyên quê mùa, Duy thèm quê mùa thay đổi. Bính ái ngại đổi thay, Duy thiết tha đổi mới. Bính dị ứng thị thành, Duy hoà đồng thành thị. Bính chỉ hồn quê, Duy thêm hồn phố. Bính hoài cổ, Duy canh tân. Bính nâu sồng, Duy bụi bặm. Bính bi, Duy lạc... Chỉ riêng điều tôi sắp nói đây thôi mỗi vị cũng thuộc một kênh khác nhau ấy là giọng điệu.
       
Nói cho công bằng cả Nguyễn Bính và Nguyễn Duy đều đi ra từ nguồn dân gian. Giọng điệu dân gian như một con sông lớn với hai luồng chính là điệu than và điệu ghẹo. Có lúc chúng nhập vào, nhưng thường khi là tách ra thành hai chi lưu. Than thì tràn ngập trong hát than thân. Ghẹo lại tràn trề trong hát giao duyên. Than ưa kể lể lâm li, tủi hờn mùi mẫn. Còn ghẹo lại thích trêu tròng đùa nhả, cười cợt ỡm ờ. Đằng thì thán, đằng thì tán. Do cái tạng của mình thế nào đó mà gã chân quê tiền chiến ưa triền miên trong nước mắt của điệu than. Thỉnh thoảng cũng có ghẹo ỡm ghẹo ờ, nhưng thưa hơn, mờ hơn. Còn gã thảo dân đời mới này ngay lúc cực mủi lòng cũng chả thích than lâu. Trái lại, cái tạng của gã có vẻ khoái ghẹo hơn. Không chỉ ghẹo trong tình tang, gã ghẹo cả trong tình đời. Lối ghẹo dân gian vốn chỉ bóng gió vòng vo, đến gã đã đa dạng, đa thanh và đầy sinh khí hiện đại. Gã trêu hoa ghẹo nguyệt rõ khéo, mà nhạo thế bỡn đời còn điệu nghệ hơn. Giọng ghẹo được pha thêm chút bụi nữa đã tải được rất ngon lành những tâm tình ở đằng sau tâm tình thảo dân của gã. Bởi thế, cùng với những lời rất tươi sống, lối ghẹo của Duy quả là rất đời. Rất nhiều lối nói ngỡ chỉ trong quán xá vỉa hè, lúc lai rai, khi cà trớn thế mà vào tay Duy đã lập tức được hoán cốt, thoát xác. Người ta thấy cái hướng lớn của thơ hiện đại là đi gần tới cấu trúc của lời nói thường, là sáp mãi vào lời và tiếng đang từng giờ từng phút sinh nở trên cái giòng đời phồn tạp. Thì thơ Duy cập nhật rất nhạy những hơi thở hôi hổi của ngôn từ. Trước, lời thảo dân chỉ được hiểu là lời quê. Nay, lời thơ Duy bén duyên với cả lời quê, lời phố, lời bụi hơi bị ngon lành. Đôi khi có cảm giác đang được hưởng thứ gió tươi trên đồng đất, chứ không phải thứ gió lọc qua máy điều hoà, được chén thứ thực phẩm tươi sống trên sông hồ, chứ không phải bảo quản trong tủ lạnh. Trong lối ghẹo của Duy, có thể thấy lắm khía cạnh thú vị đến quái quỉ của tiếng Việt đã được đánh thức và truy nhập vào ngôn từ thơ: "sọ dừa gặp vấn đề trì trệ / tri thức nhồi vào tri thức cứ phòi ra / mắt vấn đề toét tai vấn đề ù / bất an vấn đề giấc ngủ / sâu rầy đang vấn đề cánh đồng / rừng cây vấn đề cháy và trụi / trẻ lang thang vấn đề bụi đời", "Nghêu ngao hát ngọng nghẹo chơi / người cười nói xúc phạm người ngậm tăm siêng làm xúc phạm phàm ăn / kẻ đi xúc phạm kẻ nằm dài lưng / đàn kêu tưng tửng từng tưng / con trâu xúc phạm sợi thừng cột trâu / đàn kêu tinh tỉnh tình tinh / cái tâm xúc phạm cái hình vô tâm / ngứa nghề hát ngọng nghẹo thôi / người yêu nhau xúc phạm người ghét nhau", "Chân mây hơi bị cuối trời / em hơi bị đẹp anh hơi bị nhàu"... Xài được lối ghẹo này quả không dễ. Nó khác nào đang xúc phạm những thị hiếu hàn lâm, xúc phạm thứ ngôn từ đóng hộp trong những qui chuẩn xơ cứng. Kẻ bị xúc phạm hẳn đã mỉa: tưởng gì, đó là cái thứ vỉa hè bụi đời. Duy không chấp, chỉ nhắc nhẹ một chân lí giản dị mà thâm thuý này thôi: "đừng chê anh khoái bụi đời / bụi dân sinh ấy bụi người đấy em". Làm sao lại né tránh bụi, khi bụi vốn thuộc về cuộc đời này, khi bụi thuộc về đời nhọc nhằn bùn đất của thảo dân. Và con người là gì, nếu không phải là hạt bụi mang tư tưởng ! Những gì thuộc về con người đều không xa lạ với một nghệ sĩ. Là một thi sĩ thảo dân, tìm được thứ ngôn từ dính bụi mà lấp lánh chất folklore thế, khác nào như thợ đào dưới hầm tìm thấy được đá đỏ. Có phải ai cũng thấy được rubi trong đất bụi đâu. Có phải ai đãi cát cũng tìm được vàng đâu. Trái lại, khối người cầm vàng mà cứ ngỡ thau, rồi đem thử lửa khiến đau lòng vàng. Thì cứ việc thử đi, thử lại mà xem, ngay trong mỗi tiếng ghẹo đời kia có phải đều ẩn giấu một giọt lệ se lòng, một hạt muối xót lòng không ? Tiếng cười ghẹo đời lắm khi chỉ là phía thấy được của giọt lệ đau đời đó thôi. Nó là cái cực nghiêmẩn sâu trong những lời đùa, lời bụi vậy. Song, nói đi cũng cần nói lại, không phải không có những lúc thơ Duy bụi mù quá ngứa cả mắt, rụi mắt nhìn mãi mà vàng và rubi cứ... trốn biệt tăm.

Trước kia, Nguyễn Duy sính lối chính luận nghiêm nghị khắc khổ. Các triết lí lúc bấy không phải không sâu sắc. Nhưng nghe cứ thế nào. Có lẽ vì thế mà sau này Duy đã tự cáu về sự lẩm cẩm của mình: "Ta quàu quạu học đòi triết gia táo bón / những câu thơ nhăn nhó nhọc nhằn". Duy muốn cạch lối ấy. Tất nhiên, Duy chả dại gì mà từ bỏ cái ham mê chiêm nghiệm triết lí của mình. Mà cũng không bỏ được, vì hoạt động sáng tạo chân chính nào rồi cũng đi đến triết học, cũng lắng thành triết lí. Có điều, Duy đã xài thứ ngôn từ hồn nhiên, cùng lối ghẹo hơ hớ chất folklore của đời, nên triết lí giờ đây đời hơn, thảo dân hơn. Nghĩa là nó nôm na mà sâu sắc, sâu sắc mà thật nôm na, chả cần vẻ gì là lên giọng lí sự. Mà lại chạm đến những điều cốt lõi của cõi nhân sinh: "Hình và nét cũng có thì / Cất làm chi giấu làm chi của trời", "Có gì lạ quá đi thôi / khi gần thì mất xa xôi lại còn", "Ta đi trọn kiếp con người / cũng không đi hết mấy lời mẹ ru", " Trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội / Có một miền quê trong đi đứng nóí cười","Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ", "Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh / phe nào thắng thì nhân dân đều bại", "Bao nhiêu là bóng siêu nhân / khuất trong bóng cỏ giữa trần gian thôi", "Hiểu cho nhau sống đã là phiêu lưu", "Em như gạo điệu múa kia là rượu"... Kết tinh từ những tâm tình ở đằng sau tâm tình, có thể coi đó như nhữngminh triết thảo dân vậy.

5. Cây đàn hương hoả

Tôi dành phần cuối cho cây đàn bầu của gã thi sĩ thảo dân này. Cây đàn cũ xưa nhưng là thứ hương hoả của ông bà tổ tiên bao đời để lại. Nó dễ gần mà chẳng dễ chơi. Nói thế, là tôi đã mượn hình ảnh "xẩm ngọng" của Duy để nói về thể lục bát. Thì Lục bát cũng là một thứ đàn bầu chứ sao ! Trôi nổi mấy nghìn năm trên đồng ruộng sông hồ làng quê xứ sở, lại qua tay những Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu v.v..., có lúc cây đàn này đã bị coi là cũ kĩ còm cõi, khó mà tải được nhưng tâm tình của người hiện đại. Khối người đã bỏ nó. Nhưng Duy đã nhặt lấy mang về ôm ấp, chăm nuôi. Tựa như gã Aladin nhặt cây đèn về từ đống đồ cũ nát. Có điều, anh chàng xứ Batđa chỉ vô tình. Còn gã "làm nghề mộng du" xứ Thanh này thì cố tình. Đã là thi sĩ thảo dân ai nỡ hững hờ với lục bát cho đặng. Và không chơi lục bát sao có thể gọi là thi sĩ thảo dân. Duy không hững hờ. Duy phải lòng lục bát. Duy thấy giữa mình và lục bát biết bao nhiêu nghĩa cũ càng: "Câu thơ sáu nổi tám chìm / đụng thời xa lộ thông tin kẹt đường / vương thì tội bỏ thì thương / đành lê thê nốt đoạn trường mộng du". Vì thế, Duy bền lòng chung thuỷ: "cứ bèo bọt bước thiên di / đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng". Thực thì, lục bát vẫn được coi là hơi thở của thảo dân (câu sáu hít vào câu tám thở ra chăng ?). Trong tay Duy chẳng những nó được làm mới mà còn lẩy lên được cả những tâm tình ở đằng sau tâm tình. Và rồi, cũng hảo tâm như thần đèn, thần đàn đã luôn đền bù cho Duy một cách hào phóng. Cây đàn này của Duy chơi điệu mới, nhịp mới, hồn mới. Giai điệu lục bát của Duy có cổ điển, có dân gian. Nhưng phần chịu chơi nhất vẫn là phi cổ điển. Giai điệu vốn nghiêng về êm đềm như ru của lục bát được nhiều thế hệ ra tay cải biên để nó xích lại gần hơn với lời nói thường. Ở thời của mình, Duy cũng tỏ ra rất sành chơi. Vừa mở ra một thế giới "cơm bụi" cho thơ, Duy vừa "cơm bụi hoá" lục bát. Nghĩa là đưa lục bát về gần với cuộc sống trần ai vốn đầy bụi dân sinh của thảo dân thì hiện tại. Duy mạnh tay đốc quân, đưa những lời nói, lối nói đời mới xâm nhập vào cấu trúc lục bát, khiến nó phải nới mình ra, dàn xếp lại, tìm đến những dạng hài hoà cũng theo lối mới. Điểm ngắt nhịp trong lục bát giờ đây không nhất thiết cứ phải là nơi gặp gỡ của cả hai yếu tố: điểm dừng cú pháp và điểm dừng ngữ lưu. Mà có thể tách nhau. Khiến cho hơi lục bát có thể tràn lướt qua mỗi điểm, đặng cất lên những nét nhạc mới, ngay lúc còn lạ tai đã thấy khoái tai, khi đã quen tai rồi thì rõ là thú vị: "Thắng rồi - trận đánh thọc sâu / Lại về với mái tăng - bầu trời vuông", "Làng ta lại lóp ngóp làng / Lòng ta lại ếch nhái hoang cả lòng"... Vật liệu thuận nhất với nhịp chẵn của lục bát thường là từ đơn và từ đôi. Tuân theo thế thì an toàn. Nhưng an toàn thì sao có thể cách tân. Với tạng phiêu lưu của một tay bút dám chơi, Duy rất khoái dùng chùm ba, chùm bốn, đặc biệt là những từ láy kềnh càng. Thế mà anh vẫn dàn xếp ngon ơ : "ở đây có những người con / mang theo cái nõn nòn non lên ngàn", "đến đây gió cũng đi vòng / ngoằn theo khoeo núi ngoèo trong khuỷu rừng", "ngứa nga ngứa ngáy cỏ may trong lòng","yêu lăn yêu lóc la đà đã chưa","đủ phờ phạc đất đủ lao đao trời","Thấp tha thấp thoáng tháng ngày mong manh"...Trước Duy, rất vắng người chơi chùm bốn thế, nếu không nói là… chả thấy ai, kể cả Nguyễn Du, người vẫn được xem như vạn thế sư biểu của lục bát. Kì nhất là, nhiều lúc, ngữ âm của các chùm ba chùm bốn ấy cứ láng cháng lanh canh, va cụng nhau như đùa nhả, như trêu cợt mà gợi ra được cả những cảm giác, những tâm tư như cái bóng cứ chờn chợ ngoài ngôn ngữ. Đây là cái cảm giác Boston: "Bia lon thỗn thện người lon / ễnh ềnh ệch hõn hòn hon thùi lùi / Trắng vàng đen láng coóng đùi / Ngo ngoe ngứa nỗi buồn vui không màu"...  Bằng cách chơi chữ lai rai, chọi chữ dài dài, Duy cũng đem lại cho âm điệu và nhất là hình thức tiểu đối quen thuộc của lục bát một kiểu dáng đời mới, bảo rằng cân xứng mà tinh nghịch cũng phải, hay bảo rằng tung tẩy mà trang nghiêm lại còn phải hơn: "vô tư như thực như mơ như gì", "không ngây không dại không đành phảikhông","làng như làng mạc thuỷ tề / em như em giữa bốn bề thuỷ tinh", "mùi hoang dại cỏ gợi hoang vu người","nghêu ngao hát ngọng nghẹo chơi / người yêu nhau xúc phạm người ghét nhau",  "Em bây giờ có còn nhưbấy giờ", "thôi ta về với mình thôi / chân trời đành để chim trời nó bay", "trông người xưa ngẫm người nay"... Không mượt mà ngân nga, cũng không dồn toa trúc trắc. Mà như nói, như không. Ngẫu hứng mà gia công, gia công mà ngẫu hứng, ấy mới thực là thứ lục bát giàu sinh lực. Gọi lục bát Nguyễn Duy là lục bát điệu nói thì đã hẳn. Phải thêm là: nói chơi chơi mà súc tích lạ lùng mới phải: "Tự dưng nhớ thật nhớ thà / nhớ con đường chả đi qua bao giờ... tự dưng nhớ nước chưa mưa / thật thà lúc lắc đong đưa thật thà", "Em đi bỏ lửng cánh đồng / xơ gan hạt lúa nát lòng củ khoai / rạ rơm bạc phếch tóc dài / hai mà một một mà hai một mình"... Có lẽ bản lĩnh của lục bát Nguyễn Duy là ở đấy, cứ như vũ nữ trên dây, lắm lúc tưởng bước chân nhón đi trong vũ điệu thơ sắp khuỵu xuống hoá thành vè đến nơi rồi, thế mà vẫn không, vẫn cứ lúc lắc đong đưa thế, vẫn cứ thơ thế. Duy đã thổi hồn của thế hệ mình vào đó, đã đưa được hơi thở chúng sinh thì hiện tại vào đó. Nó không chỉ có hồn cổ, hồn quê, mà còn cả hồn phố. Vì thế, nó khỏe khoắn, nồng đượm, tân kì. Nó là rượu chúng sinh đựng bằng lục bát. Nó là Duy. Nghĩa là, dù Duy vẫn dùng cả những thể khác, nhưng chỉ ở lục bát, thân thủ của anh mới phô hết những cao cường, chỉ ở lục bát, hồn vía Nguyễn Duy mới dậy men nổi gió làm "trời lao đao đất lao đao lừ đừ" đến thế. Vậy nên, hiện Duy có tuyên bố ngừng thơ, thì chỉ nên hiểu là ngừng làm thơ, chứ không ngừng sống thơ. Với Duy, ngừng thơ ắt là ngừng thở. Một ngày kia nếu gã thi sĩ thảo dân này  tái xuất giang hồ với thi ca bằng một bài thơ mới, tôi dám cược một ăn mười rằng bài ấy tất phải là lục bát. 

CHU VĂN SƠN 
Nguồn: VanVn



NHÀ THƠ HOÀI ANH LẦM LŨI QUA CÕI NGƯỜI

“Hoài Anh vẫn lầm lũi cuốc bộ một mình trên con đường của anh. Anh vẫn lơ ngơ đi giữa cuộc sống cùng nỗi cô đơn. Cô đơn, muôn đời là sự khởi nguồn cho sáng tạo!”
Nhà thơ Hoài Anh

       Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
       Ra phố mua bao thuốc lá
       Chín năm sau anh mới trở về nhà.

             (Nhớ ngày thủ đô kháng chiến- Hoài Anh)

Theo câu thơ, tôi lần đến tìm nhà thơ Hoài Anh. Không nhớ chính xác là năm nào, nhưng hình như là năm sáu chín, bảy mươi gì đấy. Hà Nội đã vào cuộc chiến tranh chống trả quyết liệt với không lực Hoa Kỳ. Điện đóm Hà Nội mất thất thường. Nhà anh ở phố Hàng Bồ, nhưng nhà phía trong, phải qua một lối nhỏ hun hút tối. Lối đi nhỏ và sâu, ban ngày cũng tối mù như ban đêm. Vừa đi, vừa lần tay dọc bờ tường mà bước. Thỉnh thoảng, lại giật mình vì hụt bước chân, bởi lối đi cao thấp bất chợt. Đã vậy, phòng anh ở lại trên gác hai, phải leo qua cầu thang gỗ cũ kỹ ọp ẹp và nhớp nháp. Gian phòng rộng chừng hơn chục mét vuông. Cả giường chiếu, sách bút, chạn bát, bếp dầu đều được xếp bề bộn trong đấy. Với chỗ ở như thế, thời điểm ấy, với anh em viết là lý tưởng lắm rồi. Chỉ tội mái thấp, không có cửa sổ, nên nóng kinh khủng, Tôi ngồi bệt xuống sàn gỗ mọt ruỗng cũ kỹ, tay cầm quạt nan quạt nấy quạt để xua bớt cơn nóng mùa hè. Nhà thơ khi ấy đang dở tay bắc nồi cơm, vì người vợ anh đi làm chưa về. Ngồi chưa ráo mồ hôi, bỗng tôi rợn tóc gáy bởi sách báo, thước kẻ bay vèo vèo qua đầu. Hai cậu bé Văn - Vũ, cặp con sinh đôi của nhà thơ vừa chui ở gầm giường lên, chúng nô đùa ném đuổi táo tợn bất chấp khách khứa của bố.
Anh gắt khẽ con, rồi lúi cúi giở chồng sách lấy tập bài đưa tôi. Bài viết trên giấy giang vàng ố, mặt nhẵn mặt nhám. Tập bài có đến ba bốn bài viết về các làng nghề, tổ nghề. Chả là, dạo ấy tôi làm ở một tờ báo ngành, chuyên phải lo mục bài viết về mảng truyền thống của nghề thủ công. Anh là cộng tác viên thân quen của báo.

Hoài Anh là người thông minh, có trí nhớ rất đặc biệt. Chuyện về nghề dệt, nghề may, về ông tổ nghề rèn, bà tổ nghề tơ tằm... anh đều hiểu và kể vanh vách. Anh là nhà thơ, nhưng chăm chỉ viết bài cho nhiều tờ báo, để thêm tiền nuôi hai cậu con còn bé xíu và nghịch ngợm.

Nhận bài và đặt anh viết bài tiếp, tôi vội xin phép ra về để anh còn phải lo tiếp công việc bếp núc. Anh tiễn tôi ra cửa và phân trần: "Tôi phải tranh thủ viết bài ở cơ quan, về nhà, tôi làm đầy tớ cho hai đứa trẻ!".

Những năm chiến tranh ấy, không riêng Hoài Anh, mà như ai cũng sống vất vả. Nhưng xem ra nhà thơ Hoài Anh có cái dáng vất vả hơn. Khi áo trong quần, khi áo bỏ ngoài quần, lúc dép cao su bốn quai, lúc lê dép nhựa mòn gót không quai hậu, vai khoác túi vải vừa cũ vừa bẩn chứa đầy bản thảo sổ sách, anh đến các toà báo. Ngày ấy, Hà Nội hoạ hoằn lắm mới có xe máy. Xe đạp là phương tiện đi lại chủ yếu. Gia đình Hoài Anh có một cái xe đạp cũ, anh nhường vợ đi làm. Vả lại, anh lại không biết đi xe đạp, nên toàn cuốc bộ. Cuốc bộ từ nhà tới cơ quan. Cuốc bộ từ cơ quan tới các toà báo để gửi bài. Cứ men theo bờ hồ Hoàn Kiếm sang báo Hà Nội Mới, anh xuống phố Bà Triệu, để tới báo Cứu Quốc, báo Văn Nghệ. Tạt sang phố Hồ Xuân Hương, ném bài vào thùng thư của báo Tiền Phong, báo Thiếu Niên Tiền Phong. Tiện rẽ sang báo Tổ Quốc, báo Thống Nhất ở phố Nguyễn Du. Rồi quặt về phố Lý Thường Kiệt, qua báo Độc Lập lấy nhuận bút, rồi trở về nhà lo cơm nước là vừa.

Nói về tài cuốc bộ, trong giới cầm bút, có lẽ không ai hơn anh. Nhiều hôm, anh đi bộ xuống tận chợ Mơ, ngã Tư Sở, chợ Bưởi để gặp bạn viết đặt bài. Cứ lếch thếch như thế mà đi. Đôi chân anh đã quen đo độ đường của phố phường Hà Nội. Anh vẫn giữ thói quen đi bộ cả khi chuyển vào sinh sống ở Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn rộng dài đến vậy, đôi chân anh đi bộ làm sao xuể, nghĩ cảnh ngộ ấy mà thương anh làm sao!
***

Anh em viết thơ đầu thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước, khi được chọn bài in trong tuyển thơ "Sức mới 1, 2" và sau này được in trong tuyển thơ "Ba năm chống Mỹ cứu nước, 1965 - 1967" của NXB Văn học là như đã được khẳng định năng lực.

Bài thơ "Bức tranh gà" của Hoài Anh đã sớm được chọn in trong các tuyển thơ đó. Anh có mảng thơ viết về Hà Nội thời kháng chống Pháp rất hay. Đấy là hình ảnh những ngõ phố cổ, với con người Hà Nội hào hoa mà quyết liệt. Anh thân thuộc từ viên gạch vỉa hè tới chiếc ghế trong rạp hát và cả mái phố rêu phong nhấp nhô. Những địa danh: Cổng Đục, Ngõ Gạch, Ô Quan Chưởng, Hàng Đào, Hàng Bạc, rạp hát Tố Như vào thơ anh với rất nhiều cảm xúc. Tôi không tường tận thời thơ ấu của anh. Chỉ biết, anh sinh ra ở làng quê huyện Bình Lục (tỉnh Hà Nam) nhưng lên kiếm sống ở Hà Nội rất sớm. Rồi anh tham gia kháng chiến. Anh trải qua nhiều nghề. Có dạo, nghe đâu anh làm ở một rạp hát, lo việc nhắc vở và kéo phông màn gì đó. Có phải vì thế  anh hiểu được tâm trạng người nghệ sĩ trong thời khói lửa, mà viết được bài thơ hay "Lời thề rạp Tố Như" đó chăng?!

Dạo tôi quen biết anh, là anh đã làm việc ở Sở văn hoá Hà Nội. Kỳ đó, sở có sáng kiến in các tập văn thơ mong mỏng cho các cây bút trẻ ở Thủ đô. Tuy là sách mỏng thôi, nhưng lại tập hợp đông đủ anh em viết. Anh tham gia biên tập các tập sách đó. Rồi sau Hội văn nghệ Hà Nội ra đời, anh chuyển sang biên tập tạp chí của Hội một thời gian. Công việc giao tiếp nhiều, anh em viết ở Hà Nội, cả lớp già và lớp trẻ, hầu như ai cũng biết Hoài Anh. Làm công tác biên tập lâu năm, nhưng anh lại chẳng có một chức tước gì. Cấp trên không giao hay là anh từ chối không nhận? Anh có tính nồng nhiệt đốc thúc anh em gửi bài vở. Nhưng hễ tạp chí ra mắt, không có bài của tác giả này, tác giả kia là anh lại đau khổ phân bua "Tôi đã đưa vào rồi, trên không duyệt đấy. Khổ thế!".

Anh có tài viết nhanh. Viết báo thì đã đành. Ngay cả làm thơ cũng vậy. Báo này báo kia đang cần bài thơ về đề tài này nọ, tối đến đặt bài, sáng sau anh cuốc bộ đến nộp bài sớm. Mà toàn bài in được trở lên. Anh là người làm báo rất nhậy. Có báo cần bài viết nghiên cứu về điện ảnh, có tạp chí cần bổ sung bài viết giới thiệu một vở cải lương mới dàn dựng, anh nhận tất. Người đặt bài anh, yên tâm vì khả năng ứng phó của anh. Vì kiếm sống? Hay năng lực linh hoạt của người làm báo là thế ?!

Anh là người có kiến thức rộng. So với lớp anh em viết dạo đó, anh là người thông thạo Đông Tây Kim cổ. Chả rõ anh học hành từ khi nào, nhưng anh đọc được cả thơ chữ Pháp, lại dịch được cả thơ Đường, thơ Tống. Trời phú cho anh trí nhớ thực tài, nên việc học ngoại ngữ có thuận tiện chăng? Anh sáng tác trên nhiều thể loại. Về sân khấu, năm 1961, anh có kịch bản "Xe pháo mã" đã dàn dựng và có giải thưởng. Văn, có tiểu thuyết "Chim gọi nắng", 1989; có truyện lịch sử "Ngựa ông đã về", 1978; có truyện thiếu nhi "Đuốc lá dừa", 1981. Phê bình tiểu luận, có "Người chở đò thời đại", có "Tìm hoa quá bước", 2001. Dịch, có "Thế kỷ thơ tình Pháp" và "Một trăm bài thơ Đường", 2001. Nghe nói, anh còn soạn dăm bảy vở tuồng, cải lương cho các đoàn, song anh không đứng tên anh. Người đa tài đến thế, nhưng hễ nói đến thơ, là chợt sững người lại. Với anh, thơ vẫn là đền đài vĩ đại nhất. Anh lao tâm khổ tứ, đeo đẳng đuổi bắt và có lúc tưởng trắng tay vì nó.

Một người sống chết với Hà Nội, vậy mà sau ngày giải phóng miền Nam, anh đùng đùng quyết định chuyển gia đình vào Sài Gòn sinh sống. Không biết có phải tại đời sống của anh ở Hà Nội ngặt nghèo quá, hay anh muốn làm cuộc đi thực tế dài dài ở vùng đất mới, để anh đánh cuộc cùng thi ca?

Được tin anh rời Hà Nội, tôi không khỏi ngẩn ngơ. Phải chăng, những kênh rạch mênh mang và những cơn mưa rào bất chợt phương Nam đã hút hồn anh? Nếu sự xê dịch, để hồn thơ vụt loé, âu cũng là mừng. Nhưng lại có tin bạn bè cho hay: anh kỳ vọng vào đất cải lương trong ấy, hòng đem tài của mình xoay sở viết thuê vở này vở kia cho các đoàn diễn. Thật cảm thương cho nhà thơ Hà Nội di cư. Một năm, hai năm trôi qua, anh không bán được kịch bản cải lương nào. Đất cải lương phương Nam không đón nhận chàng thi sĩ chân đất đi bộ viết vở cải lương. Ngay cả bài vở của anh, hoạ hoằn mới được dùng trên các trang báo trong đấy.

Đời sống khó khăn vẫn hoàn khó khăn. Hai tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Anh như người lạc trong cơn lốc thị thành phương Nam. Bi kịch đã xảy ra với Hoài Anh: gia đình tan vỡ. Nếu đời sống anh em viết rời Hà Nội vào Nam đều khá lên, thì số phận đã đẩy anh ngược lại. Thế là anh mất vợ, mất nhà mất cửa. Nhà thơ lại khoác túi vải cũ mèm chứa đầy bản thảo đến ngủ tá túc tại bàn làm việc cơ quan. Đôi chân nhà thơ lại thất thểu trên các ngả đường Sài Gòn.

Trong một chuyến vào Sài Gòn, tôi xếp mau xong việc để đi tìm gặp nhà thơ Hà Nội thuở nào. Tới cơ quan anh, mọi người cho hay anh sang thư viện. Tôi sang thư viện, lại được tin anh đã tới thăm người bạn. Lần theo địa chỉ người bạn, tìm anh, anh lại cuốc bộ theo ngả đường khác rồi. Cuộc rượt đuổi tìm nhau không thành. Gọi điện tìm anh? Anh làm gì có điện thoại riêng? Tôi mường tượng ra anh đang lang thang một góc phố nào đó. Tứ thơ nào đó kéo anh đi hay đời thường cơm áo xô đẩy anh đi? Có thể anh tạt vào quán cơm bụi làm một đĩa cơm còm, hoặc ghé một quán cóc tợp một chén rượu đế, ngửa mặt nhìn dòng người thành phố quay cuồng như cơn lốc. Và có thể anh chờ đêm xuống, để về ngả lưng trên bàn cơ quan. Giấc ngủ mơ màng có đưa anh về với bóng Tháp Rùa và rạp hát Tố Như ?...

Cô đơn là tài sản của người nghệ sĩ. Có một ai đã nói như thế. Nhưng con người không thể chỉ sống bằng sự cô đơn. May mắn cho anh, những câu chữ vẫn làm bạn đồng hành và chung thuỷ với anh. Trong  cô đơn, anh đã thốt lên: "Tôi phải viết ! Tôi sẽ viết!" 

***

Thật lạ, thơ với người vốn là một, vậy mà có lúc thơ và con người Hoài Anh lại rất khác nhau. Nom  dáng vẻ anh cũ càng, nhầu nhĩ và có phần yếu đuối, vậy mà  thơ anh viết về thủ đô những ngày kháng chiến lại rất hào sảng, tung hoành và vạm vỡ. Những câu thơ ấy, đã đi vào  nỗi nhớ người đọc.

          Giặc sủa từng chùm liên thanh
          Lựu đạn, bom ba càng đáp lại
          Xác thù lấp kín thềm nhà
          Cây sấu cụt tay vẫn trơ trơ trước cửa
          Khói đạn bay bụi vữa xóa nhòa
          Mảnh tường đổ như người chết  đứng
          Còn giơ lưng cho đồng đội diệt thù.

          ...
          Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến
          Chín năm ròng lòng vẫn Thủ đô.

  
Đấy là khổ thơ trong bài thơ Nhớ ngày thủ đô kháng chiến mà anh viết đã mấy chục năm về trước. Con người nom xộc xệch và có phần luộm thuộm ấy, lại có những câu thơ thần thái, đài các, bóng bảy.

             Nhớ thời muộn dại sớm khôn
             Tóc xanh như khói, mắt buồn như mây.

             Hoặc:
             Câu thơ đầu phố về thăm gác buồn
             Hoặc:
             Hồn hoa hôm ấy ngỡ nay hiện về.
                                                      (Gặp bạn ở Hà Nội)

Cuối năm 2007, nhà thơ Hoài Anh có xuất bản tập thơ Hòa mạng. Đây là tập 3 trong tuyển tập thơ gần 1000 trang của anh. Vì lý do tài chính, tập 1, tập 2 chưa in được, nên ra mắt bạn đọc bắt đầu từ tập 3. Phần hai trong tập, gồm những bài thơ anh viết về những người thân trong gia đình, họ mạc, làng xóm của anh. Bài nào cũng  đẫm  buồn. Nhà thơ viết về người cha của mình hy sinh trong cuộc chiến tranh giữ nước “ ư xác cha vùi nấm đất đen. Bụng xuyên lỗ đạn máu tươi hoen. Đêm đêm không dám ra vườn mận. Sợ gió âm ti thổi tắt đèn”. Rồi đến người ông nội “ Leo bậc thêm xưa nhớ đã lâu. Trượt chân ông ngã rách da đầu”. Hoặc khi viết về người em trai thiệt thòi không nói được, với nhiều cảm thương “Miệng em ú ớ âm môi. Mắt em âm bản chiếu hồi phim câm”. Còn đây là chân dung người chị:

                             Nay trở về quê chị đã già
                             Một đàn cháu chắt xúm quanh bà
                             Cái vòng quanh quẩn chuồng và bếp
                             Muốn thoát nhưng mà chẳng thoát ra.

Cái đời sống nhọc nhằn và buồn tẻ ở làng quê, in thẫm  vào trang viết. Thương  một người anh bị chết vì trâu húc thủng bụng giữa đồng,  trên đường về quê anh chỉ thấy “Thấy lớp da đầu đang toạc máu. Sừng trăng nhọn hoắt húc thần nông . Lại một người anh nghèo khó đi kiếm sống quê người,  khi kiệt sức quay về quê, nằm chết ở vệ đê “Cách nhà chỉ khoảng vài trăm mét. Máu mủ dường như thuộc lối về”. Quê nhà  lầm lũi, nghèo khó, kỉ niệm về quê  với nhà thơ, như toàn thấy buồn. Nhớ về tuổi thơ của mình, không có sự thơ thới, ấm áp, mà Hoài Anh chỉ nhớ về thưở xách giỏ mò cua cá giữa đồng nước úng ngập “ Ký ức lùa đâm ngạnh cá rô”. Hình ảnh người bà, bùi ngùi, sâu đậm.

                          Nhớ hồi cha cháu học trường xa
                          Giầu thuốc năm xu mua biếu bà
                          Bà hái cau vườn nhai bỏm bẻm
                          Quết trầu tươi đậm nghĩa ân hòa
                          Cha cháu từ xa cõi thế này
                          Cháu còn dại chửa biết leo cây
                          Lưng còng bà nhặt ăn cau rụng
                          Trệu trạo niềm đau nuốt lại đầy

                                                       (Bà tôi)

          Ngoài đời, hầu như không thấy anh nói về sự cô đơn của mình. Nhưng trong thơ, thì nỗi cô đơn như không dấu được. Bước vào tuổi bảy mươi, những câu thơ viết ra bằng nỗi niềm trĩu nặng của một con người đã biết cái giới hạn của đời mình:

                           Ru ta cuối đất cùng trời
                      Cái thân bảy thước ra người ẩm ương
                            Ru ta chân lấm bụi đường
                       Ngàn phương thu lại một phương xó nhà
                            Ru ta chí rộng hải hà
                      Mà nay lọm khọm ông già hết hơi...

         Rồi:        
                         Ru ta bè bạn ríu ran
                     Giờ nghe con sáo gọi đàn mà thương
                         Ru ta duyên nợ văn chương
                     Đóng băng tài khoản trơ xương cõi còm

                                                                   (Ru ta)  

***

Một sớm cuối năm se  lạnh,  nhà tôi chợt hỏi tôi lâu không thấy bác Hoài Anh trong Sài Gòn ra chơi? Ngay chiều đó, đi làm về, tôi đã thấy anh ngồi lụ khụ trong nhà tôi. Nom anh già nhanh quá. Mới sau một năm, sao tóc anh bạc trắng cả. Dáng ngồi gù gù như con gấu. Anh mắc chiếc áo rét to sụ, chân đi dép săng đan. Nhà tôi lên gác kiếm tìm đôi tất mới, đưa anh đi kẻo lạnh chân. Anh nói ngay “Kỳ này ra Bắc, sẽ ở hẳn ngoài này. Đất phương Nam đã ruồng bỏ tôi rồi!”

Tôi vẫn biết tâm trạng nhà văn vốn thất thường, vui ngay và buồn ngay, ham mê tất cả và chán chường tất cả. Nghe anh nói vậy thôi, chứ tôi biết mảnh đất phương Nam nào đã bao giờ ruồng bỏ anh. Vào Nam, anh đã mất tất cả, nhưng chính anh lại được tất cả. Nếu tính đầu sách anh đã công bố, thấy đáng kính nể. Chỉ riêng năm 2006, một nhà sách trong Nam đã in cho anh bộ tiểu thuyết lịch sử 16 tập, mỗi tập in 1000 bản, với độ dày trên dưới 300 trang (tổng cộng bộ tiểu thuyết này dày 4529 trang). Cũng chính mảnh đất phương Nam đã cho anh hoàn thành cuốn Chân dung văn học dày gần 1500 trang, đồ sộ và hoành tráng. Rồi năm 2007, Chi nhánh Nhà xuất bản Văn học tại Thành phố Hồ Chí Minh lại cho xuất bản cuốn biên soạn khảo cứu 756 trang của anh, với tên sách Xác và hồn của tiểu thuyết.Cuối năm 2008, một nhà sách trong Nam liên kết Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin cho in bộ sách Người chở đò thời đại  của anh, khái quát chân dung văn nghệ sĩ Việt Nam thế kỷ 20, gồm 3 tập, gần 2000 trang. Vậy thì mảnh đất phương Nam đâu ruồng bỏ anh? Và làm sao anh bỏ mảnh đất phương Nam được?  

Tuy nhiên, tâm trạng thảng thốt, thất thường ở anh kỳ này thấy phơi rõ. Con người anh đầy vẻ mệt mỏi, chán chường và chậm chạp. Nhưng sức làm việc và niềm say mê làm việc ở anh thì vẫn thấy mạnh mẽ. Biết anh hay thức khuya dậy sớm, mỗi lần anh ra, chúng tôi thường bố trí anh nghỉ  gần phòng làm việc. Anh có tài thức khuya. Tôi tự thấy mình đã lọ mọ, ngày lo việc mưu sinh, đêm đêm dành thời gian cho chữ nghĩa. Thường thường một giờ sáng mới ngủ, có tối đam mê ngồi thức lỳ tới hai ba giờ sáng. Những ngày anh Hoài Anh ở nhà tôi, tôi thấy anh thức thông đêm là bình thường. Anh căm cụi ngồi viết. Vẫn quen viết bút bi. Hình như anh mù tịt về vi tính. Máy tính trên bàn thường bật sẵn, nhưng không thấy anh sờ tới. Nhiều đêm đã khuya, tôi đi ngủ, thì anh lại ngồi thay vào cái bàn tôi ngồi, anh viết. Anh lia bút rất nhanh. Bút chạy ràn rạt trên trang giấy. Bản thảo của anh thường gạch xóa, cắt dán rất lằng nhằng. Tôi còn nhớ hơn hai chục năm về trước, thưở tôi làm việc ở một tờ báo, anh cộng tác, cũng vẫn những trang bản thảo kiểu ấy. Cô đánh máy ở tòa báo tôi dạo ấy phải kêu lên là bản thảo anh gạch xóa nhiều quá, may được cái, chữ anh  dễ luận, dễ đọc.

Kỳ này ra, anh đang gấp gáp hoàn thành cuốn tiểu thuyết vềHà Nội thời thực dân Pháp chiếm đóng, để hưởng ứng kỷ niệm nghìn năm Thăng Long. Cuốn sách chừng ba trăm trang. Anh khoe, đã viết được già nửa rồi. Thì ra cái mảnh đát Thăng Long vừa cổ kính vừa mơ màng này vẫn ám ảnh anh, cuốn hút anh. Anh còn vừa viết xong kịch bản sân khấu về vị vua Lý Công Uẩn, rồi anh còn toan chuyển thành kịch bản phim truyện. Kỳ trước anh có mang đề cương kịch bản này ra Hà Nội, được nhiều nhà chuyên môn đánh giá cao.

Không gặp gỡ, không giao tiếp bạn bè nhiều như mọi lần, sau một đêm thức trắng làm việc, sáng sớm anh đã khoác túi ra đi. Hỏi ra mới hay, anh đến  tặng bộ sách mới của anh cho một vị lãnh đạo cao cấp. Chả là vị lãnh đạo này, qua người thân, có nhắn gửi lời thăm anh, ngỏ ý muốn có được bộ sách mới của anh. Tôi không biết có phải sự tôn kính vị lãnh đạo cao cấp kia? Hay vì có tình vị riêng gì ? Hay anh hồn nhiên tin là vị lãnh đạo kia đã đánh giá đúng sức làm việc của anh? Tôi chưa rõ.  Nhưng chắc chắn là anh không có mưu cầu nhờ vả một điều riêng gì. 

Anh hăm hở đi, một chập đã thấy anh quay về, khuôn mặt  đầy nỗi mệt nhọc. Anh không nói, tôi không nỡ hỏi kết quả cuộc gặp gỡ ra sao, vì thấy anh  lập cập chuẩn bị đồ  về quê. Tôi chỉ kịp sắp mấy cuốn sách, tờ báo cho anh, rồi tiễn anh lên xe.  

Quê anh, cái làng nhỏ bên bờ sông Châu, tôi chưa có dịp về thăm. Chỉ biết qua lời anh kể, đấy là làng nghèo của vùng đồng chiêm trũng  Bình Lục, Hà Nam. Anh bỏ làng đi theo người cha vào bộ đội năm anh mười hai tuổi. Rồi anh cũng rất ít có điều kiện trở về thăm nơi chôn rau cắt rốn của mình. Hình ảnh quê nghèo, đồng trắng nước trong  đã theo anh những ngả đường phiêu bạt. Ở cái làng quê nhỏ bé và lam lũ ấy, anh còn hai người em trai của mình. Đời anh vinh hoa không biết có tới được đâu, chứ hai người em trai anh ở lại làng thì gánh trăm đường lận đận. Anh từng kể tôi nghe, anh thương hai người em của anh lắm. Họ là những người nông dân chân chỉ,  chưa từng được đi xa khỏi làng. Đã vậy, một người em lại thiệt thòi không nói được. Anh em về thăm nhau, người em chỉ ú ớ vài tiếng, người anh thi tuổi cao tai nghễnh ngãng, không nói không nghe được gì với nhau, nước mắt trào ra. Quê anh còn người dì ruột em mẹ anh, tuổi đã cao lắm rồi. Bà như quả trám khô, cho anh nguôi ngoai nỗi nhớ mẹ. Mẹ anh lâm bệnh mất sớm, khi mấy anh em anh còn rất nhỏ. Bà dì và hai người em của anh cũng chả biết anh là nhà văn nhà thơ nổi tiếng hay không nổi tiếng, chỉ thương anh đi công tác xa quê lâu quá không về.

Con đường  theo cha đi làm cách mạng, sớm đưa anh rời xa cái làng quê lam lũ. Những ngả đường công tác, những mảnh đất, những cảnh đời đã gặp, như sớm khắc sâu trong tâm khảm anh, một tâm hồn mong manh dễ xúc động. Có phải vì thế, anh sớm đến với văn chương. Văn chương khỏa lấp và giải tỏa tâm hồn anh?

Thơ anh vốn tinh tế, vậy mà ngoài đời anh lại sống rất lơ ngơ. Năm trước, cũng ở trong Nam ra, anh cũng sắp đặt chuyến về thăm quê. Ngoài việc mang chút tiền về cho người em, biếu bà gì, anh còn chuẩn bị quần áo rất kỹ càng. Vốn là người sinh hoạt xuề xòa, luộm thuộm, vậy mà anh còn nhờ nhà tôi mua dùm  hộp khăn giấy thơm. Tôi ngạc nhiên hỏi, mới hay, anh chuẩn bị sẵn để về  rửa  mặt mấy hôm. “Quê tôi, vốn quen dùng nước ao. Dân cầu tõm mà!” Mấy hôm ở quê lên, hộp khăn giấy thơm vẫn còn nguyên. Anh khoe, ao làng lấp gần hết, mọi nhà xây nhà ngói, nhà bê tông cả rồi. Người em trai tội nghiệp của anh đã được địa phương xây tặng ngôi nhà tình nghĩa.  

Lần này ra Hà Nội, anh  hăm hở muốn về quê sinh sống. Anh khoe với nhà tôi, là sẽ về thuê đổ đất lấp một phần  ao nhà, dựng nếp nhà tre để ngồi viết văn. Rồi  sẽ trồng cây ăn quả, quây ao thả cá. Anh giã từ đất phương Nam, giã từ phố phường ồn ã. Anh sẽ thanh thản ngồi viết và viên mãn tuổi già ở quê. Ngay thoạt đầu nghe anh nói, tôi đã không tin anh sẽ làm được, cho là anh hoang tưởng. Nhưng thấy anh nói say sưa quá,  sốt sắng  quá, làm tôi cũng có lúc phải tin và tự hỏi , nhà thơ Hoài Anh, đợt này về quê sinh sống thật chăng?

Về quê được ba hôm, anh lại  bắt xe lên Hà Nội. Dáng anh bơ phờ. Tôi chưa kịp hỏi, anh đã giãi bày “Hỏng, hỏng hết rồi. Kế hoạch về quê ở, lại đổ vỡ ”Tôi không hỏi vì sao việc không thành. Mà thành làm sao được, vì anh vốn còn lơ ngơ lắm. Khi hóa thân trên trang sách, anh thông minh, tỉnh táo như vị tướng điều hành đạo quân các con chữ. Khi ra cuộc đời thực, anh  ngơ ngác vô cùng. Từ trong Nam ra, anh dắt lưng  được mấy đồng vốn. Đó là sự tích cóp của một đời cậm cụi viết lách. Nhưng số tiền ấy, là quá nhỏ so với xã hội, Vậy làm sao thực hiện được mộng ước xây nhà  nghỉ ngơi tuổi gìa tại đất quê ? Cái làng quê vốn đồng trắng nước trong, một thưở sẵn sàng xin nhau được vài sào đất nay đã bắt đầu nổi cơn sốt “tấc đất tấc vàng”. Người em tật nguyền của anh vẫn nghèo như thưở nào. Người em út, tuổi chưa cao, nhưng vì vất vả, nên  tóc đã bạc trắng như ông cụ. Bà dì anh lại già hơn quả trám khô. Ai cũng muốn giữ anh ở lại, dù rau cháo, mong anh ở lại với làng xóm. Nhưng anh lại khoác túi ra đi. Anh lại quay vào  phương Nam, trở lại cái chốn phố phường đô hội ồn ào, mà anh lạc lõng. Sự cô đơn luôn bám đuổi anh. Đấy là nỗi niềm cô đơn của một nhà thơ, của một người nghệ sỹ. Anh lại vẫn một mình cuốc bộ với số phận mình.   

Tôi nhớ, cũng vào ngày cuối năm ngoái, khi anh  vừa buông bút  hoàn thành cuốn tiểu luận “Xác và hồn của tiểu thuyết”, ấy là lúc có điện thoại của một nhà thơ nữ, người một thời anh rất quý mến, mời anh và tôi tới xơi cơm. Tôi còn đang phân vân, thì anh dốc đáo thúc tôi đi ngay. Bữa cơm thân mật và thịnh soạn ấy, anh như không ăn, mà chỉ uống bia liên tục. Nỗi xúc động hiện rõ trên khuôn mặt. Rồi bốc lên, anh đọc thơ cho cả nhà cùng nghe. Anh đọc một lúc tới mấy chục bài liền. Đọc bằng trí nhớ, không sai một chữ. Đấy là những bài thơ anh viết  tặng nhà thơ nữ kia, đã mấy chục năm trước, khi cả hai còn trẻ. Anh đọc, mà rân rấn nước mắt. Nhà thơ nữ kia, mặt đỏ dần lên. Như để dấu sự xúc động của mình, chị nói vui, thơ tình này anh Hoài Anh tặng ai mà chả được. Anh như người đang cơn nhập đồng, anh vẫn tiếp tục đọc thơ. Mà như không phải đọc thơ, anh đang quặn thắt đọc nỗi niềm đau đáu của mình cho một người nghe, cho mọi người nghe. Chồng nhà thơ nữ bữa đó cũng ngồi lặng nghe thơ. Anh vốn là một nhà dịch giả có hạng, từng bang giao nhiều nước, ngồi nghe  một lúc, rồi anh tế nhị lên gác. Có phải anh  nhường sự tự nhiên cho  buổi hội ngộ? Tôi thấy nhà thơ Hoài Anh bữa ấy đọc như gào lên. Đọc tới câu thơ cuối cùng, người anh bã bời, khuôn mặt như thất lạc. Đó là những câu thơ của tình cảm đơn phương anh nén chặt trong tim anh mấy chục năm trời. 

Đêm ấy về nhà tôi, anh như không ngủ. Anh ngồi đốt thuốc liên tục. Anh cũng không  viết,  ngồi lặng lẽ một mình. Tôi cảm nhận được sự trống vắng của anh. Mỗi  con người, đều có những giây phút cô đơn trong trẻo như thé.

Năm 2004, tôi viết chân dung anh in trên báo Văn Nghệ. Báo in ra, tôi có gửi  bưu điện chuyển vào Sài Gòn biếu anh. Đọc bài báo, anh hồi âm ngay. Anh nói rằng nhờ có bài báo ấy, anh đã trở lại với văn chương. Anh đã toan gác bút một thời gian, chán chường không muốn viết nữa. Có thể anh quý tôi mà nói quá lên thế, nhưng tôi biết sự chán chường kia là có thật trong con người anh. Tôi tin, ai sống hết mình, làm việc hết mình, thể nào cũng có giây phút chán chường, trống rỗng như thế. Tuy vậy, tôi cũng có niềm vui nho nhỏ và tôi tin chắc rằng, nhà thơ của những bài thơ Lời thề rạp Tố Như, Bức tranh gà , một thời đã đi vào trái tim bạn đọc, dễ gì mà bỏ bút được? Chỉ có điều, anh vẫn lầm lũi cuốc bộ một mình trên con đường của anh. Anh vẫn lơ ngơ đi giữa cuộc sống cùng nỗi cô đơn. Cô đơn, muôn đời là sự khởi nguồn cho sáng tạo!

 Hà Nội, 2004-2010
VŨ TỪ TRANG
Nguồn: VNCA

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU