Thứ Tư, 25 tháng 7, 2018

NGUYỄN TẤT NHIÊN: MỘT ĐỜI THƠ BI THIẾT

Vừa qua, trong danh sách những ca khúc của Phạm Duy được duyệt cho lưu hành rộng rãi có bốn ca khúc Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên là Thà như giọt mưa, Cô Bắc kỳ nho nhỏ, Em hiền như ma-xơ, Anh vái trời...
Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm. Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài Vì tôi là linh mục tuyệt hay: “Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”… Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

Đòi nhuận bút những bài thơ phổ nhạc

Tôi quen Nguyễn Tất Nhiên khoảng đầu năm 1971, khi Nhiên đến tòa soạn tặng tôi tập thơ Thiên tai. Sau đó tôi thường gặp Nhiên ở nhà Du Tử Lê. Gọi là nhà nhưng đó chỉ là một căn phòng nhỏ trong cư xá Bưu Điện, đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), nơi vợ chồng Du Tử Lê thuê ở tạm trong thời gian chờ mua nhà ở làng báo chí. Căn phòng chỉ rộng chừng vài chục mét vuông mà chị Thụy Châu, vợ Du Tử Lê, vừa làm nơi nấu nướng, ăn ngủ, tiếp khách. Vậy mà mỗi lần Nhiên đến ngủ lại, chiếm cái bàn viết của anh Lê, ngồi làm thơ, cả đêm uống trà, cà phê, hút thuốc khói bay mù mịt cả căn phòng.

Theo lời Du Tử Lê thì anh là người chọn và đưa những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên cho Phạm Duy phổ nhạc. Nổi tiếng nhưng Nhiên vẫn nghèo kiết xác. Rồi không biết ai “xúi” Nhiên đòi Phạm Duy trả tác quyền mấy bài thơ phổ nhạc bởi Nhiên khá ngây thơ, chẳng quan tâm chuyện gì ngoài chuyện làm thơ. Về sau tôi mới biết là do Lê Cung Bắc. Lê Cung Bắc kể chuyện anh quen Nhiên: Một lần anh đến Biên Hòa, vừa xuống xe thì có một thanh niên cao, gầy, rất lãng tử bước đến hỏi: “Có phải anh là Lê Cung Bắc?”, Bắc gật đầu. Lê Cung Bắc bấy giờ là diễn viên kịch nói tên tuổi, thường xuất hiện trên truyền hình nên nhiều người biết. Chàng thanh niên tự giới thiệu là Nguyễn Tất Nhiên. Bắc đã đọc và thích thơ Nhiên nên từ đó hai người thân với nhau. Biết được chuyện Phạm Duy phổ nhạc thơ Nhiên nhưng không hỏi và cũng không trả đồng nhuận bút nào, Lê Cung Bắc bèn đưa Nhiên đến gặp Chu Tử, chủ bút nhật báo Sóng Thần, bởi Bắc có tên trong nhóm chủ trương báo này. Nhà văn Chu Tử, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng Sống, Yêu, Ghen,Loạn… cùng gốc người Bắc và cũng trạc tuổi Phạm Duy, vốn không ưa Phạm Duy nên ông “phang” ngay một bài khá cay trên mục Ao thả vịt của ông!

Một thời gian sau tôi thấy Nguyễn Tất Nhiên chạy một chiếc xe Honda nữ còn mới, nhìn rất tức cười. Bởi chiếc xe dành cho nữ khá thấp trong khi Nhiên cao lều khều, người gầy, chân tay dư thừa lòng khòng. Nhiên bảo tiền nhuận bút thơ mình Phạm Duy phổ nhạc đấy. Tôi cũng không hỏi thêm Phạm Duy trả hay ai trả và trả bao nhiêu. Sau này, khoảng cuối năm 1974, khi tôi gặp Phạm Duy trong lần ông lên Buôn Ma Thuột trình diễn chung với một ca sĩ du ca nổi tiếng người Mỹ, tôi hỏi chuyện này, Phạm Duy bảo chắc người in nhạc ông trả chứ ông đâu biết mặt mũi Nguyễn Tất Nhiên ra sao đâu!

Vẫn lơ ngơ chân không chạm đất

Sau ngày 30-4-1975 vài tháng, Nguyễn Tất Nhiên từ Biên Hòa xuống Sài Gòn thăm tôi. Nhiên gầy hơn, cao lêu nghêu và đen nhẻm. Vẫn đôi dép lẹp xẹp, áo bỏ ngoài quần, trông còn lè phè hơn xưa. Nhiên bảo lúc này làm việc ở Hợp tác xã Xe lam. Bữa nay được nghỉ, Nhiên đi Sài Gòn mua ít đồ, tiện ghé thăm tôi. Tối đó Nhiên ở lại, hai thằng ngồi lai rai hết mấy xị đế ở hành lang căn gác tôi ở trọ. Và cùng ngủ ngồi bởi nơi tôi ở ghép trên đường Nguyễn Huỳnh Đức (Phú Nhuận) nhà chật chội, khá đông người, không có chỗ cho hai đứa. Từ đó tôi không gặp Nhiên. Khoảng đầu những năm 1980, tôi nghe tin Nhiên vượt biên, sang định cư ở Pháp, rồi sau lại nghe Nhiên sang Mỹ. Nhiên lấy vợ tôi không hay nhưng tin Nhiên mất tới tôi rất nhanh, qua một người bạn từ Mỹ về báo.

Mãi đến năm 2014 tôi qua Mỹ mới được nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ và đạo diễn Nguyễn Hoàng Nam, em trai Nguyễn Tất Nhiên, đưa tôi đến thăm mộ Nhiên. Không tìm đâu ra nén nhang, tôi xin Nguyễn Lương Vỵ điếu thuốc, đốt gắn trên mộ bạn nằm dưới bóng cổ thụ trong Vườn Vĩnh Cửu, nghĩa trang Westminster, California tĩnh mịch, yên bình.

Những câu thơ tiên tri về bi kịch cuộc đời

Tôi được nghe kể lại, thời gian sau khi ly hôn Nguyễn Tất Nhiên sống cô độc trên chiếc xe hơi cũ, lang thang vô định. Trong xe của Nhiên lúc nào cũng có một bịch khoai tây sống để ăn tạm khi đói. Rồi một ngày người ta tìm thấy anh nằm chết trên xe đậu trong sân một ngôi chùa. Tôi nghe mà lòng nghẹn đắng, thương bạn. Tôi nhớ bạn tôi vốn có nét mặt khắc khổ, ít khi thấy hắn cười, có cười thì nụ cười méo xệch. Thơ cũng như người. Thơ Nguyễn Tất Nhiên khi trẻ là những bài thơ thất tình đã được Phạm Duy phổ nhạc. Nhân vật Duyên trong Khúc tình buồn là một bạn học lớp đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, lớp 9) khi mới 14-15 tuổi. Cô Bùi Thị Duyên hiện định cư ở Michigan, Hoa Kỳ. Cô cho biết chỉ là bạn học thôi nhưng Hải (NTN) thích và làm thơ tặng thì mình nhận. Nhưng vẫn thường nói với Hải bấy giờ mình mãi mãi chỉ là bạn thôi. Và Hải cũng gật đầu. Khi lớn hơn một chút, thơ Nguyễn Tất Nhiên bi thiết não lòng. Khi mới hai mươi, Nguyễn Tất Nhiên đã có những câu thơ bi thiết định mệnh: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ/ Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian/ Phải đau theo từng hớp rượu tàn/ Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…” (Giữa trần gian tuyệt vọng, 1972). Bốn câu thơ này được khắc trên mộ bia Nguyễn Tất Nhiên. Cả bài thơ tặng sinh nhật vợ sắp cưới cũng là những vần thơ sầu thảm như một lời tiên tri về những bi kịch sẽ đến: “Khổ đau oằn nặng sinh thời/ Yêu ai tôi chỉ có lời thở than…/ Lôi người té sấp, gian nan/ Lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi!”.

Minh khúc 90, Nguyễn Tất Nhiên làm sau khi ly hôn, nhiều câu đọc lên mà nghe nhói lòng: “Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian - đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chuyến xe mù đời/ Cu Tí ngủ gục đâu rồi?/ Băng sau nhìn lại bời bời nhớ con...”. Những câu thơ xé lòng của một thi sĩ đi đến tận cùng nỗi bi thiết.

Chuyện cái bút danh

Về chuyện bút danh Nguyễn Tất Nhiên, sau này tôi nghe nói sau khi Nhiên chết, ở Mỹ có người bàn tán về cái bút danh ngộ nghĩnh Nguyễn Tất Nhiên. Chính Nguyễn Tất Nhiên kể với tôi là khoảng năm 1969, lần đầu gặp Du Tử Lê, nhà thơ thần tượng của anh bấy giờ, tại quán Cái Chùa (La Pagode), Sài Gòn, anh rụt rè hỏi: “Cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn em bảo hơi “sến” phải không anh?”. Du Tử Lê buột miệng: “Tất nhiên”. Rồi hỏi: “Họ Nguyễn hả?”. Hải gật đầu. Du Tử Lê bảo: “Thì lấy Nguyễn Tất Nhiên đi!”. Và từ đó bút danh Nguyễn Tất Nhiên đi theo anh đến hết cuộc đời như một định mệnh nghiệt ngã. Khởi đầu từ tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970 đến khi thi sĩ nằm chết lặng lẽ trong chiếc xe hơi cũ ở sân chùa khu Garden Grove, California mùa thu năm 1992, ở tuổi 40.

***

Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Khi mới học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) Trường Trung học Ngô Quyền, anh đã có thơ in chung trong tập Nàng thơ trong mắt. Và hai năm sau, anh có tập thơ riêng Dấu mưa qua đất. Cả hai tập thơ này đều với bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Tập thơ Thiên tai với bút danh Nguyễn Tất Nhiên xuất bản năm 1970 đã đưa tên tuổi anh thành một khuôn mặt đặc biệt của thi ca bấy giờ. Nguyễn Tất Nhiên có ba em trai: Nguyễn Hoàng Đệ (chết lúc nhỏ), Nguyễn Hoàng Nam hiện là đạo diễn điện ảnh và Nguyễn Hoàng Thi là ca sĩ-nhạc sĩ. Cả hai hiện định cư ở Hoa Kỳ với cha mẹ.

PHẠM CHU SA
Theo Pháp Luật TPHCM



Thứ Hai, 23 tháng 7, 2018

VĂN CAO TRONG CÕI THƠ

Cuộc đời 72 năm của Văn Cao gắn bó trọn vẹn với Việt Nam thế kỷ 20 nhiều biến động, để lại cho thế hệ sau không ít câu hỏi không dễ trả lời. Câu hỏi rộn ràng về cống hiến nhọc nhằn, câu hỏi cồn cào về thế sự ngổn ngang, về mệnh kiếp lênh đênh. Một Văn Cao đa tài không thể che chở một Văn Cao lận đận. Một Văn Cao danh vọng không thể bênh vực một Văn Cao cay đắng. Một Văn Cao hào hoa không thể an ủi một Văn Cao cô độc.
Nhà thơ Văn Cao

Những ngày tháng Văn Cao đã sống, cứ đổ cái bóng gầy hắt hiu và trắc ẩn vào lòng công chúng, mà những bài hát của ông không lý giải được, những bức tranh của ông cũng không lý giải được. Chỉ còn lại thơ, xoa dịu và tỏ bày giùm Văn Cao.

Từ những bài thơ đầu tiên viết năm 1939 đến bài thơ cuối cùng “Tôi ở” viết tháng 8-1994, Văn Cao có di sản khoảng chừng 60 bài, nhưng vẫn hiển lộ đầy đủ một chân dung nhà thơ khắc khoải với khát vọng lớn lao “tới bao giờ tôi gặp được biển?”. Trong sự mến mộ của công chúng phổ thông, chân dung nhạc sĩ Văn Cao luôn khỏa lấp chân dung nhà thơ Văn Cao, bởi lẽ cảm giác xao xuyến thường lấn lướt nhận thức sâu xa.

Ngoài những phút giây phiêu lãng với giai điệu, Văn Cao cũng lắm lúc rạo rực với sắc màu qua vài bức tranh giàu cá tính thẩm mỹ. Tuy nhiên, lúc chăm chú quay lại với thi ca, Văn Cao có tiểu luận “Mấy ý nghĩ về thơ” nghiêm trang và khơi gợi: “Cuộc đời và nghệ thuật của nhà thơ phải là những dòng sông lớn, càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng”. Con đường thơ của Văn Cao đã chuyển dịch đúng như vậy.

Khởi nguồn thơ Văn Cao qua đôi bài “Ly khách” hay “Linh cầm tiến” mang dấu vết của Đường thi tùy hứng hoặc Đường thi ứng họa, như những câu “Thiên bôi đối ẩm nhìn quan ải/ Quằn quại cờ bay trong gió sương” hay “Tâm sự chừ như trường giang vũ khúc/ Lãng đãng sương buông cổ độ mờ”. Sự nghiệp sáng tạo của Văn Cao chỉ nên tính từ khi thơ và nhạc cùng đồng hành để tạo nên phong cách Văn Cao.
Thưởng thức một cách tỉ mỉ, không mấy khó khăn để thấy được, tâm hồn nghệ sĩ của Văn Cao biến động qua ba giai đoạn với ba nét đẹp riêng biệt: giai đoạn mềm mại đắm đuối, giai đoạn lạc quan hào sảng và giai đoạn can trường sắc sảo. Và qua ba giai đoạn có trình tự trước sau, có thể khám phá được thế giới nội tâm của Văn Cao!

Giai đoạn mềm mại đắm đuối, âm nhạc Văn Cao có “Suối mơ”, “Thiên thai”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”... thì thơ Văn Cao chỉ có dăm vần điệu trễ nải: “Chiều ốm cũng đang chầm chậm xuống/ Sương mù chìm lẫn lá vàng thưa”, lúc thảng thốt “Ai về Kinh Bắc”, hoặc “Thuyền vào nằm ngủ trong mưa/ Trên con sông vắng lập lờ bóng trăng” lúc bùi ngùi “Đêm mưa”.

Có lẽ đã dồn mọi tinh lực để thăng hoa ca khúc, thơ Văn Cao lác đác chớp sáng vài câu thơ lộng lẫy như “sông trắng bờ xa lộ bóng nhà” và “ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi”. Thơ Văn Cao dường như bị say nắng Thơ Mới, cái rạo rực “quê lòng rộng mở đường cho sạch/ đón những bàn chân trắng nuột nà” cứ nhang nhác Xuân Diệu, còn cái sầu não “Đường ở đây mưa ướt đất trơn/ Nắng lên không kịp kẻ kia hờn” cứ từa tựa Lưu Trọng Lư.

Giai đoạn lạc quan hào sảng, âm nhạc Văn Cao bùng nổ với “Tiến quân ca”, “Làng tôi”, “Chiến sĩ Việt Nam”, “Ngày mùa”, “Sông Lô”, “Bắc Sơn”, “Tiến về Hà Nội”... thì thơ Văn Cao nhen nhóm chia tay Thơ Mới. Trên gác trọ xóm cô đầu Vạn Thái nhìn về phía Ô Cầu Dền, Văn Cao viết “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc” vào năm 1945 bằng ngọn gió run rẩy khác lạ.

Tuy vẫn còn chút hơi hướng cổ trang “Ta đi giữa đường dương thế/ Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây” nhưng nhiều chữ có hồn cốt mạnh mẽ kiểu Văn Cao đã xuất hiện như “ta lả nhìn cửa sổ mắt mờ rồi”, như “nhà ta thuê mái gục tự mùa thu”, như “ta về gác chiếu chăn gào tự tử”.

Nhấn thêm một bước, bài thơ “Ngoại ô mùa đông 1946” đánh dấu thơ Văn Cao trưởng thành, với những câu chưa từng có trong Thơ Mới như “ai kẻ dìu hoa chống phường Dạ Lạc” hay “một dãy phố nghiêng cả thành Hà Nội”. Và trong sự thay đổi bút pháp, có cả sự thay đổi tư tưởng, từ thái độ lưỡng lự “khăn lụa che ngang mày thét nhạc/ gót chân xanh khép giọng Tỳ Bà” sang hành động dứt khoát “đập tan đàn khi nhạc mới mênh mông”. Tuy nhiên, bài thơ “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc” và bài thơ “Ngoại ô mùa đông 1946” chỉ tạo đà cho khoảnh khắc nhảy vọt trong thơ Văn Cao, đó là sự ra đời của trường ca “Những người trên cửa biển” viết vào mùa xuân 1956, giúp cán cân thơ – nhạc có thành tựu tương đương.

Với bốn chương chia làm 16 khổ thơ, trường ca “Những người trên cửa biển” được viết trên tinh thần “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam như tôi biết yêu tôi”. Cái riêng hòa vào cái chung, “Những người trên cửa biển” như một “tổng phổ” về những năm tháng tận tụy của Văn Cao với thành phố cảng, từ sự thủ thỉ “quê mẹ quê cha cách một vườn trầu” đến sự san sẻ “kíp thợ đêm lê về đến xóm/ nghe rét mùa đông nổi cuối sông” và bất chợt hân hoan “những năm đầu chính quyền cách mạng/ giấc mơ của Hải Phòng/ như bóng cò trắng bay về lòng tôi thuở nhỏ”.

Thử thách thể loại trường ca đòi hỏi sức cảm sức nghĩ phi thường, cũng chính là cơ hội phô diễn một Văn Cao tài năng cồng kềnh. Hít thở không khí xứ sở độc lập tự chủ, Văn Cao khẳng định “có người hàng năm mặt trời không thấy mọc/ khép đùi xếp phách tiễn đêm đi/ hôm nay ngồi chép bài ca mới/ hương cốm mùi rơm ngát giếng đình” để mường tượng hòa bình đích thực “chúng ta sẽ trả về những bà mẹ Pháp/ núi hài cốt cuộc chiến tranh bẩn thỉu/ cũng như những người mẹ chúng tôi/ tiếc những dòng sữa, những cái hôn đã mất” và nghe được những va đập mỏng mảnh “tiếng thức dậy niềm cô đơn nuối tiếc/ những con người gần ánh sáng chưa quen”.

Mặt khác, với ý thức kẻ sĩ đau đáu với vận mệnh dân tộc, Văn Cao lập tức cảnh tỉnh “đất nước đang lên da lên thịt/ đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày/ ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải/ đã thấy loài sâu nằm tròn trong cuống”, và không ngần ngại vạch mặt mối hiểm nguy “hãy dừng lại/ những tên muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc/ những tên muốn ôm cây to che cớm mầm non”.

Đánh giá một cách cẩn trọng, trường ca “Những người trên cửa biển” đã xác lập một vị trí nhất định trong nền thơ Việt Nam thế kỷ 20, bởi tình yêu mảnh đất “mỗi người dân Hải Phòng thật kiếm ăn từ nhỏ/ mỗi người dân Hải Phòng đều biết đổ mồ hôi” đã dựng được hình tượng nhà thơ Văn Cao chung thủy với thời đại “cuộc đời ôm tôi như trong một cái bình/ một tiếng vang vang cả lòng cả đáy”.

Giai đoạn can trường sắc sảo, âm nhạc Văn Cao chìm vào im lặng, chỉ vụt lên một “Mùa xuân đầu tiên” nôn nao cùng non sông thống nhất năm 1975. Tất cả tâm tư Văn Cao dồn hết vào thơ “tung ra hàng loạt hàng loạt/ những con người thật của chúng ta”.

Bao nhiêu năm âm thầm trong căn phòng khiêm nhường ở 108 Yết Kiêu – Hà Nội, thơ Văn Cao chắt lại như “tiếng kêu của một khúc thép đỏ/ trong chậu nước” để đối diện với nghịch cảnh “có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được”. Hai bài thơ viết cho mùa thu ở hai cột mốc thời gian khác nhau vẫn không mấy khác nhau về xao xác, mùa thu 1968 “những bóng người loang trên Hồ Tây” và mùa thu 1992 “có tà áo trắng loang qua khung cửa” chứng tỏ ảo giác đơn lẻ hụt hẫng kéo dài qua vùng thơ ưu phiền. Bài thơ “Thức dậy” vỏn vẹn hai câu ít nhiều thể hiện được cứu cánh thi ca đối với Văn Cao: “Khi đêm tối tất cả người tôi thức dậy/ Những đam mê quên ngủ suốt ngày”.

Cô đơn và chịu đựng, Văn Cao chỉ có một nguồn động viên duy nhất “những ngày đau khổ ấy/ khuôn mặt em/ như mảnh trăng những đêm rừng cháy” để tiếp tục tin cậy nhân gian xuôi ngược “trên đường đi/ anh đặt em trên dốc núi/ để tìm lại những đường mềm của núi”.

Lời đề từ bài thơ “Ba biến khúc tuổi 65”, Văn Cao viết “những ngày buồn không nói được, tôi chỉ tìm ra sự sống của tôi”. Do vậy, có thể hình dung giai đoạn viết trường ca “Những người trên cửa biển”, Văn Cao không khác gì một hiệp sĩ sử dụng trường kiếm, trong vô chiêu lẫn hữu chiêu đều tung tẩy kiếm ý và kiếm khí, còn thơ Văn Cao giai đoạn này đã quay sang sử dụng đoản đao nhăm nhăm những đòn dứt điểm. Không phải cuộc chơi nghệ thuật nữa, thơ Văn Cao trở thành cuộc truy vấn số phận.

Truy vấn số phận về sự khốn đốn “tôi rơi vào mạng nhện/ mạng nhện cuốn lấy tôi/ không cách gì gỡ được”, truy vấn số phận về sự được mất “con thuyền đi qua/ để lại sóng/ đoàn tàu đi qua/ để lại tiếng/ đoàn người đi qua/ để lại bóng/ tôi không đi qua tôi/ để lại gì?” và truy vấn số phận về cả những “Giấc mơ” chập chờn: “Dưới mái nhà/ Một người đang ngủ/ Với giấc mơ của những vì sao/ Những vì sao đang kể chuyện/ Giấc mơ của mái nhà/ Giấc mơ của một người đang ngủ”.

Và nhờ cuộc truy vấn số phận miệt mài, Văn Cao được tự do tái sinh những trải nghiệm, từ trải nghiệm thua thiệt cá nhân “bỗng nhiên/ bóng của người ấy chia mất/ nửa mặt tôi/ một nửa mặt của tôi/ của tôi nửa mặt trắng/ miệng tôi nửa miệng đắng/ một con mắt tôi/ lặng lẽ lấp lánh/ sau bóng đen người ấy” đến trải nghiệm lầm lạc ân tình “những bó hoa mang tới/ chúc tụng/ thành công một con người/ hàng ngày hàng ngày/ xây thành cái mồ chôn/ con người thành công ấy/ người ta đôi khi bị giết/ bằng những bó hoa”.

Những câu thơ nặng trĩu tâm tư lắm lúc có thể ở lại vì bạn đọc, nhưng bao giờ cũng đến vì tác giả. Thơ hóa giải tủi hờn và bất trắc. Những câu thơ hoang mang và chấp chới tuyệt vọng của Văn Cao như “có lúc ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt” không chỉ kháng cự khổ hạnh cho tác giả, mà còn giúp độc giả cách hiểu một giọt nước mắt, cách nghe một tiếng thở dài.

Bởi lẽ, nỗi buồn không phải quan trọng nhờ được nhà thơ đắp lên những mỹ từ khoa trương, mà vì nhà thơ gõ vào trái tim mình để chứng minh nỗi buồn có ích cho việc nuôi dưỡng bản tính lương thiện của con người trước “Thời gian” khắc nghiệt: “Thời gian qua kẽ tay/ làm khô những chiếc lá/ kỷ niệm trong tôi/ rơi/ như tiếng sỏi/ trong lòng giếng cạn/ riêng những câu thơ còn xanh/ riêng những bài hát còn xanh/ và đôi mắt em/ như hai giếng nước”.

LÊ THIẾU NHƠN
Nguồn: VNCA


Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGÔ PHAN LƯU

“Nhà văn nông dân” đất Phú Yên Ngô Phan Lưu được mọi người biết đến rộng rãi sau khi trở thành “trạng nguyên” cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 2006 – 2007. Tính đến nay gia tài của ông bao gồm một tập thơ Bếp lửa chiều đông và các tập truyện ngắn – tản văn: Người không giăng câu Kiều, Cơm chiều, Xoa tay và cười, Con lươn chép miệng, Tờ lịch gỡ mỗi ngày. Còn tác phẩm in chung và đăng báo thì “không thể nào nhớ nổi”.
Nhà văn Ngô Phan Lưu

Những truyện ngắn của Ngô Phan Lưu hơn một lần làm rung động trái tim độc giả Việt Nam. Mỗi hình tượng nhân vật của ông như có ma lực đã lôi cuốn chúng ta với một sức mạnh không thể nào cưỡng nổi vào cuộc đời đầy bão tố của họ, buộc ta phải nghĩ suy, giật mình ngẫm lại về nhân tính, mối quan hệ giữa người với người trước hiện tại và tương lai. Từ đó biết cách ứng nhân xử thế, sống đẹp hơn, có thêm niềm tin và tình yêu đối với cuộc sống. Khảo sát các tác phẩm truyện ngắn của Ngô Phan Lưu, chúng tôi nhận thấy có 4 kiểu nhân vật điển hình sau:

1. Nhân vật cô đơn

Ngô Phan Lưu trình bày một đời sống ngổn ngang, bất trắc, nơi lý tưởng và các giá trị truyền thống bị đổ vỡ, nơi con người chỉ là những mảnh số phận, những cá thể, không nhân danh, không đại diện cho bất kì ai. Cùng tư tưởng với các nhà triết học Hiện sinh chủ nghĩa, Ngô Phan Lưu đã nhìn con người như những số kiếp vật vờ, thân phận nhỏ nhoi, mỏng manh và mang trong mình một nỗi cô đơn bản thể. Trạng thái cô đơn là trạng thái thích hợp nhất để con người ngắm nhìn, chiêm nghiệm lại cuộc sống của chính mình. Có những phút giây bừng tỉnh, có những khoảnh khắc lóe sáng trong tâm thức. Nhiều khi con người chịu cô đơn để bảo toàn niềm tin khát vọng của mình.

Trong Buổi sáng biến mất, chú Khiêu là kẻ cô đơn, là trái banh trong chân đội banh ung thư gan, xẹp hơi, đang chờ cho lọt vào “gôn” Tử Thần. Các thành viên trong nhà họ coi chú là gánh nặng, vật phế thải chướng tai gai mắt. Chú Khiêu đang phải âm thầm chịu đựng nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần, chú thấm thía nỗi cô đơn lạnh lẽo tột cùng. Đó là Lão Tư Cua (Người không giăng câu Kiều) cô đơn không chỉ vì sống một mình mà “là người khang khác với mọi người trong xóm” Trạch Thắng, bởi lẽ lão dám bắt Cua Đinh bằng tay và “dám to tiếng với cụ Phiệt, người được kính sợ lâu nay”. Đó là Bẫm Xình Tơn nát rượu bị biển người mênh mông cự tuyệt, nhìn với nhiều ánh mắt khinh bỉ. Khoảnh khắc lương thiện đích thực lại là khoảnh khắc Bẫm ôm nỗi đau người thừa vào lòng.

Khi đặt nhân vật trong mối quan hệ với đồng loại, với thế giới bên ngoài, Ngô Phan Lưu đã cho ta thấy sự cô đơn của con người thể hiện ngay trong các quan hệ xã hội, sự rạn vỡ trong mối liên kết, trong niềm tin giữa con người với con người và giữa con người với thế giới. Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ gia đình và xã hội (Bộ răng của ông Răng). Đó là lời cảnh tỉnh cho sự sa đọa, xuống cấp về đạo đức, giá trị con người, sự thui chột về tình người đã đến mức báo động.

Trong một số tác phẩm, nhân vật không có thời gian quá khứ càng không có thời gian cho tương lai, chỉ có thời gian hiện tại, lúc nhân vật xuất hiện, song đó là thời gian đằng đẵng một khối cô đơn khổng lồ. Cô đơn như một hình phạt, cô đơn như một tiền định: Cụ Ông – bố của Lân (Cơm chiều).

Ở một khía cạnh khác, con người trong thế giới của Ngô Phan Lưu càng bị nhấn chìm sâu hơn vào nỗi cô đơn khi chỉ có một mình anh ta đương đầu với những biến cố trong cuộc đời, chỉ có anh là nhân chứng cho chính anh trước sự phi lý trút xuống thân phận. Anh Quyết (cùng gia đình) trong Bầy người bé nhỏ – nỗi ám ảnh kinh hoàng sợ hãi về kiếp người trước thiên nhiên.

Con người cứ thế bơ vơ, cứ thế lạc lõng vô định không hiểu được mình đang làm gì (Bà thánh của hai người, Làng quê thì mênh mông). Đó cũng là một sự kiện tinh thần của không ít người hiện đại ngày nay “thấy mình lọt tõm vào một vùng cô đơn hun hút…” (Trắng đêm để gặp nỗi buồn), cô đơn cùng cực. Họ ý thức được sự nhàm chán triền miên trong cuộc sống của mình (Mù sương đầu ngõ). Nếu không có cái nhìn tinh nhạy, thấu suốt tâm can con người, Ngô Phan Lưu đã không thể nắm bắt được những khoảnh khắc bơ vơ, bất định như vậy.

2. Nhân vật mang tư chất nghệ sĩ

Đọc truyện ngắn của Ngô Phan Lưu ta bắt gặp một loạt các nhân vật mà chất “nghệ sĩ” của họ không tuân thủ một quy luật, không theo một trường phái nào, nó tồn tại bản năng và phát triển tự nhiên như cuộc sống hàng ngày của họ. Họ là những con người “đặc biệt” và gặp nhau cũng trong những hoàn cảnh thật đặc biệt.

Lão nông Lạng xóm Đìa sóm sém bảy mươi mang trong mình niềm đam mê văn chương. Lão thường cho ra lò những vần thơ “đầu Ngô mình Sở”, kiểu thơ “Liên Hợp Quốc” chắp vá. Thế mà, loại thơ cắt ghép kì quặc đó cũng có “tín đồ”, mà còn là tín đồ một mực trung thành – chú Dành, chàng trai hai mươi hai tuổi, cùng xóm. Họ trở thành bạn tâm giao hằng ngày Đối ẩm trong sương. Ngô Phan Lưu đã mang đến cho người đọc cách nhìn mới: Không có chân lý sáng tạo nghệ thuật bất biến. Người nghệ sĩ sáng tạo theo sự thôi thúc của nội tâm, nên những phút thăng hoa của cảm xúc, của nội tâm đã tạo nên những cái bất ngờ trong sáng tạo. Cái bất ngờ làm nên cái đẹp và kì diệu của nghệ thuật.

Nghệ thuật không dành riêng ai, nó dành cho tất cả mọi người, những ai mang trong mình tư chất của người nghệ sĩ và niềm đam mê nghệ thuật: Thắng, Thùy (Con sóng tung hoa), anh bạn của “tôi” (Sóng bạc đầu), anh thợ hớt tóc (Chú thợ hớt đường Bà Triệu), họ cũng là “nhà thơ”, những người yêu nghệ thuật.

Trong truyện ngắn của mình, Ngô Phan Lưu cũng đã xây dựng thành công hệ thống nhân vật chủ yếu được trời phú cho giọng hát hay, lay động lòng người. Giọng hát khàn khàn tuyệt vời của cô chủ Nhạc Trầm My quán. Chất giọng đau đớn, uất nghẹn của chú Bảy hòa nhịp cùng âm thanh ma quỷ của “nhạc cụ” Xâu chìa khóa, chảy cuồn cuộn theo một làn điệu bài chòi đặc sản địa phương khiến người ta lặng đi, nổi da gà. Chú tuy là “Một người nông dân rặt từ khuôn mặt đến quần áo, vậy mà nghệ sĩ hết cỡ ấn tượng”.

Khảo sát tác phẩm của Ngô Phan Lưu ta còn bắt gặp thêm những mảnh đời bất hạnh trót mang duyên kiếp cầm ca làm nghiệp mưu sinh. Trong tiếng nhạc thô mộc trầm buồn, như cung tơ vang vọng đến nao lòng của chiếc đàn cò. Giọng hát chân phương, chưa từng qua trường lớp ngày ngày cất lên, lẫn lộn với ồn ào góc chợ nhưng lại có sức hấp dẫn rất riêng. Với bác Quyền (Ánh sáng cong), lão Mồn (Lên đường) Ngô Phan Lưu đã đề cập thật riết róng tới những mất mát, tổn thương mà người nông dân phải gánh chịu. Những mảnh đời bất hạnh trong những làng quê Việt hiện thời.

3. Nhân vật bị ám ảnh bởi thế giới giấc mơ

Trong truyện ngắn của Ngô Phan Lưu, tần suất xuất hiện kiểu nhân vật chìm đắm, ám ảnh bởi thế giới giấc mơ khá dày đặc (19/73 truyện, chiếm gần 26%). Xây dựng kiểu nhân vật này là một phương thức nghệ thuật hữu hiệu để mở rộng biên độ hiện thực được chiếm lĩnh trong văn học, đồng thời tạo nên sức hấp dẫn riêng của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, khiến nó không còn là sự mô phỏng, trùng khít với hiện thực ngoài đời. Thủ pháp ảo hóa hiện thực khiến cho cả nhân vật trong truyện và người đọc đều không có một ý niệm rõ rệt.

Trong các truyện Chiếc ngạnh cá, Con diều giấy, Nếu không nhìn ra cổng, Con sóng tung hoa, giấc mơ của Đại, Lãm, Hòa và Thùy đều xuất hiện những “vùng đất hứa” “vắng bóng con người”, chỉ có tiên và quỷ. Tất cả họ không một ai cảm thấy buồn mà thậm chí còn vui. Motif người gặp tiên, gặp quỷ được lặp lại. Đối diện với họ, con người không hề sợ hãi, ngược lại chính quỷ, tiên ghê sợ con người. Điều rùng rợn không nằm ở ma quỷ mà ở chính cái bản chất bất toàn ẩn tàng của con người. Con người không dễ gì chấp nhận sự thật ấy trong hiện thực. Con người kinh tởm con người, muốn thoát ra khỏi thân xác chính mình, tìm cảm giác nhẹ nhàng, thanh thản. Nội dung biểu hiện của những giấc mơ được coi như sự thực hiện trá hình những ham muốn bị dồn nén trong hiện thực.

Một trạng thái khác là Nhập nhằng và hoảng loạn, Giải thoát,... thể hiện tinh thần bấn loạn của các nhân vật. Điển hình là ông Đô, vợ chồng lão Bốn Nham, anh Bách, nó tương ứng với một thế giới hiện thực tàn nhẫn trùng trùng điệp điệp cái ác được nhà văn biến ảo theo chính những giấc mơ. Trong thế giới ấy con người vừa hoang mang âu lo về cái vô thường, vừa bộc lộ một đời sống khác chân thực để họ soi lại bản chất của mình. Khi tiếp xúc với các tác phẩm của Ngô Phan Lưu, người đọc bao giờ cũng vấp phải những trở ngại bởi những hình tượng lấp lửng lưỡng phân, lấp lửng hai mặt. Ngô Phan Lưu đã mang đến cho người đọc một cách viết mới, đi trên con đường mỏng dính giữa ý “tại đường” mà tưởng như “hoang đường”, những niệm có và không. 

Truyện ngắn Ngô Phan Lưu còn có biết bao những tấu khúc biến ảo khác nhau về mộng. Giữa hiện thực non kém với một ước vọng cao xa, muốn nổi tiếng bằng những đứa con tinh thần như nhà văn Cảo (Quyển sách). Hoặc Chuyện bực mình là giấc mơ về “cái mâm cơm đơn sơ sâu đậm” cùng cuộc đấu “nhãn lực”, “óc lực” giữa “tôi” và Lan Man Đại Nhân. Độc giả còn được chứng kiến một cuộc trò chuyện đầy thú vị giữa ông Ất, Ngọc Hoàng và các nhân vật do ông Ất sáng tạo ra (Trò chuyện). Những giấc mơ trĩu nặng tâm trạng suy tư trăn trở, nỗi ám ảnh của người cầm bút khi xây dựng tác phẩm. Ở đây có sự phảng phất của hiện thực, nhuốm màu hiện thực.

Đặc biệt, ngay cả trong mơ Ngô Phan Lưu vẫn “cố gắng xây dựng cái thiện để làm đối trọng với cái ác”. Những giấc mơ “đẹp” xuất hiện trong các truyện Trắng đêm để gặp nỗi buồn, Vạt áo nàng tiên, Sương ngọt, Ảo giác... chính là những viên thuốc an thần giúp con người lấy lại thăng bằng trong đời sống, đồng thời ở một số truyện nó còn thể hiện chức năng báo mộng, nhắc nhở hiện thực với chủ nhân của mình.
Ngô Phan Lưu đã lựa chọn giấc mơ làm “con đường vương giả để đạt đến hiểu biết lòng người” (Freud). Qua lăng kính của giấc mơ, nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn hiện lên chân thực hơn, sống động hơn, và cũng ám ảnh hơn.

4. Hình tượng loài vật

Sáng tạo ra thế giới loài vật, Ngô Phan Lưu cho người đọc thấy được ở ông một cây bút tài năng về nhiều mặt. Đó là khả năng hóa thân vào sự sống của vật và đồng thời đưa lại cho thế giới loài vật sự sống của người. Được nhà văn “phù phép”, thế giới loài vật cũng đầy sự ray rứt ngổn ngang của những sinh linh tội nghiệp, chia ly, tan tác đau khổ, chết chóc như chính cuộc sống của con người.

Sự việc trong vài phút là câu chuyện kể về việc bò Bĩnh bị anh Phách đánh đập, phải cày vườn khi đất đang khô. Nhưng đau đớn hơn là bê con, nó xót xa khi thấy mẹ mình bị hành hạ. Hành động “chống đối” của con chó Ki lao vút đến cướp chiếc roi chạy biến ra ngõ, “ngăn cản” ý nghĩ đánh chồng của chị Viên và vui mừng “vẫy đuôi xoắn tít” khi thấy chị bẻ đi chiếc roi, thả xuống lòng mương cho “chúng trôi đi...”. Rõ ràng “đó là một con người hoàn chỉnh tên Ki” đầy căm phẫn cái ác. Trường hợp này, nhà văn không chấp nhận dùng cái ác hơn để chiến thắng cái ác, mà cái ác cần phải kết thúc.

Ở truyện Câu hỏi vô vọng, Lãm kể về cuộc đời mồ côi nuôi đàn em của con gà mái “hột dầu”, bề ngoài tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng đằng sau ấy là chất chứa bao tình trạng, tâm trạng của một kiếp người. Câu chuyện như lời cảnh tỉnh về thực trạng tha hóa “gà nhà bôi mặt đá nhau”, sự suy thoái giá trị nhân luân đạo nghĩa trong gia đình, xã hội.

Mỗi con vật trong truyện ngắn của Ngô Phan Lưu hiện lên thật sinh động với nhiều tính cách khác nhau. Đó là con mèo Mướp có tật xấu rình bắt gà con, ăn vụng. Là con voi già đứng đắn, lễ phép ở Thảo Cầm Viên. Một con dã nhân “dâm đãng”. Một tên cù lần làm biếng. Một con chó Vện “thừa trí khôn” mà cũng rất “ngốc”. Cả cái giống chim cuốc kỳ cục ghét cay ghét đắng tiếng còi…

Cũng trên trang văn, người đọc bắt gặp tâm trạng hoảng sợ tột cùng của những thế lực thù địch. Một chú thỏ con run cầm cập vì sắp trở thành bữa lót lòng của con trăn khổng lồ. “Những chú vịt con ngộ nghĩnh nấp trong bụi rào, đang run sợ, soi qua nhánh lá, nhìn anh…” –  kẻ vừa cướp đi mạng sống đồng bọn của chúng, hay con chó Mực sợ hãi “vùng dậy, chạy rối loạn” để tránh con người sau khi bị “thiến văn minh, đạo đức”. Trong những thế lực thù địch đó khiến ta nhận ra sự độc ác đáng kinh tởm dù vô tình hay cố tình của con người. Và hơn một lần, các con vật trong truyện Ngô Phan Lưu đều biết “nói tiếng người”, biết chỉ trích, mắng nhiếc, oán giận “sự dã man của loài người”.

Sự xuất hiện hình tượng nhân vật loài vật trong tác phẩm của Ngô Phan Lưu có thể làm phát ngôn viên cho con người; có khi như một dụng ý nghệ thuật; khi góp phần miêu tả thế giới nội tâm của con người; khi làm người dẫn chuyện tài tình… tất cả góp phần làm phong phú thêm cho thế giới nhân vật truyện ngắn Ngô Phan Lưu. Ẩn chứa trong mỗi trang truyện về loài vật, tác giả muốn nói đến chuyện loài người, gợi lên ở người đọc sự liên tưởng về nhiều vấn đề, cách đối xử trong mối quan hệ giữa con người với con vật, vừa tố cáo sự hờ hững và vô tâm của “cái giống người khốn kiếp”. Đồng thời khơi dậy phẩm chất nhân hậu cao quý của con người.
               
Đúng như Tô Hoài nhận định: “Nhân vật là nơi tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy cho một sáng tác”. Trong mỗi tác phẩm, các nhà văn đều xây dựng một hệ thống nhân vật phù hợp với dụng ý nghệ thuật của mình. Truyện ngắn Ngô Phan Lưu mang đậm màu sắc, dấu ấn “nông dân”, được thể hiện rõ qua hệ thống nhân vật “vương mùi khói rạ” một cách độc đáo. Nhân vật được soi chiếu từ nhiều khía cạnh từ ngoại hình, hành động, ngôn ngữ cho đến chiều sâu đời sống tâm lý, tâm linh bên trong vì thế mà trở nên gần hơn, thật hơn với cuộc đời.

Phú Yên 7.2015
NGUYỄN THỊ TRÚC LY
Nguồn: NVTPHCM 



NHÀ THƠ NGUYỄN TẤN VIỆT: CON ĐƯỜNG CỦA SỰ MƠ HỒ

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không sao thoát khỏi hình ảnh về nhà thơ Nguyễn Tấn Việt. Đó là một con đường đơn độc - con đường của thơ ca - và Nguyễn Tấn Việt đi trên con đường ấy từ thuở mười tám đôi mươi cho đến giờ. Ông cứ thế kiên nhẫn bước đi chưa một lần ngừng bước. Dù cho thời tiết và con người thay đổi thế nào, quanh ông và tay ông chưa bao giờ dời bỏ ngọn lửa của thơ ca.
Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt

Thơ ca chạm vào ông giống như lửa chạm vào xăng không gì có thể ngăn nổi. Không ít người đã từng kêu lên: thơ đã chết. Nhưng ông là một trong không nhiều nhà thơ là sự minh chứng tin cậy nhất rằng, thơ ca vẫn sống mãnh liệt trong đời sống con người. Gương mặt ông đẹp nhất, thánh thiện nhất và uy quyền nhất là những khi ông đọc thơ. Ông đứng đọc thơ giống như một con chim đang bay thẳng đứng lên trời xanh và vừa bay vừa cất tiếng hót. Khi ông đọc thơ thì mọi ưu phiền không phải trong ông mà trong chúng ta vụt tan biến.

Sau khi Nguyễn Tấn Việt tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, ông trở thành phiên dịch cho các chuyên gia Thụy Điển trong những ngày đầu xây dựng Nhà máy Giấy Bãi Bằng. Đấy là những năm 70 của thế kỷ trước. Ngày ấy, những chùm thơ của ông thường xuyên xuất hiện trên Báo Văn nghệ và các tờ báo lớn. Nhưng rồi đến một ngày, ông phải lựa chọn một trong hai con đường. Một con đường của hiện thực vật chất (làm việc cho người nước ngoài) và một con đường của sáng tạo mơ hồ (thơ ca). Ông đã chọn con đường của sự mơ hồ và bước đi với tình yêu lớn mà không hề lưỡng lự. Đấy là con đường mà mỗi nhà thơ phải tự đi một mình. Ông dời bỏ công việc phiên dịch cho các chuyên gia Thụy Điển để về làm biên tập thơ cho một tạp chí nhỏ hai tháng ra một kỳ của một phòng sáng tác thuộc một Ty Văn hóa Thông tin.

Làm cho các chuyên gia nước ngoài ngày đó và cả bây giờ luôn luôn là một cơ hội tốt để thay đổi đời sống. Ngày ấy, một sự thật hiển nhiên là chỉ những vỏ chai, vỏ đồ hộp vứt quanh các khu chuyên gia nước ngoài không thôi cũng là một nguồn thu đáng kể của một số người. Nhưng Nguyễn Tấn Việt đã dời bỏ con đường chắc chắn là đảm bảo một đời sống vật chất cho ông và gia đình ông để đi theo một con đường mà ông cũng chắc chắn biết đời sống vật chất sẽ khó khăn. Nhưng không chỉ khó khăn mà ông phải sống một đời sống vô cùng khó khăn.

Vợ chồng ông có năm người con, vợ ông làm ruộng, còn ông là một công chức quèn, chính thế mà ông phải gánh chịu những năm tháng khốc liệt của cơm áo. Vậy mà ông không hề kêu ca, phiền muộn và chưa một lần thơ ông đánh mất bản chất thiêng liêng của nó. Cứ khi một câu thơ vang lên thì thế gian ông đang sống với nỗi kinh hãi về đồng tiền lại ngay tức khắc biến thành thiên đường của cái đẹp và tình người sâu nặng. Thơ ca đã giải phóng ông khỏi sự đầy đọa của đời sống vật chất. Ông đọc thơ trong quán nước chè và trong nhà trường. Ông đọc thơ trong hội nghị và trên giường ngủ. Ông đọc thơ trong tiệc cưới và trong nhà tù. Dù đọc thơ ở đâu ông cũng đắm say và uy quyền như thế. Bởi với ông, thơ ca không là sở hữu của riêng ai, thơ ca là của đời sống.

Người ta kể rằng: có một người bạn cưới con mời ông đến dự tiệc. Ông trịnh trọng trao một phong bao mừng hạnh phúc đôi uyên ương mới. Nhưng trong phong bao đó không phải là tiền mà là một bài thơ. Khi mở phong bao ra, vợ người bạn đã "sầm mặt" vì không thấy tiền. Sự thiêng liêng và giá trị nhân văn đã bị xúc phạm. Người đàn bà kia đã đánh mất cái giá trị vĩnh hằng của văn hóa và thay vào đó là nuối tiếc cái giá trị ngắn ngủi của những đồng tiền. Người đàn bà đó không phải là trường hợp cá biệt. Có thể chưa từng có câu chuyện như thế. Nhưng người nào đó làm ra câu chuyện này chỉ nhằm thông báo về một đời sống tinh thần đang bị vật chất đe dọa. Những năm tháng thiếu thốn về vật chất và nhiều giá lạnh của tình người, chỉ có thơ ca mới cứu thoát ông và làm trong sạch ông khi xung quanh ông biết bao điều và bao người đang bị phủ đầy rác bụi.

Người ta luôn luôn mang cảm giác khi ông đi đến đâu thì một đời sống tinh thần của thi ca hiện ra đến đó. Ông lôi kéo không chỉ những người làm thơ quen biết ông mà cả những người ông không biết viết một câu thơ nào vào thế giới của sự say đắm, sự nhân ái và sự thiêng liêng của thơ ca. Bởi thế mà ông sống không lừa dối ai và không thù hận ai. Bạn bè vô cùng ngạc nhiên về sự dịu dàng tinh tế của ông đối với cả những kẻ đố kỵ, ghen ghét và đôi khi có những hành động ác với ông trong cuộc sống thường nhật.

Ai đó không phải với ông, ông bước đến nhẹ nhàng và nói như nói với một người thân: Chúng mình là người làm thơ, ai lại đối với nhau như thế nhỉ. Bởi với ông, thơ ca là để chia sẻ chứ không phải để thách đố nhau. Vậy mà cho đến bây giờ, có những người đã qua lâu rồi cái tuổi "tri thiên mệnh" mà vẫn ghen ghét, đố kỵ với ông. Nhưng với ông, mặt lá nào cũng biếc xanh, mặt người nào cũng ngời sáng. Có lẽ đó là một trong những lý do để ông sinh ra những câu thơ: Nếu không yêu mặt đất/ Trên trời mây không bay. Hai câu thơ này trong bài thơ Những người sống trong mây đã tôn vinh ông lên giải nhất trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn cách đây bốn năm. Báo Văn nghệ đã nhận đúng giá trị của những câu thơ đó và đặt bài thơ và tác giả của nó vào đúng vị trí.

Ông từng nhận giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ông nhiều lần nhận giải thưởng thơ của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật toàn quốc và các giải thưởng uy tín khác. Nhưng tất cả những giải thưởng đó không làm con người ông thay đổi như nó vốn thường thay đổi không ít các nhà thơ. Sau mỗi giải thưởng, ông lại trở về một tỉnh miền núi nơi ông đang sống và làm việc để tiếp tục suy ngẫm và sáng tạo trong im lặng vốn là bản chất và ý thức của ông. Mỗi giải thưởng đối với ông như một vụ mùa. Mà thơ ca như những cánh đồng rộng lớn của thế gian. Ông chỉ biết đắm say gieo trồng và đắm say gieo trồng cho tới khi nào có thể.

Có không ít những người bạn thơ của ông đã không chịu nổi sự mơ hồ và cô độc trên con đường của thi ca đã phải rẽ sang ngả khác. Bởi không ít người đi mãi, đi mãi vẫn không thấy được lợi quyền gì cho riêng họ trên con đường ấy. Nhưng nhà thơ Nguyễn Tấn Việt chưa một lần lưỡng lự, chưa một lần hoang mang. Ông đi một mình trên con đường ấy trong mọi thách thức, trong mọi cám dỗ mà chẳng hề đổi thay.

Một nhà thơ đã nói với tôi: Tình yêu thơ lớn lao không vụ lợi của Nguyễn Tấn Việt làm cho tôi nhiều lúc phải xem lại chính bản thân mình. Lúc này, trong lòng tôi lại vang lên những câu thơ của ông :

Giấc ngủ ngủ trong mây
Sấm chớp rơi vào mặt
Nhưng không ai ngửa tay
Xin trời cao tiếng hát

     (Những người sống trong mây)

Tôi thường nghĩ, Nguyễn Tấn Việt không làm ra những câu thơ như những người xưa ngồi trong phòng hì hục với "thuật giả kim" mong tìm ra cái sản phẩm cuối cùng mà họ mong muốn mà tôi tin đời sống đi qua tâm hồn ông, đi qua tình yêu con người và thiên nhiên của ông và trở thành những câu thơ. Thơ ca không bao giờ là sản phẩm của "thuật giả kim ngôn từ" mà là sản phẩm của những biến động tâm hồn mang tính sự kiện.

Khá nhiều những người làm thơ của thế hệ sau ông đã mang thơ đến cho ông. Cái ông chờ đợi đầu tiên và quan trọng nhất ở những người làm thơ ấy là những thông điệp của tâm hồn họ, rồi sau đó mới đến những vấn đề thuộc kinh nghiệm và kỹ thuật. Chính vì thế mà một số học trò thơ ca trong những bước đi đầu của họ đã được ông truyền ngọn lửa của tình yêu con người và cái đẹp, những trải nghiệm sống, trải nghiệm sáng tạo, đã trở thành những nhà thơ có tên tuổi hiện nay.

Bây giờ, nhà thơ Nguyễn Tấn Việt vẫn sống và vẫn sáng tạo thơ ca cùng dịch thuật như ông đã làm mấy chục năm nay ở một tỉnh miền núi. Cuộc sống của ông vẫn như thuở trước. Ông hình như chẳng lúc nào nghĩ mình phải ăn như thế nào, uống như thế nào. Ông chẳng bao giờ phải nghĩ mình sẽ ở trong một ngôi nhà như thế nào và đi chiếc xe như thế nào. Vật chất, chất lượng A và chất lượng Z, với ông đều như nhau. Những thứ đó chẳng mảy may chạm vào lòng ông. Chỉ có thơ ca ngày đêm với ông như hình với bóng. Thiếu thơ ca ông sẽ ốm đau. Ông chỉ vụt trở nên tinh thông, trở nên đẹp đẽ, trở nên ngùn ngụt như một con cá khi được trả lại đại dương thơ ca mênh mông. Khi không có thơ ca thì một miếng ăn mặn nhạt ông cũng không phân biệt được rõ ràng. Ông không là người làm đột biến thơ ca nước nhà nhưng ông là người giữ cho những phẩm tính của thơ ca và của thi sỹ luôn luôn trong sáng và thiêng liêng.

Trên những con đường của một thị xã miền núi, ông vẫn đạp xe như muôn vàn người dân khác. Rất ít người nhận biết được ông là một nhà thơ. Chỉ có vẻ đẹp của đời sống và những bất trắc của phận người nhận ra ông là một thi sỹ.

NGUYỄN HOÀ BÌNH

__________________________________

Nhà thơ Nguyễn Tấn Việt sinh ngày 26 tháng 12 năm 1948, quê tại xóm Chùa Cát, thôn Lam Điền, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông từng công tác tại Sở Văn hoá thông tin tỉnh Hoà Bình. Hiện về sống ở quê nhà Chương Mỹ.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Tác phẩm đã xuất bản:
- Màu cây miền châu thổ (tập thơ in chung với Hoàng Hữu, 1976)
- Ba con nai trắng biết bay (tập truyện dịch, 1983)
- Cánh giang bay lẻ (tập thơ, 1992)
- Văn hoá gia đình người Mường (tập chuyên đề khoa học, 1994)
- Mảnh trăng núi (tập thơ, 1995)
- Giọt nắng trong mơ (tập thơ, 1996)
- Mùa hoa chuông (tập thơ in chung với Đặng Ngọc Thành và Lò Cao Nhum, 1997)
- Hạt gạo đồng trời (tập thơ, 2000)
- Rừng xanh một mình (tập thơ, 2003)

Giải thưởng văn học:
- Giải A về thơ của tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
- Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam với tập thơ Hạt gạo đồng trời.

Nguồn: NVTPHCM

Thơ NGUYỄN TẤN VIỆT


NHỮNG NGƯỜI SỐNG TRONG MÂY

Chén trà pha trong mây
Vác núi đi kín nước
Lời mời, mời trong mây
Lấy ra từ đá sắc
Giãy ngủ ngủ trong mây
Sấm chớp rơi vào mặt

Nhưng không ai ngửa tay
Xin trời cao tiếng hát

Tình yêu yêu trong mây
Trước khi đi gặp người
Anh phải qua gặp thác
Ngày hai bận sóng đôi
Ngày bốn lần đỏ mắt

Những người sống trong mây
Càng bám sâu lòng đất
Hương thơm thơm trong mây
Bay lòng thung sâu nhất
Cối giã gạo trong mây
Hơi sương bốc lên mát
Viên đạn bắn trong mây
Đồ kẻ thù trước mặt

Nếu không yêu mặt đất
Trên trời mây không bay.


CON TÀU MÂY TRẮNG

Tôi chạy theo con tàu mây trắng
Khi các con tôi hát bài về mẹ cha và các
thiên thần
Những vì sao bay ra từ những đôi môi đính
vào cánh đồng những con cò trắng
Sóng biển cồn lên bởi những cánh chuồn chuồn

Tôi chạy theo bài hát của các con tôi
Bài hát mà tôi không tìm cho cha tôi được
Tôi là người, là cỏ cây, là mây nước
Bốn phía chân trời không một dấu chân tôi

Tôi bay bằng những bài hát của những thiên thần
Con quạ trắng kêu 60 năm không ngủ
Tôi không còn chân tay, không còn mặt mũi
Chỉ có trái tim run rẩy với sương mờ.


NGƯỜI THẾ KỶ TRƯỚC 

Có một người từ thế kỷ trước
Nước mắt màu nõn chuối
Nụ cười lợt hoa ngâu
Lừa khi tôi ngủ trưa gối đầu lên tay
Nằm mộng
Người trở về
Dúi vào tay tôi lá cả đẫm sương
Cài vào áo tôi cành hoa trinh nữ
Vùi vào tóc tôi lời thề
Hoang dã

Tan mơ tôi hoảng sợ
Thề không bao giờ nằm mộng.


CÓ THỂ       

Có thể hái hoa ta chẳng có nhau
Cũng sương nắng thôi bốn mùa đều có thật

Bạn cứ hát tôi xa nghe bạn hát
Dù tôi đang không ý nghĩ không lời

Bạn bè ơi! Bản nhạc có thiếu tôi
Đừng bận lòng hát tôi khi chạm cốc
Nhưng xin nhớ khi cạn khô lời chúc
Xin bạn đừng đập cốc gọi tên tôi.


GIẤC NGỦ CON NGƯỜI     

Tình cờ tôi được ngắm con người
Ngủ ngồi
Hướng về vườn cây cảnh
Lồng một khoảng đêm vào ngày
Tay buông lỏng
Như vừa buông một cánh chim bay
Bờ mi khép vào gương mặt mở
Giấc ngủ sâu - nước lặng hồ mây
Anh ngủ ngồi - thai nhi trong bụng mẹ
Khoảng nắng như bọc hồng
Giấc ngủ thơm hương mật ong
Bờ môi ngậm
Tiếng chào cây cỏ
Và bài ca hát hết con đường
Tôi từng núi xa ngắm bao biển bao trời
Chưa bao giờ mây bay trong tôi
Bằng giấc ngủ ngồi
Bằng hương thơm giấc ngủ một con người.


CHÂN TRỜI         

Tôi từ chân trời lạ
Vọng về quê cha mờ nắng hóa chân tời
Tôi đâu ngờ khói bay bóng núi
Là cõi lòng của tôi
Tôi đâu ngờ dưới hồng tím chiều mây
Cha tôi ngồi đan giỏ khô màu tóc
Các con tôi, em cười, anh khóc
Giành nhau trái vàng dập nắng lấy nhân ăn
Tôi đâu ngờ dưới bảy sắc cầu vòng
Vợ tôi giật lùi cấy vào buốt giá
Cái rét quê chồng tím làn môi vợ
Nơi mặt trời về gặp gỡ sao hôm
Mẹ già tôi tựa cửa
Tiếng chim kêu đỏ vầng trăng khuyết
Cánh vạc bay gãy khúc ca chèo
Tôi bần thần trở về quê cha
Lại đăm đắm nơi chiều xa, lạ, cũ
Nỗi lòng cầm tay
Thành khói lên mờ nắng chân trời.


Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2018

TRẦN QUANG NGHIỆP - CÂY BÚT TRUYỆN NGẮN NỔI BẬT Ở NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

Trần Quang Nghiệp là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc ở Nam Bộ 30 năm đầu thế kỉ XX. Những cách tân, đổi mới trong hình thức kết cấu tác phẩm cũng như nghệ thuật kể chuyện đã chứng tỏ sự đóng góp của Trần Quang Nghiệp nói riêng và của các nhà văn quốc ngữ Nam Bộ nói chung vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
Kênh Chợ Gạo quê hương nhà văn Trần Quang Nghiệp

Trong khoảng mười năm trở lại đây, văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nói chung và truyện ngắn nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm sưu tầm, tìm hiểu và diện mạo đang dần được “phục hưng”. Có thể nói “hòn máu bỏ rơi” (chữ dùng của Bùi Đức Tịnh) một thời của nền văn học dân tộc đang dần tìm lại được vị trí và vai trò xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn giao thời với tư cách là nền văn học tiên phong viết bằng chữ quốc ngữ. Trên hành trình ấy, chúng tôi muốn góp phần khơi dậy những giá trị văn chương một thời quên lãng. Tác giả gây ấn tượng mạnh đối với chúng tôi bởi lối viết rất hiện đại và đậm chất Nam Bộ là Trần Quang Nghiệp - một trong số không nhiều cây bút truyện ngắn nổi bật ở Nam Bộ những năm cuối thập niên 20 đầu thập niên 30 của thế kỉ XX.
Sở dĩ chúng tôi tìm hiểu Trần Quang Nghiệp vì năm 2007, trong quá trình làm tư liệu trên báo Thần chung, có một số “đoản thiên tiểu thuyết” (truyện ngắn - thuật ngữ phổ biến thời bấy giờ ở miền Nam) của nhà văn khá đặc sắc với lối viết và phong cách khác hẳn các truyện ngắn trên tờ Thần chung. Điều này gây nên sự tò mò về Trần Quang Nghiệp và các sáng tác của ông. Sau một thời gian dài lục tìm tư liệu báo chí cũ và các bản microfilm trên Thư viện Quốc gia cũng như tìm gặp được một số nhà nghiên cứu văn học quốc ngữ Nam Bộ trong Nam, đến nay chúng tôi đã có những thông tin chi tiết về tiểu sử và khá đầy đủ văn bản truyện ngắn của ông.

Vài nét về tiểu sử nhà văn Trần Quang Nghiệp

Trần Quang Nghiệp sinh năm Đinh Tỵ (1907) tại làng Bình Cách, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho nay là huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Ông là con thứ 4 trong gia đình có 6 người con của cụ Phủ Cẩm Trần Quang Xuân - một hào phú tân học ở Mỹ Tho.

Thời niên thiếu, ông học trường Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho sau lên Sài Gòn học và bắt đầu viết văn tương đối sớm, khoảng 1927, ở tuổi 20. Theo tư liệu chúng tôi sưu tầm được, tác phẩm đăng báo sớm nhất của Trần Quang Nghiệp là truyện ngắn Ai đành phụ nghĩa trên Đông Pháp thời báo, số 683-684 ra ngày 16 và 18-2-1928. Trần Quang Nghiệp viết rất nhanh, trong khoảng 5 năm cầm bút (1927 - 1932), ông đã để lại một số lượng tác phẩm khá lớn với khoảng 40 truyện ngắn và 07 tiểu thuyết được đăng trên các tờ Đông Pháp thời báo (ĐPTB), Thần chung (TC), Phụ nữ tân văn, Trung lập, Công luận…(1).

Năm 1932, khi Trần Quang Nghiệp chuẩn bị đi Pháp du học thì được tin anh trai ông đang học bên Pháp đột ngột qua đời, kế hoạch này đành bỏ dở phần vì phải chăm sóc cha mẹ, phần vì trách nhiệm của người con trai duy nhất trong nhà phải gánh vác việc điền trang. Ông rời Sài Gòn về Mỹ Tho lo công việc làm ăn của gia đình, chấm dứt sự nghiệp văn chương ở độ còn tuổi rất trẻ, 25 tuổi.

Cũng trong năm 1932, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Nhàn và có 5 người con, sau đều là những người thành đạt. Trong thời gian này, ông bắt đầu niềm đam mê với môn thể thao bóng bàn.

Năm 1945, khởi nghĩa Nam Bộ nổ ra, nhà cửa ở Mỹ Tho bị tàn phá, ông chuyển cả gia đình lên Sài Gòn sinh sống. Năm 1947, ông lập Câu lạc bộ Bóng bàn Nam Việt và nơi đây đã đào tạo ra những tay vợt xuất sắc của miền Nam trước 1975. Hai trong số năm người con của ông cũng là những tay vợt nổi tiếng đường thời: Trần Quang Nhụy và Trần Thị Kim Ngôn(2).

Những năm 60, ông có tham gia biên dịch và viết phụ đề Việt ngữ cho nhiều phim nước ngoài của hãng phim do người cháu họ ở Sài Gòn lập. Ngoài ra, chúng tôi chưa tìm thấy cứ liệu nào chứng tỏ ông có tham gia trở lại hoạt động văn học.

Năm 1983, Trần Quang Nghiệp mất tại thành phố Hồ Chí Minh, thọ 77 tuổi.

Trần Quang Nghiệp - cây bút truyện ngắn xuất sắc ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Giới thiệu về tác phẩm của Trần Quang Nghiệp, báo Công luận số 2128, ngày 28-7-1931 viết: “Tiểu thuyết Giọt máu anh hùng của Trần Quang Nghiệp, người đã viết rất nhiều đoản thiên tiểu thuyết thật hay cho Đông Pháp thời báo, Thần chung và gần đây cho Công luận. Trần Quang Nghiệp là người đã viết bộ ái tình tiểu thuyết Giờ ly biệt cho Trung lập”. Như vậy, tên tuổi của nhà văn Trần Quang Nghiệp đã được báo chí đương thời nhìn nhận ở hai mảng: tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết (từ bây giờ chúng tôi sẽ thay bằng thuật ngữ “truyện ngắn”). So với tiểu thuyết, truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp có phần đặc sắc, ấn tượng hơn bởi văn phong sắc sảo, hiện đại và một phong cách truyện ngắn đậm chất Nam Bộ.

Đọc truyện ngắn Trần Quang Nghiệp, ta thấy nhà văn không đề cập đến những vấn đề rộng lớn của xã hội mà chỉ tập trung khai thác những vấn đề “vụn vặt” của cuộc sống và đạo đức con người, đặc biệt là ở “thiềng thị” miền Nam những năm 20 của thế kỉ trước bằng một lối viết rất hấp dẫn, đặc sắc mang đậm dấu ấn riêng. Giống như nhiều nhà văn Nam Bộ cùng thời, vấn đề xuyên suốt truyện ngắn Trần Quang Nghiệp là vấn đề đạo đức, nhân cách con người trong xã hội giao thời. Ở mảng đề tài này, ông đã nắm bắt và phản ánh linh hoạt từng khía cạnh của cuộc sống ảnh hưởng đến nhân cách con người. Đó là câu chuyện về tên quan Huyện háo sắc trong Lỗi bù lỗi, là những cô gái quê sính cuộc sống thành thị hào nhoáng, được “ăn trắng mặc trơn” trong Chuyến xe trưa; hay những kẻ chuyên lợi dụng sự cả tin, hám lợi để đi lừa đảo: lúc thì là câu chuyện lừa lọc xảo trá trong kinh doanh (Gặp người khách quý, Ai muốn làm giàu), khi thì lợi dụng những kẻ háo sắc để lừa gạt (Ba cô áo trắng), trong thời buổi khó khăn, túng quẫn ngay cả bạn bè cũng lường gạt nhau (Gặp người bạn cũ); và cả sự tha hóa đạo đức của cha mẹ đối với con cái trong Trên lầm dưới lỗi để đến đỗi có một kết cục bi thảm: con trong cơn phẫn uất đã giết cả cha lẫn mẹ... Truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp “không có tham vọng mô hình hóa toàn bộ cuộc sống mà chỉ có thể là một trường hợp nào đấy của hiện thực bỗng nhiên chớp nhoáng làm cho toàn bộ cuộc sống nổi rõ hơn bởi sự bí ẩn của nó được khám phá nhờ tri thức của tác giả biết ghi nhận sự việc thường không ai ghi nhận, biết cảm giác những giá trị bị người đời bỏ qua, biết đưa ra nhiều khía cạnh của thế giới chúng ta hằng quen thuộc và xếp đặt lại theo cách mà chúng ta không hề nghĩ tới”(3). Thật vậy, ông đã làm một cách rất khéo những điều tưởng chừng như “không có gì” ấy. “Chỉ khoảng một vài trang, truyện ngắn của ông như những lát cắt ngang cuộc sống, có khi chỉ là một chi tiết, một mảnh đời nhỏ, một ngày trôi qua, hay thậm chí một khoảnh khắc trong đời người... nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa”(4). Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi đi tìm hiểu nghệ thuật viết truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp trên một số bình diện:

Người kể chuyện (narrateur) là một trong những phạm trù cơ bản của nghệ thuật trần thuật. Người kể chuyện là “một hình tượng được tác giả thực hư cấu nên, nó có thể ở ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba (cá nhân/ phi cá nhân). Nó có nhiệm vụ mang lời kể trần thuật và chỉ im lặng khi nhân vật lên tiếng”. Khi đã có người kể chuyện thì sẽ có người nghe chuyện (narrataire) hoặc tạo thành cặp người kể - người đọc (có thể ẩn tàng hoặc hiển thị). Các cấp độ trần thuật còn liên quan đến mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật, tức “tìm hiểu xem người kể chuyện là hay không là nhân vật của câu chuyện mà anh ta kể lại”(5). Nếu xét trên quan niệm như vậy, phần lớn truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp đều được kể theo lối truyền thống tức là được kể theo ngôi thứ ba - người kể chuyện “biết tuốt” với kết cấu tuyến tính theo trình tự thời gian xảy ra sự kiện. Theo G.N. Pospelov: “hình thức phổ biến nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa mà đằng sau là tác giả”(6).

Qua 33 truyện ngắn chúng tôi khảo sát có 24 truyện người kể chuyện ở ngôi thứ ba, chiếm đến 72,7%. Có nghĩa là nghệ thuật trần thuật của Trần Quang Nghiệp chịu ảnh hưởng lớn từ cách kể chuyện truyền thống. Trong số những truyện ngắn này, có gần phân nửa truyện ảnh hưởng từ cách kể của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc thời Minh - Thanh, vốn được dịch rất nhiều trong giai đoạn này. Ông thường mở đầu truyện bằng cách giới thiệu “trích ngang” của nhân vật hay bối cảnh câu chuyện được kể để xác định rõ đối tượng mình muốn hướng đến. Ở những truyện này, chỉ cần căn cứ vào giọng điệu của đoạn đầu, người đọc sẽ phán đoán được kết cục câu chuyện. Chẳng hạn như lúc giới thiệu về xuất thân, gia cảnh, hình dạng ông Hương sư Thạo tuổi lối năm mươi, tác người cao lớn mập mạp, có tật thấy con gái đẹp là mắt sáng lên… trong truyện Ba cô áo trắng (ĐPTB, số 765-1928), nhà văn muốn tạo ra sợi dây liên lạc giữa cảnh mở màn với cảnh kết thúc câu chuyện: chấm dứt sự giàu có của ông Hương sư “nhanh như chớp mắt” bởi thói háo sắc này. Khi lại giới thiệu về khổ dạng, tính cách: “Thầy Bạch Văn Cơ năm nay đặng hai mươi tuổi, tác thầy ốm mà cao, gương mặt hiền hậu dễ thương. Thầy làm việc xã tây, mấy thầy đồng sở đều ưa thầy, song thầy ít hay nói, cho nên có vài thầy nói thầy khi đời” (Tấm hình của ai? - ĐPTB, số 721, 722, 725-1928), tính tình của thầy hiền hòa, dễ thương như vậy nên hậu vận của thầy Cơ cũng rất tốt: thầy lấy được người mình thương có tính tình nết na, thùy mị và hai vợ chồng mở được một cửa hiệu riêng làm ăn phát đạt… Có thể thấy đây là nét tiêu biểu của các nhà văn Nam Bộ thời kì này. Trong 24 truyện chúng tôi khảo sát trên thì có tới 12 truyện mở đầu theo cách này chiếm 50%, một tỉ lệ khá lớn. Chính điều này đôi lúc khiến người đọc cảm giác nặng nề khi tiếp nhận tác phẩm của ông. Tuy vậy càng về sau, lối vào truyện kiểu này đã ít dần đi chứng tỏ Trần Quang Nghiệp cũng đã gia công rất nhiều trong cách vào truyện cho hấp dẫn, sinh động hơn.

Có thể thấy, người kể chuyện ở ngôi thứ ba (do tác giả sáng tạo ra), lời kể ở đây mang tính khách quan hóa và trung tính. Người kể chuyện được chứng kiến câu chuyện và có khả năng kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình. Lời trần thuật ở đây còn có nhiệm vụ tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khách quan vật chất, sự việc, con người… Ở kiểu kể chuyện này để gia tăng thêm ý nghĩa cho câu chuyện, Trần Quang Nghiệp thường chêm xen vào những lời triết lí, bàn luận. Trong Xâu chìa khóa (ĐPTB, số 745, 746-1928) kết thúc truyện tác giả viết: “Thương người, dạy người biết ăn năn chữa lỗi và biết mình quấy mau toan cải quấy thì quý hóa vô cùng”; hay trong truyện Chẳng đi đâu mất, tác giả mượn lời nhân vật để đưa ra ý kiến giải thích cho hành động giúp đỡ người “thầm yêu trộm nhớ” mà không cầu mong sự đáp đền. Đến một ngày, cô đi lấy người khác, anh đã không một lời oán trách mà còn mừng cho hạnh phúc của cô vì: “Có chồng đã đáng tấm chồng, được vợ như vậy cũng đã đáng vợ, mình nên mừng giùm cho họ, nghĩ cho kỹ cái công mình so xét thương tưởng bấy lâu và ba chục đồng bạc của mình cũng chẳng mất đi đâu”; hay trong truyện Gặp người gái đẹp, người kể chuyện để cho nhân vật tự đưa ra kết luận về hành vi nhận quàng nhận bậy của mình: “Cũng ngỡ là mượn lấy danh thơm của người để hưởng chút phấn hương, chẳng dè lại phải mang nhục giùm thằng cha viết báo. Một lần như vậy, sau khá nên chừa”. Mỗi câu chuyện là một lời cảnh báo nhằm thức tỉnh lòng thương cảm đồng loại và khơi dậy lương tri con người. Những triết lí, bàn luận của Trần Quang Nghiệp thường giản dị, ngắn gọn súc tích rất hợp với phong cách không cầu kì, “sính chữ” của người miền Nam.

Yếu tố truyền thống còn thể hiện ở kết thúc truyện có hậu hay quan niệm của dân gian “ác giả ác báo”. Ở những truyện Tấm hình của ai?, Hai bó giấy (ĐPTB, số 743, 744, 745), Xâu chìa khóa (ĐPTB), người kể chuyện tác động vào cốt truyện làm thay đổi số phận nhân vật. Chẳng hạn trong truyện Xâu chìa khóa, ông Ngũ Nguyên - chủ nhà máy xay xát Nam Hiệp - đã làm một “phép thử” tính trung thực của nhân viên mình. Chính phép thử ấy đã giúp ông xác định được sự chuyển biến tích cực của người nhân viên dưới quyền là thầy Hai Thông, tạo cơ hội cho thầy ta quay trở lại với đức tính trung thực vốn đã bị tiền tài dục vọng xói mòn. Hay quan niệm “nhân - quả” được thể hiện trong truyện Trời Phật công bình (TC, số 114- 1929): Hai vợ chồng Hai Môn “giựt của, giết người chẳng gớm tay” đã giết lầm ngay đứa con của mình để cướp của và đứa con ấy - thằng Lành - cũng vừa mới giết người cướp của trên chuyến tàu đêm. Đây là nội dung khá phổ biến không chỉ trong truyện Trần Quang Nghiệp mà còn trong tác phẩm của Sơn Vương - một nhà văn khá nổi tiếng đương thời. Trong truyện ngắn Sơn Vương cũng xuất hiện những motif “ở hiền gặp lành”: Ai kén chồng, Chén cơm lành… Trong truyện Ai kén chồng, nhân vật Thị Lành đi ở mướn bị vu oan giá họa, chịu bao đày đoạn cực khổ nhưng cuối cùng cũng gặp được duyên may và sau đó trả được thù xưa. Còn quan niệm “ác giả ác báo” khi ông đề cập đến loại người thích tự do yêu đương, buông thả trong tình cảm, sống vô trách nhiệm và có tư tưởng lợi dụng tình duyên nhằm trục lợi trong các truyện Lỗi hẹn quên thề, Cưới vợ ăn Tết, Lạp Phật cầu chồng… Có thể khẳng định quan niệm “văn dĩ tải đạo” trong văn chương truyền thống vẫn còn trong sáng tác của các nhà văn như Trần Quang Nghiệp, Sơn Vương… nhưng đã mang âm hưởng của thời đại.

Mặt khác, không phải ngẫu nhiên mà nhà nghiên cứu Cao Xuân Mỹ đánh giá: “Trần Quang Nghiệp là nhà văn nắm vững kĩ thuật viết đoản thiên tiểu thuyết hiện đại lúc bấy giờ ở Nam Bộ. Vượt xa lối kể chuyện đơn thuần của các nhà văn cùng thời, truyện của Trần Quang Nghiệp luôn như một màn kịch ngắn đầy súc tích, các chi tiết của truyện khéo đan cài, sắp xếp nên rất hồi hộp, hấp dẫn, để cuối cùng tạo nên một cái kết độc đáo, bất ngờ”(7). Sự đổi mới của nhà văn thể hiện ở việc sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ nhất đã cho thấy những cách tân so với nhiều nhà văn cùng thời ở Nam Bộ và nhất là so với các tác giả ở miền Bắc. Về người kể chuyện ngôi thứ nhất - nhân vật xưng “tôi” - các nhà trần thuật học Genette và Stanzel cho rằng ở “những tình huống trần thuật” thì ngôi “tôi” chỉ được tính là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và đồng thời là nhân vật khi anh ta kể về những “trải nghiệm cá nhân”, và là người hiện diện trong hành động; còn lại là người kể chuyện ở ngôi thứ ba, ngay kể cả khi vào truyện, “tôi” giới thiệu khung cảnh, các nhân vật có mặt ở đó (dẫn theo Đào Duy Hiệp)(8).

Với việc trần thuật ở ngôi thứ nhất, tác giả viết về những điều mình đã trải qua, đã chứng kiến và nếm trải, chiêm nghiệm. Và tất nhiên, với tính chất hư cấu của tiểu thuyết (và cả truyện ngắn), “tôi” không hẳn là tác giả mà chỉ là một nhân vật của truyện. Lời trần thuật ở đây vừa là ngôn ngữ kể chuyện của tác giả vừa là ngôn ngữ kể chuyện của nhân vật, tức vừa là lời trực tiếp, vừa là lời gián tiếp (của nhân vật). Nếu xét như vậy, ở truyện ngắn Trần Quang Nghiệp có 2 dạng: Dạng 1- Người kể chuyện xưng “tôi” là tác giả trong truyện Ai đành phụ nghĩa, Hồng Hoa (TC), Trên lầm dưới lỗi, Gặp người gái đẹp…; Dạng 2- Người kể chuyện xưng “tôi” là một nhân vật trong truyện như ở “đoản thiên” Tủi phận thuyền quyên, Ông tơ cắt cớ (TC), Gương can đảm, Gặp người bạn cũ... Về người kể chuyện ở ngôi thứ nhất đã có từ trước Trần Quang Nghiệp khá lâu (trên dưới 40 năm), ông chỉ là người kế thừa và phát huy những bước đổi mới có từ trước của văn học quốc ngữ Nam Bộ. Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản có thể coi là tác phẩm văn xuôi tự sự quốc ngữ đầu tiên có hình thức kể chuyện ở ngôi thứ nhất với kết cấu “lồng ghép” (hay hình thức “truyện trong truyện”). Người kể chuyện thứ nhất xưng “tôi” nghe câu chuyện thầy Phiền thú nhận tội giết vợ, giết bạn - người kể chuyện thứ hai - lúc này là người bạn đồng hành của người kể chuyện thứ nhất. Cũng có lối kết cấu lồng ghép như vậy, truyện Ai đành phụ nghĩa cũng sử dụng người kể chuyện xưng “tôi” nhưng lại thông qua ba lần kể chuyện: Người kể chuyện thứ nhất xưng “tôi” nghe kể lại câu chuyện của người kể chuyện thứ hai - cô Tấn Mỹ Hồng - được nhân vật chính, người kể chuyện thứ ba: cô Hồng Vân, kể lại mối tình duyên ngang trái với chàng Tống Văn. Sự lồng ghép phức hợp này có thể không phải chủ ý của nhà văn mà do được nghe/ chứng kiến câu chuyện có thật và sau đó thuật lại cho độc giả nghe. Bởi đây là tác phẩm duy nhất của Trần Quang Nghiệp có lối kể chuyện như vậy. Khảo sát trên các tờ Nam phong, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo, Thần chung, chúng tôi chưa tìm thấy hình thức kể chuyện như của truyện Ai đành phụ nghĩa. Còn trong truyệnGặp người bạn cũ, nhân vật chính xưng “tôi” tự thuật lại câu chuyện về mình. Truyện mang đậm màu sắc hiện thực pha chút bi hài qua giọng điệu kể chuyện “lạnh lùng” khá lạ của Trần Quang Nghiệp. Nhân vật chính - người kể chuyện - kể về thời buổi khó khăn, không tiền nên phải mò mẫm lết bộ hàng chục cây số tìm bạn mượn đỡ nhưng hình như bạn bè “biết ý” đều đi vắng hết thảy. Đi bộ từ sáng cho đến tận chiều, bụng đói, bỗng nhiên gặp “bạn cũ” đến mức không nhớ rõ được mặt bạn. Anh bạn kể nay đã giàu có vì lấy được vợ giàu ngỏ ý nếu muốn lấy em vợ anh ta giới thiệu cho. Sau đó, hai người vào nhà hàng vừa “tâm sự”, vừa chè chén no say đến khi thanh toán anh bạn bảo quên ví tiền ở khách sạn nên xin phép về lấy. Nhân vật “tôi” chờ đến nửa đêm không thấy bạn quay lại, túng quá phải lấy giấy thuế thân các lại mới về được. Trên đường về “tôi” vẫn không tin bạn lừa mà chỉ sợ bạn chẳng may “gặp chuyện rủi ro”. Cả truyện mảy may không có từ nào ca thán vì bị bạn lừa, tác giả để cho người đọc tự lí giải căn nguyên mọi chuyện. Đây cũng là chuyện xuất phát từ thực tế khó khăn trong thời buổi bấy giờ. Đó là cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933), Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Nội dung hiện thực này, ta còn bắt gặp trong các truyện Ai muốn làm giàu?, Gặp người khách quý… Tuy nhiên ở hai truyện này lại đánh vào tâm lí ham làm giàu mau chóng của một bộ phận người Việt Nam. Có thể nói cách kể chuyện của Trần Quang Nghiệp rất có duyên và hóm hỉnh. Mỗi truyện chỉ chừng khoảng 2 - 5 trang giấy nhưng đều tái hiện hiện được những hiện tượng điển hình của cuộc sống xã hội thành thị miền Nam. Vì vậy, đọc truyện của Trần Quang Nghiệp nhiều người yêu thích không phải ở ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mà ở cách hành văn đặc biệt có duyên ấy.

Trong 33 truyện ngắn chúng tôi khảo sát có 9 truyện người kể chuyện ngôi thứ nhất, chiếm 27,3% - một con số chưa thật nhiều nhưng bước đầu đã cho thấy Trần Quang Nghiệp đã có ý thức đổi mới cách viết truyện của mình. Với thao tác tương tự, qua 21 truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan viết từ 1929 đến 1933 trong cuốn Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc (Nhà in Văn học, Hà Nội, 2005) thì có 4 truyện sử dụng người trần thuật ở ngôi thứ nhất xưng tôi: Ông chủ báo chẳng bằng lòng, Xin chữ cụ Nghè, Gói đồ nữ trangvà Samandji, chiếm 19%, cũng không nhiều. Điều đáng chú ý là các truyện này chỉ được Nguyễn Công Hoan viết từ 1932 trở đi (theo ghi chú ở cuối mỗi truyện).

Khi kể chuyện ở ngôi thứ nhất, Trần Quang Nghiệp có giọng điệu cảm thông với số phận những nhân vật. Trong truyện Tủi phận thuyền quyên, nhân vật tôi chứng kiến cảnh đời của cô Thể Phụng bị chồng phụ bạc hắt hủi hai mẹ con với niềm cảm thông thầm lặng. Hay truyện Hồng Hoa (TC, số 190-1929) là câu chuyện bi thương của chàng trai khi vô tình đẩy người mình yêu vào chỗ chết. Truyện đề cao sự thức tỉnh và lòng chung thủy của Hồng Hoa, nhân vật chính của truyện. Việc sử dụng ngôi thứ nhất kể chuyện đã tạo nên sự gần gũi trong mối quan hệ giữa người kể chuyện và người đọc. Nó cũng tạo nên độ tin cậy và gia tăng sức lan tỏa của truyện, dẫn người đọc đến mục đích của nhà văn là sự cảm thông, là bài học cảnh tỉnh được rút ra đằng sau đó. Đây là nét đặc trưng trong truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp.
Về hình thức kết cấu: Trong sáng tác nghệ thuật, kết cấu là một phương diện cơ bản tạo nên diện mạo tác phẩm. Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong tác phẩm. Nó tổ chức và sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm, trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định. Mục đích của kết cấu là tạo thành một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát của tác giả, giúp cho người đọc thấy được hình tượng nghệ thuật với tất cả chiều rộng, chiều sâu, tất cả tính bức thiết và ý nghĩa nhân sinh đối với con người. Ngay từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX cùng với sự biến đổi dần dần của hình thái kinh tế - xã hội, văn học đang trên hành trình quá độ đi vào quỹ đạo hiện đại. Từ những cốt truyện kịch tính kiểu truyền thống, truyện ngắn đầu thế kỉ XX đã học tập, sáng tạo những cốt truyện kịch tính kiểu văn học phương Tây - vốn là điều mới mẻ với văn học Việt Nam lúc bấy giờ.

Sáng tác ở giai đoạn thập niên 20 của thế kỉ XX khi mà các thể loại văn học đang định hình và có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa cái cũ và cái mới nên truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp in đậm dấu vết của buổi giao thời này. Theo chúng tôi, truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp là sự kế thừa sáng tạo kết cấu tác phẩm theo quan điểm truyền thống bên cạnh những tiếp thu cách thức sắp xếp tình huống truyện theo hướng hiện đại. Thật vậy, ở những truyện kể theo thời gian tuyến tính của câu chuyện, Trần Quang Nghiệp đã tỏ ra dụng công trong cách tạo dựng tình huống cho câu chuyện khá đặc sắc ở cách kết thúc truyện bất ngờ mang màu sắc bi - hài. Những kiểu kết thúc này ta sẽ còn gặp nhiều ở các nhà văn miền Bắc sau này như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân (ở các truyện mang màu sắc hiện thực) và nhất là Nguyễn Công Hoan. Sự kết hợp các sắc thái bi - hài trong câu chuyện tạo nên tác động cộng hưởng của truyện. Ở truyện Ba cô áo trắng (ĐPTB), nhân vật chính là ông Hương sư Thạo giàu có, sau một đêm cho ba cô gái bán hột xoàn ngủ nhờ rồi bị cô em út xinh đẹp làm cho mê mẩn. Sáng dậy từ biệt họ, ông vẫn không hay biết két tiền của mình đã sạch trơn, mãi cho đến tận khi có người đến hỏi vay bạc ông mới té ngửa ra rồi chỉ biết kêu lên: “Ba cô… áo trắng”. Kết truyện ta mới biết ông Hương sư Thạo vì sao đến đỗi bị lừa mất hết cả tiền. Hay truyện Gặp người gái đẹp, nhà văn đả kích những kẻ hay đi mượn danh người khác để làm sang mình. Thầy Mười Trương thấy cô gái có màu áo xanh xinh xắn nhận nhầm mình là nhà báo Bùi Thế Ngươn thì ra chiều đắc ý lắm vì phen này “hưởng đặng chút phấn hương” nhưng đến khi những cái cán dù đập loạn xạ vào thầy kèm theo lời sỉ mắng: “Thầy ỷ có ngòi bút sắt mà tưởng rằng tôi chẳng có cán cây dù hay sao?” thì thầy mới hiểu tác hại của việc nhận quàng người khác. Còn ở Lỗi bù lỗi là câu chuyện bi hài về thân phận con sen thằng hầu trong đời sống thành thị đầu thế kỉ XX. Con vú nuôi trông ưa nhìn mắc cái lỗi hay ăn cắp vặt tiền trong túi áo ông Huyện để ông rình bắt được, phải vào phòng bù lỗi. Con ở dùng dằng mãi, ông vừa bắt vào phòng vừa dọa dẫm sẽ bỏ tù. Những kiểu kết thúc như vậy ta còn gặp trong các truyện: Nông nỗi vì đâu, Giả thiệt là ai?, Bài Hành Vân, Thêm một lá thăm của…, Trời Phật công bình (ĐPTB), Lòng người khó biết, Cái áo màu xanh… Mỗi câu chuyện là một tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng đối với những thói hư tật xấu ở đời. Đây là đặc điểm nổi bật trong giọng văn của Trần Quang Nghiệp. Giọng hài hước này, tác giả thường dùng khi sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ ba, khác với khi trần thuật ở ngôi thứ nhất thường có giọng thương cảm, trân trọng đối với các nhân vật. Chính vì thế mà có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mỗi truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp như một “bài học cảnh giác” đối với mọi người. Có lẽ vì lí do này mà truyện ngắn của ông được người dân Nam Bộ đương thời rất ái mộ, thể hiện ở tần suất xuất hiện dày đặc các truyện của ông trên ĐPTB, Công luận, Trung Lập.

Nhìn chung, truyện ngắn Trần Quang Nghiệp đều có cốt truyện nhưng thường đơn giản. Dường như đối với ông, cốt truyện chỉ là cái “font” để nhà văn trình diễn kỹ thuật sắp xếp tình huống truyện. Về tình huống truyện, nếu đặt Trần Quang Nghiệp bên cạnh Nguyễn Công Hoan ta thấy hai nhà văn này rất gần nhau. Truyện ngắn Lòng người khó biết của Trần Quang Nghiệp có tình huống truyện khá giống với truyện Oẳn tà rroằn của Nguyễn Công Hoan. Cùng motif “nhận lầm con” nhưng truyện của Nguyễn Công Hoan được đẩy lên một mức cao hơn, tình huống truyện kịch tính, lớp lang chặt chẽ. Mặt khác, văn phong trong truyện cũng được nhà văn trau chuốt, mượt mà hơn văn phong truyện của Trần Quang Nghiệp nhưng điểm hấp dẫn người đọc ở nhà văn miền Nam này là dù câu chuyện đơn giản, ông vẫn tạo được ấn tượng mạnh mẽ với người đọc nhờ ngôn ngữ linh hoạt và tình huống truyện đầy biến hóa. Có thể thấy hai câu chuyện cùng một kiểu kết thúc: bất ngờ, đầy tính kịch ám ảnh người đọc(9).

Việc sử dụng cách kết thúc bất ngờ của Trần Quang Nghiệp kế thừa có sáng tạo từ truyện cười dân gian nhưng có thể khẳng định ông đã tạo nên bản sắc riêng và tạo được sự hấp dẫn nhất định với người đọc như truyện Thêm một lá thăm của… Truyện kể về thầy Lê Quang Minh vốn có “tánh không hay rầy rà với vợ”. Thầy quyết tâm tìm bạn đồng chí để lập hội “Đàn ông sợ vợ”, mục đích của hội là “để mà tựu hội than thở cùng nhau hoặc lập thế mà trừ mấy bà vợ dữ”. Khác với truyện cười dân gian, nhân vật chết đứng ngay tại chỗ khi các bà vợ kéo quân ra, trong truyện này, thầy Lê Quang Minh đã bị khai trừ ra khỏi hội do quá nôn nóng với chức Hội trưởng: thầy vi phạm qui định cấm bỏ phiếu cho mình. Đúng là “trong cái rủi có cái hên”, thầy vừa ra khỏi cổng thì vợ thầy xăm xăm đi tới ngay trước mặt. Truyện thể hiện cái nhìn hài hước nhẹ nhàng về những người đàn ông sợ vợ chứ không mang nặng tính đả kích như truyện cười dân gian. Nguyễn Công Hoan cũng là nhà văn có biệt tài trong việc sử dụng các kết thúc bất ngờ kiểu này. Ở truyện Mất cái vícủa Nguyễn Công Hoan, tình huống kịch tính của truyện cũng được đặt ở cuối tác phẩm: ông Tham vừa “đuổi khéo” được ông cậu hay lên chơi sinh ra tốn kém phí tổn mà lại không bị mang tiếng hắt hủi người thân vì cái ví đựng bốn mươi đồng ông cho là bị mất cắp vẫn nằm trong túi quần mình. Đây có thể nói là kết thúc điển hình trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.

Ở một phương diện khác, qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy Trần Quang Nghiệp còn chịu ảnh hưởng của một số nhà văn Pháp như: Chateaubriand, Maupassant, Michel Zévaco(10). Đọc truyện Ông tơ cắt cớ(ĐPTB) của Trần Quang Nghiệp có cùng motif “trốn đời” với tiểu thuyết Renécủa Chateaubriand. Trong René, nhân vật chính René vì bất mãn với xã hội tư sản và do tình yêu với người chị không thành nên đã rời bỏ nước Pháp văn minh tìm đường về sống với những người thổ dân da đỏ châu Mĩ. Truyện Ông tơ cắt cớ kể về một người Annam vì buồn chán cuộc sống gia đình không êm ấm ở dưới xuôi vô tình lạc lên chốn rừng sâu nước độc Kon Tum. Vì cảm mến tấm chân tình của người con gái mọi (người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên) mà anh đã kết hôn với cô rồi ở trên ấy luôn không về xuôi nữa. Có lẽ Trần Quang Nghiệp đã gặp gỡ Chateaubriand ở cách thức giải quyết mâu thuẫn là “lẩn trốn xã hội” nhưng hướng đi có phần tích cực hơn vì sau 14 năm sống với người mọi, nhân vật chính của Trần Quang Nghiệp trông khỏe mạnh và yêu đời hơn lúc mới đến, còn nhân vật René của nhà văn Pháp lại tiêu cực hơn. Nhân vật René rời bỏ nước Pháp chỉ vì đây không còn là Tổ quốc của những người thanh niên quý tộc như anh nữa. Cả hai truyện đều đặt ra vấn đề phê phán xã hội, sự bất mãn của con người đối với cuộc sống bị kìm hãm, ngột ngạt. Câu kết của nhân vật trong truyện Ông tơ cắt cớ đầy tính luận đề mở ra nhiều chiều suy nghĩ ở người đọc: “Thôi thôi, mấy năm nay tôi hết muốn rồi, tôi thong thả đã quen, há bây giờ lại trở lại cúi đầu lòn cúi sao?”. Phải chăng nơi “rừng sâu nước độc kia” sẽ là địa điểm lí tưởng để trốn tránh của những kẻ “chán ngán sự đời” (!?).

Về ngôn ngữ: Điểm nổi bật nhất trong truyện ngắn Trần Quang Nghiệp là phương diện ngôn ngữ. Trong các truyện ngắn của mình, Trần Quang Nghiệp thường sử dụng ngôn ngữ nôm na, mộc mạc phù hợp với cách nói của người dân Nam Bộ. Ông sử dụng nhiều từ địa phương giản dị, bình dân, dễ hiểu như: nằng nằng, đặng, tiện tặn, nủng nưởng, quạu quọ, ngập ngưỡng, rỉ rả, thủng thẳng, dòm, ngó, tuông lụy, sanh rầy, hân hủi, cãi lẽ, hốp tốp… Có lẽ do ảnh hưởng từ thời niên thiếu sống nhiều ở vùng sông nước miền Tây nên ngôn ngữ bình dân mộc mạc đã ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ truyện ngắn Trần Quang Nghiệp.

Mặt khác, trong nhiều truyện, Trần Quang Nghiệp sử dụng từ và cấu trúc câu văn “rặt” chất Nam Bộ mà phải đặt trong văn cảnh thì mới hiểu được ý nghĩa biểu đạt của chúng như: chị vẫn ngó mông, chị vẫn đứng sựng; lóng này nó trộng cải, liếng láo lắm; lúa thóc có đâu, bỏ câu tới đó; trời tối đem ngửa bàn tay không thấy; thầy năm Nghệ có tánh rắng mắt hay khuấy chơi; dưới chơn đã sẵng hai giây tơ hồng... Việc sử dụng cách diễn đạt này mang lại hiệu quả nhất định, nó thể hiện sinh động cá tính, tâm lí con người Nam Bộ. Bởi thế có nhà nghiên cứu đã nhận định: “Câu văn xuôi tiếng Việt đã được tác giả (tức Trần Quang Nghiệp - TVT) sử dụng một cách có nghệ thuật. Vì thế, có những truyện của ông cốt truyện không có gì là mới mẻ (…) nhưng độc giả vẫn bị thu hút bởi giọng văn linh hoạt, sống động”(11) và đậm chất Nam Bộ. Chẳng hạn để lí giải nguyên nhân đàn ông ngoại tình, Trần Quang Nghiệp viết: “Thuở nào ôm đào ấp nguyệt cợt phấn cười son, bây giờ cá đã no rồi mồi ngon khó nhử”, hay “bãi cát đương khô nóng đổ nước vào thì nó hút ngay, bao giờ nó ướt đều, thì không hút nữa chớ gì” (Tủi phận thuyền quyên), đôi khi thì ông sử dụng linh hoạt nhiều thành ngữ, tục ngữ Nam Bộ để diễn tả nỗi lòng của người mẹ lo cho hai con gái trong Chọn đá thử vàng (ĐPTB): “Bà phủ lo nhiều lắm; cô Vân cô Kiều sắc đẹp đã đành không chỗ nào chê được, có nhiều thầy thấy đẹp muốn cưới song hỏi thăm lại nghe nói mồ côi cha, mẹ tuy có chức bà Phủ song chẳng có quyền, có tiếng mà không có miếng, ruộng không có đất cũng không, cho nên mấy thầy thụt lại mà qua ngã khác kiếm ngã nào có ruộng có đất có vườn mà tới. Lúa thóc có đâu, bỏ câu tới đó”. Đây là lối diễn đạt mà chắc chỉ người vùng sông nước Cửu Long mới thường dùng và nó đi vào truyện của Trần Quang Nghiệp cũng thật tự nhiên.

Hơn nữa, điểm làm cho truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp gần hơn với hiện đại là lối diễn đạt trong sáng không trúc trắc: “Đêm nay ngọn gió thổi nã, mây bay vần vũ, trăng đương tỏ bỗng lu phút chốc trời tối đen ngửa bàn tay không thấy, gió bay qua, mưa tuông xuống, mưa càng to gió càng lớn, giữa tiếng ào ào cảnh trời đen mịt, lâu lâu nghe một tiếng sấm vang, một lằng điện chớp” (Trời Phật công bình - TC), báo hiệu một bi kịch dữ dội sắp diễn ra. Khi muốn làm nổi bật lên “nhan sắc” của các nhân vật, ông dùng nhiều cặp tính từ đối lập so sánh rất có duyên: “Cái sắc đẹp của hai cô cái nào cũng đẹp, cô hai Kiều gương mặt tròn cái miệng có duyên song ít hay nói; cô ba Vân cặp mắt hữu tình, hàm răng nhỏ rít, sống mũi cao, phần đẹp, lấn hơn chị, song hơi ốm một chút” (Chọn đá thử vàng - ĐPTB); đôi lúc, ông dùng nhiều từ láy làm nổi bật hơn tâm trạng của nhân vật trong truyện: “Trời còn mưa rỉ rả, trong nhà đèn tắc tối thui, đêm khuya không nghe tiếng gì khác hơn là tiếng mưa rơi lộp độp trên mái nhà, tiếng người trăn trở và tiếng thở ra” (Xâu chìa khóa - ĐPTB); và ngôn ngữ luận đàm của ông cũng rất sắc sảo: “Thầy Mười Trương còn trai trẻ, cặp con mắt của thầy thần tình lợi hại làm thế nào không rõ mà một chút màu gì xanh xanh hay đỏ đỏ là không qua được. Cặp con mắt của thầy ngó ngay vào cặp con mắt nào khác thì cặp con mắt ấy phải xụ mí xuống tức thời” (Gặp người gái đẹp)…

Về nhan đề của truyện, một điều dễ nhận ra là đa phần đã thuần Việt (Nông nỗi vì đâu, Tấm hình của ai? Lòng người khó viết, Gặp người bạn cũ…), không còn cấu trúc Hán Việt, có ít từ Hán Việt trong nhan đề: Qua 33 tên truyện chỉ có 4 truyện sử dụng, chiếm 1,2% nhưng đều là những từ tương đối thuần Việt: phụ nghĩa, thuyền quyên, công bình, can đảm. Đây là một điểm khác nữa so với các cây bút trước đó như Biến Ngũ Nhy, Lê Mai, Nguyễn Bá Học… cùng thời như Nguyễn Chánh Sắt, Dương Minh Đạt, Tân Dân Tử… Tuy trong truyện của Trần Quang Nghiệp cũng vẫn xuất hiện những câu văn biền ngẫu. Chẳng hạn như: “Bóng quang âm thấm thoát lật đật đã hai năm, trong hai năm đó biết bao lăm người muốn gieo đào tha lý kết nghĩa tóc tơ song chị với người đã nguyền kết giải đồng tâm, ba năm cũng đợi mấy năm cũng chờ” hay “Chị lén gởi cho người một phong thơ song tin đi thời có tin về vẫn không” trong truyện Ai đành phụ nghĩa; “Bóng hồng khuất mặt, khách nhàn du tha thướt trở hài” trong Tủi phận thuyền quyên… nhưng càng về sau, lối diễn đạt này gần như không còn thấy xuất hiện nữa nhường chỗ cho lối viết “trơn nuột”.

***

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp nói riêng và của các nhà văn Nam Bộ nói chung ở giai đoạn này có nhiều lỗi chính tả, văn phong “cẩu thả”. Về điểm này, chúng tôi không tán thành. Thứ nhất, bản thân hai văn bản của cùng một tác phẩm của Trần Quang Nghiệp khi đăng báo và khi tập hợp in thành sách đã minh chứng cho ý kiến của chúng tôi(12). Thứ hai, có thể lấy lời biện bạch của nhà văn Phú Đức khi nói về tác phẩm Hiệp phố châu hườn để minh xác lại cho không chỉ Trần Quang Nghiệp mà còn cho rất nhiều nhà văn đương thời: “Tiểu thuyết viết từ đoạn đăng từ ngày lên tờ báo thì sao cũng không tuyệt tác được, vì nhiều đoạn ấn công sắp lộn, lắm câu ấn công lại bỏ sót; ký giả thổn thức trong lòng, nhưng biết đặng lòng quý vị không nệ chấp nên bạo gan đặt tiếp bầy chầy”(13). Hơn nữa, các nhà văn Nam Bộ dù cho là sau này vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc chủ trương của Trương Vĩnh Ký là viết theo “cách nói tiếng Annam ròng; có nhiều tiếng, nhiều câu thường dùng”. Điều này có xuất phát điểm từ chủ trương của các nhà truyền đạo Công giáo từ trước đó khá lâu. Trong tác phẩm truyện ngắn đầu tiên Thầy Lazaro Phiền, Nguyễn Trọng Quản cũng đề cập đến trong lời “Tựa”: “Tôi có dụng ý lấy tiếng mọi người thường dùng hằng ngày mà làm ra một chuyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng ít ra rất nhiều truyện hay”(14). Đó là lối văn “nôm na” kiểu báo chí, mang trong mình cái thường ngày, cái bình dân và trở thành đặc điểm cũng như đối tượng khám phá của văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ thời kì này. Mặt khác, sở dĩ Trần Quang Nghiệp chưa chuyển hẳn sang hiện đại bởi cũng như Sơn Vương, ông sáng tác trong khoảng thời gian mà bước đi của nền văn xuôi quốc ngữ đã có phần đi chệch so với khởi nguồn. Cái mới của cá nhân Trần Quang Nghiệp và thế hệ của ông ở Nam Bộ chưa đủ nội lực cũng như tầm nhìn để đẩy tác giả và người đọc về phía hiện đại. Bản thân người đọc cũng không thoát ra khỏi những nền nếp tiếp nhận cũ. Cả hai yêu tố này khiến không chỉ cá nhân Trần Quang Nghiệp bước hẫng mà cả nền văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ bị chững lại nếu không nói là bị thụt lùi nhường vị trí cho văn học miền Bắc(15).

Cũng xin được nói thêm về sự ngừng bút của Trần Quang Nghiệp: ý kiến chung của các nhà nghiên cứu văn học quốc ngữ ở miền Nam đều khẳng định sang đến đầu những năm 30 thì rất nhiều nhà văn ngừng cầm bút và Trần Quang Nghiệp cũng là một trong số họ. Có thể nói ông ngừng viết là một điều đáng tiếc cho văn đàn bởi lúc đó ông mới 25 tuổi (1932), là tuổi sung sức nhất của các nhà văn đầu thế kỉ XX, ông chuyển sang một lĩnh vực khác (thể thao) và gần như không quay trở lại văn đàn. Giải thích về điều này, trong bài tham luận Hội thảo “Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX” với nhan đề Sơn Vương - Khảo luận tác phẩm, TS. Đào Ngọc Chương khi đề cập đến trường hợp Sơn Vương đã nhận định: “Những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này (tức hiện tượng chững lại của văn học quốc ngữ Nam Bộ - TVT) cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Về đại để, có hai ý kiến. Thứ nhất, do quy luật vận động nội tại của chu trình tiếp biến và sáng tạo. Thứ hai, do đặc điểm của đối tượng người đọc”(16). Hơn nữa, Trần Quang Nghiệp cũng như các nhà văn Nam Bộ sống văn chương nhiều hơn là làm văn học (tức xem văn chương là cái nghiệp của mình) nên một khi muốn là họ có thể ngừng cầm bút “ngay tắp lự”. Đó là tính cách đáng trân trọng nhưng cũng là một điều đáng tiếc đối với công chúng nói riêng và nền văn học quốc ngữ nói chung.

Như vậy, có thể khẳng định Trần Quang Nghiệp là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc ở Nam Bộ 30 năm đầu thế kỉ XX. Những cách tân, đổi mới trong hình thức kết cấu tác phẩm cũng như nghệ thuật kể chuyện đã chứng tỏ sự đóng góp của Trần Quang Nghiệp nói riêng và của các nhà văn quốc ngữ Nam Bộ nói chung vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Nhận diện lại truyện ngắn của Trần Quang Nghiệp cũng là bước khởi đầu chúng tôi góp phần “phục hưng” lại vị trí và vai trò xứng đáng của nền văn học quốc ngữ Nam Bộ.

Hà Nội, ngày 10-2-2012
 TRẦN VĂN TRỌNG

________________

([1][1]) Tác phẩm của Trần Quang Nghiệp gồm (Con số mà chúng tôi đưa ra ở trên có thể còn thay đổi):
- 03 tập truyện ngắn: Chuyến xe trưa (Nhà in Đức Lưu Phương, S.1931), Hai bó giấy (Nhà in Đức Lưu Phương, S.1931), Người thương của tôi (Nhà in Nguyễn Khắc, S.1932) và một số truyện ngắn đã đăng trên các báo chưa được tập hợp, tất cả khoảng hơn 40 truyện. Hiện chúng tôi có 31 truyện.

- 07 tiểu thuyết: Giọt lệ hồng nhan (Đông Pháp thời báo, S.1928), Giờ ly biệt(Báo Trung lập, S.1930), Lửa tình (Nhà in Đức Lưu Phương, S.1931), Giọt máu anh hùng (Báo Công luận, S.1931), Biển cả thuyền con (Nhà in Đức Lưu Phương, S.1931), Trên đường thiên lý (Nhà in Đức Lưu Phương, S.1931), Cù lao Thanh Thủy (Báo Công luận, S.1931-1932). Hiện chúng tôi có 3 tiểu thuyết: Giọt lệ hồng nhan, Lửa tình, Biển cả thuyền con.

- 01 truyện dịch: Người thương của tôi (trong tập Người thương của tôi, Sđd).

(2) Xem thêm Trần Thị Ngoạn, Hồi ức về cha tôi: Trần Quang Nghiệp trong Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX - 1945 (Tập tham luận Hội nghị khoa học), Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5-2006, tr.60-66.
(3) Nguyễn Thanh Hùng, Tri thức đọc hiểu truyện ngắn hiện đại In trong cuốn Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT - Những vấn đề cập nhật, Nxb. Đại học sư phạm, H.2007, tr.121-131.
(4) Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Sđd, tr.711.
(5) Đào Duy Hiệp, Cấu trúc cái kì ảo trong truyện ngắn Maupassant, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9-2006, tr.24-39.
(6) G.N. Pospelov, Dẫn luận nghiên cứu văn học (tập 1), Nxb. Giáo dục, H.1985, tr.66.
(7) Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX - 1945, Tlđd, tr.138.
(8) Cấu trúc cái kì ảo trong truyện ngắn Maupassant, Tlđd, tr.28-29.
(9) Căn cứ vào năm ra đời, chúng tôi nhận thấy truyện Lòng người khó biếtđăng báo Thần chung số 120 ra ngày 13-6-1929 còn truyện Oẳn tà rroằn có ghi ở cuối truyện là ngày 27-2-1930, tức là truyện của Trần Quang Nghiệp xuất hiện trước truyện của Nguyễn Công Hoan.
(10) Trần Quang Nghiệp đã phỏng dịch truyện ngắn La morte (Người đã khuất) của Maupassant thành Người thương của tôi. Ngoài ra, tiểu thuyết Lửa tình của Trần Quang Nghiệp được cho là phỏng tác từ tiểu thuyết Les Amants de Venise (Đôi tình nhân thành Venise) của Michel Zévaco.
([1][1]1) Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX - 1945, Tlđd, tr.139.
([1][1]2) Về nhận định trên, chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở một công trình khác.
([1][1]3) Phú Đức, Lời tác giả kết thúc tác phẩm “Hiệp phố châu hườn”, Báo Công luận, số 496 ra ngày 8-12-1926.
([1][1]4) P.J.B. Nguyễn Trọng Quản, Truyện Thầy Lazaro Phiền, Nhà in Rey et Curiot, S.1887, tr.4.
([1][1]5) Nguyễn Huệ Chi, Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu, Tạp chí Văn học, số 5-2002, tr.13-20.
([1][1]6) Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX - 1945, Tlđd, tr.91.

Nguồn: NVTPHCM


NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU