Thứ Năm, 25 tháng 4, 2019

VẤN ĐỀ SINH THÁI TRONG THƠ VIỆT

Nhờ có nhiều nét tiến bộ ưu trội, mang tính thời sự cao, lại phù hợp với nhiều nền văn hóa nên khuynh hướng phê bình sinh thái đang được hưởng ứng rộng rãi trên thế giới. Vì còn mới mẻ nên giới khoa học vẫn chưa thống nhất thuật ngữ, ở Anh hiện gọi là “nghiên cứu xanh” (Green study), ở Mỹ gọi là “phê bình sinh thái” (Ecocriticism), Úc gọi là “phê bình văn học môi trường” (Environmental literary criticism)…
Nhà phê bình Nguyễn Thanh Tú ở Trường Sa - Ảnh: PH

Tôn trọng Trái đất tức tôn trọng con người, phá hủy Trái đất tức phá hủy căn nhà con người sống, tàn phá môi trường tức làm thui chột tính người. Đó là tinh thần nhân văn đáng quý của hướng nghiên cứu này… Nó kêu gọi con người phải hòa hợp, giữ gìn, tôn trọng tự nhiên, sống chung với tự nhiên.

Một nội dung cơ bản của triết học văn hóa đương đại là đối thoại, mà căn cứ để đối thoại là hiểu biết (tự nhiên); bình đẳng (với tự nhiên); tôn trọng, và biết lắng nghe (tự nhiên). Ngay Thế vận hội mùa Hè Rio de Janeiro 2016 vừa diễn ra tại Brazil nổi tiếng môi trường xanh cũng kêu gọi toàn thế giới bảo vệ môi trường và bầu không khí.

Phê bình sinh thái, hiểu một cách giản dị là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường, đề xuất quan niệm lấy “trái đất làm trung tâm” nhằm gắn kết và gắn nối môi trường tự nhiên và văn hóa để kiến tạo văn bản văn hóa về môi trường.

Như một tất yếu, phê bình sinh thái đương đại kêu gọi quay trở về với giá trị văn hóa phương Đông, mà từ hàng ngàn năm nay với thuyết “thiên nhân hợp nhất” luôn quan niệm con người thống nhất, hài hòa với tự nhiên, là một phần của tự nhiên: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật” (Lão Tử).

Khổng Tử còn dạy học trò thuận theo tự nhiên thì phải tôn trọng nó, không được đốn cây lớn trong mùa xuân, không được bắt cá nhỏ. Trong truyền thống văn hóa Ấn Độ, trước khi làm nhiệm vụ trị vì quốc gia, các vị anh hùng đều phải có thời gian tu thân trên núi cao, trong rừng thẳm để hòa mình vào thiên nhiên, tu trí, tĩnh tâm.

Là một cộng đồng dân tộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm cây cối hoa lá quanh năm tươi tốt nên cảm quan của người Việt Nam là cảm quan của thiên nhiên cây cỏ. Từ hàng ngàn năm nay, người Việt chung sống hài hòa với thiên nhiên, thiên nhiên luôn là đối tượng thẩm mỹ để họ sáng tạo nghệ thuật, nhất là với thơ ca.

Hôm nay, soi lý thuyết phê bình sinh thái hiện đại vào thơ Nguyễn Trãi, thật ngạc nhiên và tự hào khi thấy trong thế giới thơ ông gần như là sự chứng minh cho các luận điểm cơ bản của lý thuyết này. Có thể khẳng định, vĩ nhân ấy là con người của nhân loại, mang tầm văn hóa nhân loại, đi trước thời đại hơn 600 năm.

Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Nguyễn Trãi, hầu như bài nào cũng có sự xuất hiện của thiên nhiên, nhất là cái đẹp nơi thiên nhiên luôn gần gũi gắn bó với con người. Vì tôn trọng cái đẹp, yêu cái đẹp mà đau xót, tiếc nuối cho cái đẹp không có người thưởng thức. Xuân đi, hè đến, cả chủ thể và nhân vật trữ tình (cô gái) trong bài thơ này đều tiếc xuân: “Vì ai cho cái đỗ quyên kêu/ Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu/ Lại có hòe hoa chen bóng lục/ Thức xuân một điểm não lòng nhau” (Cảnh hè, Thơ Nôm). Một tứ thơ hay, một sự tinh tế chỉ có được khi tác giả lắng nghe bước đi của tạo vật: mùa hè lại có hoa hòe đem đến vẻ xuân gợi ở người sự “não lòng” tiếc xuân.

Nhà thơ cảm nhận cái đẹp luôn trong trạng thái non tơ đang cựa quậy chứ không tròn trịa đã vào thời viên mãn, thậm chí ở thời điểm khởi đầu: “Xuân chầy liễu thấy chưa hay mặt/ Vườn kín hoa truyền mới lọt tin/ Cành có tinh thần ong chửa thấy/Tính quen khinh bạc bướm chăng gìn/ Lạc Dương khách ắt thăm thinh nhọc/ Sá mựa cho ai quẩy đến bên” (Đầu Xuân đắc ý, Thơ Nôm).

Vì xuân đến chậm nên liễu chưa thấy mặt. “Vườn kín hoa truyền mới lọt tin” tức hoa mới chớm nụ, hương hoa mới chớm bay ra khỏi vườn kín nên “ong chửa thấy” mà tìm đến nhưng bướm thì chẳng biết giữ gìn gì cứ vô tư đậu vào cành. Đúng là thế giới của cái đẹp “non tơ phong nhụy”, tất cả như đang phập phồng xuân khí.

Đất Lạc Dương là kinh đô Trung Quốc thời Ngũ đại vốn rất đẹp, từng là nơi tụ hội các thi nhân. Lạc Dương đẹp thế nhưng nơi này đẹp không kém nên ta chẳng cho (sá mựa) ai quẩy xuân này đến đó mà đem cái đẹp của ta đi. Cũng chỉ mạo muội “diễn nôm” câu thơ để thấy phần nào cái đẹp của ý thơ phải nói là tuyệt bút này. Nhưng có thể hiểu một triết lý của triết gia Nguyễn Trãi: Cái đẹp, đẹp nhất là ở buổi ban đầu… Đặc sắc hơn là nói bằng hình tượng thơ.

Thơ Ức Trai có lúc đậm chất huyền thoại để diễn tả cái đẹp hư ảo mong manh, cũng là để giãi bày tấc lòng say, tiếc, trân trọng cái đẹp: “Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt/ Khoan khoan những lệ thỏ tan vừng” (Thơ tiếc cảnh, Thơ Nôm). Hình tượng thơ kiến tạo trên nền thần thoại: trên mặt trăng có thỏ giã thuốc tiên. Nhưng tất cả là hư ảo nên không biết đó là tiếng chày con thỏ giã thuốc trên mặt trăng hay tiếng chày dưới trần thế, vì vậy mà thi nhân mới thốt lên “khoan khoan” kẻo tiếng chày làm vỡ mất vầng trăng. Đây không phải thơ của người mà là thơ của tiên. Phải là thi tiên mới có những câu như vậy!

Kế thừa quan niệm, thi pháp và thành tựu từ Nguyễn Trãi, thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rất nhiều hình ảnh thiên nhiên, nhiều nhất là hình ảnh mùa xuân. Chỉ tiếc ông làm thơ hầu hết bằng chữ Hán. Mùa xuân trong thơ Trình Quốc Công biểu trưng cho sự sống sinh sôi, nảy nở, ấm áp, tươi vui. Với nhà thơ chữ Xuân đồng nghĩa với chữ Hoà: “Mộ xuân tối ái nhất thiên hòa/ Cuối xuân thích nhất là khí trời luôn hòa dịu” (Mộ xuân); “Thiều quang thục úc kháp giai thần/ Ánh sáng xuân dịu, đúng là tiết tốt lành” (Tân niên hý tác).

Xuân cũng đồng nghĩa với cái đẹp: “Am quán trùng lai hựu nhất xuân/ Tứ thì giai cảnh tối nghi nhân - Lại mùa xuân nữa đến với quán am/ Phong cảnh bốn mùa rất đẹp, hợp với con người” (Hữu bộ hạ tân huyện). Thiên nhiên thiên về tĩnh với gam màu xanh trong: “Thanh phong minh nguyệt vi ngô hữu/ Bích thủy thanh sơn độc tự ngu - Gió mát trăng sáng là bạn của ta/ Nước biếc non xanh vui riêng mình” (Tân quán ngụ hứng 24).

Trước cửa cái lều của thi nhân có cành tre la đà nhìn ra vùng sông nước: “Ngô ái ngô lư thủy trúc thanh/ Ta thích lều ta có cảnh tre nước trong xanh”. Thiên nhiên vừa là bạn hữu vừa là đối tượng sáng tác, lại là nơi để sống thanh sạch nhất, theo đúng nghĩa của từ này: “Thi tá oanh hoa thiên thủ hữu/ Phong lâm kỉ án nhất trần vô - Thi tứ về hoa và chim, sẵn có nghìn bài/ Gió lọt vào án sách và ghế, không một hạt bụi” (Tân quán ngụ hứng).

Đến thời hiện đại, nhà thơ lớn Hồ Chí Minh rất ưa cuộc sống gần nơi thiên nhiên tự do, tĩnh tại, thanh sạch: “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu…”.

Khi phải gánh vác nhiệm vụ trọng đại lãnh đạo cuộc kháng chiến Bác Hồ vẫn cố dành thời gian hạnh phúc cùng thiên nhiên, làm thơ cùng “bạn” trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ”, dành thời gian hạnh phúc cùng con trẻ, cùng cỏ cây: “Việc quân, việc nước đã bàn/ Xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”… Bác Hồ đã học tập, tiếp thu, kế thừa, phát triển và nâng cao từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến…

Thơ Việt ở ngày hôm nay, nhất là thơ trẻ có một đặc điểm dễ nhận thấy là hay thiên về triết lý, trong khi đó, để có màu sắc trí tuệ không hẳn dễ vì đòi hỏi phải có vốn sống từng trải, vốn văn hóa sâu rộng. Tài năng như Chế Lan Viên cũng phải đợi khi đủ độ chín về hiểu biết và tuổi tác mới có những triết lý về thơ, về đời, về lẽ sống và cách sống. Thế nên, mặc dù có thể thực sự trí tuệ nhưng do còn thiếu sự va đập từng trải nên thơ trẻ triết lý chưa đủ sức thuyết phục bởi sự, khiên cưỡng của hình tượng.

Từ góc độ tiếp nhận cũng cho thấy khi xã hội ngày một văn minh, vật chất ngày thêm nhiều thì con người lại phải đối phó với bao nỗi bất an, là môi trường ô nhiễm, là tai nạn do thiên tai và do chính con người gây ra như giao thông, văn hóa xuống cấp, ô nhiễm không khí…

Do vậy, khao khát sâu thẳm của nhân loại là được sống cùng thế giới trong lành, yên tĩnh, bình an mà tươi tắn sống động. Thế giới ấy chỉ có thể có được ở nơi thiên nhiên chan hòa ánh sáng của mặt trời và ánh trăng, đầy gió và nắng, đầy cỏ và hoa cùng thế giới loài vật quen thuộc, là cánh chim, là tiếng gà gáy, là âm thanh mõ trâu… Thật tiếc, một thế giới trong trẻo, nguyên sơ, thanh khiết ấy lại thiếu vắng trong thơ trẻ hôm nay!

Khi trở về với thiên nhiên là ta có được một thế giới tính từ lấp lánh sắc màu đời sống, một phẩm chất quan trọng của thơ. Hãy minh họa điều này bằng tác phẩm của các nhà thơ đã được khẳng định, với Dương Kiều Minh sở hữu vốn tính từ đáng khâm phục: tim tím, ngai ngái, lấp lóa, âm âm, dìu dịu, thiêm thiếp, heo heo xanh, mênh mang ánh sáng… và hàng loạt hình ảnh làng quê sinh động mà lạ lẫm: con đường hoa vối, giọt sương, ngồng cải, cỏ may…

Với Ngân Hoa là mùi bùn ngai ngái, làn khói xanh âm ẩm dịu dàng, nhỏ nhoi, chập chững, đo đỏ, rôn rốt, chun chút… Với Bằng Vũ là trăng cào ổ lá, mùa núm áo đơm bông, con bướm vàng dạm ngõ, lá sen nghiêng như mặt người quay lại… Và nhiều nhà thơ khác tên tuổi họ gắn liền với các hình tượng thiên nhiên, đúng hơn thiên nhiên đã nâng tên tuổi họ trong thơ, là Hữu Thỉnh, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Ngô Văn Phú, Nguyễn Duy, Đỗ Trung Lai, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quyến…

Những câu thơ hay nhất của Nguyễn Quang Thiều được lấy cảm hứng từ thiên nhiên: “Những xôn xao lùa qua hơi ẩm/ Vọng về từ cánh đồng rộng lớn mù sương/ Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm/ Chất đầy hương cỏ tươi lăn về nơi hừng sáng… Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh, một trong những bài thơ hay nhất của ông, cũng về đề tài thiên nhiên…

Xã hội ngày một văn minh, khoa học kỹ thuật ngày một phát triển thì con người càng cần đến thơ, để cân bằng với cuộc sống hối hả, nhộn nhịp, để trở về với thế giới đồng thoại đậm màu cổ tích lung linh, lộng lẫy mà nguyên sơ. Vì thế thơ phải tươi mát hơn, hồn nhiên hơn, trong sáng, ấm áp hơn. Có một con đường ngắn nhất là trở về với thiên nhiên, nhất là với các nhà thơ trẻ!

NGUYỄN THANH TÚ
Nguồn: VNCA


BÙI GIÁNG - TRIẾT GIA VÀ THI SĨ

Trong “Bùi Giáng, sơ thảo tiểu truyện” (1), nhà phê bình văn học Đặng Tiến nhận định có tính tổng kết về văn nghiệp Bùi Giáng như sau: “Trên cơ bản, Bùi Giáng là nhà thơ”.
Nhà thơ Bùi Giáng - Ảnh: internet

Thế nào là “trên cơ bản”? Tôi không muốn hiểu câu nhận định trên đây theo nghĩa thông thường của sự phân loại, đánh giá về văn nghiệp của một tác giả: Bùi Giáng trước hết và trên hết, hay, tựu trung, là một nhà thơ, nói khác đi, phần có chân giá trị là sự nghiệp thi ca của ông, còn các phần còn lại là thứ yếu, không “cơ bản”. Thật ra, trong khối lượng đồ sộ và đa tạp của Bùi Giáng “văn xuôi”, dù khó tính đến mấy, ta vẫn có thể chắt lọc ra không ít những trang tuyệt bút từ các Giảng luận văn học (Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan đến Phan Văn Trị/Tôn Thọ Tường và Tản Đà), các tùy bút văn chương, các nghị luận triết học, đó là chưa kể một số bản dịch thành công khá đặc biệt. Trong chừng mực nào đó, chúng có giá trị tự tại, độc lập với việc có hoặc không có “Bùi Giáng nhà thơ”. Vì thế, tôi muốn thử hiểu nhận định trên đây theo một cách khác: dù là văn xuôi hay thơ, Bùi Giáng vẫn “trên cơ bản, là nhà thơ”, theo nghĩa: Bùi Giáng có ý thức sử dụng ngôn ngữ theo nghĩa rộng như là “ngôn ngữ thi ca”. Chính điều này tạo nên nét riêng biệt, độc sáng của thi văn Bùi Giáng, và đồng thời mời gọi ta hãy đến với Bùi Giáng theo cách hiểu ấy.

Như ai cũng dễ nhận ra, và như chính Bùi Giáng đã thừa nhận, bút pháp và thơ của Bùi Giáng thoạt đầu xuất phát từ cội nguồn Thơ Mới. Nhưng, do một sự tương ứng sâu thẳm nào đó và cũng là một cơ duyên, việc Bùi Giáng tiếp cận và tiếp thu tư tưởng, nhất là triết học về nghệ thuật, của Heidegger, theo chúng tôi, là một trường hợp khá hy hữu: nó thanh tân, trọn vẹn và chung thủy đến lạ thường. Sự gặp gỡ này còn có sự hiện diện của một nhân vật thứ ba có ý nghĩa quyết định: thi sĩ Đức Friedrich Hölderlin. Heidegger là triết gia, Hölderlin là thi sĩ, sống cách nhau ngót hơn một thế kỷ, nhưng thật lạ lùng khi Heidegger từng nhiều lần nhấn mạnh rằng ông không còn có thể phân biệt mình với Hölderlin được nữa(2)! Tự nhận mình đồng nhất với một người khác, nhưng không ai nghĩ rằng Heidegger tự “đánh mất mình” trong mối quan hệ lạ thường ấy. Ta cũng có thể nói hệt như thế về mối quan hệ tay ba: Heidegger - Hölderlin - Bùi Giáng! Trong bài tham luận ngắn này, chúng tôi muốn lưu ý đến mối quan hệ lạ thường này như một nỗ lực góp phần soi sáng quan niệm sống, sáng tác và suy tưởng của Bùi Giáng.

1. Triết gia - thi sĩ 

Quyển Giảng giải về Thơ Hölderlin của Heidegger(3) (tập 4 trong Toàn tập) chỉ ngót 200 trang, nhưng đã được Bùi Giáng dịch và diễn giải hơn 1000 trang, chia làm hai tập: Lời Cố quận và Lễ Hội Tháng Ba. Có thể nói đây là công trình văn xuôi quan trọng nhất và cũng phức tạp, sâu sắc nhất của Bùi Giáng. Theo một cách nói quen thuộc, chính ở đây, Bùi Giáng đã đi từ “tự phát” đến “tự giác” trong quan niệm sống và sáng tác văn chương.

Hölderlin (1770 - 1843) là một trong những thi sĩ nổi tiếng nhất của nước Đức, bạn đồng học và có ảnh hưởng sâu đậm đến hai khuôn mặt lớn của triết học Đức: Schelling và Hegel. Đáng chú ý: Hölderlin cũng có định mệnh tương tự Bùi Giáng: hơn 30 năm cuối đời sống trong trạng thái “điên tam đảo tứ”! Ta biết rằng Heidegger có những bài giảng đầu tiên về Hölderlin vào những năm 1934 - 35 (ngay trước khi soạn luận văn nổi tiếng: Nguồn gốc của tác phẩm nghệ thuật (4)). Ông tiếp tục bàn về Hölderlin cho tới 1946, được tập hợp lại thành sáu luận văn trong tác phẩm vừa kể. Bùi Giáng nhận định: “Mười năm sau Sein und Zeit [Tồn tại và Thời gian, 1927, tác phẩm chính của Heidegger], Hölderlin xuất hiện trên hầu hết những cuốn sách của Heidegger mỗi phen tư tưởng của Heidegger bước tới điểm quyết định”. “Riêng cuốn sách Giảng giải về thơ Hölderlin này mang một ý nghĩa trầm trọng và sâu xa như thế nào trên con đường tư tưởng của Heidegger, thành tựu một cái gì cho Tư tưởng Tây phương, chuẩn bị cho một cuộc hội thoại lặng lẽ mênh mông nào khác, những người theo dõi Heidegger ắt đã từng nhận thấy”. “Người nào đã đọc kỹ từ lâu cuốn sách dị thường ấy của ông Heidegger, ắt đã rõ nguyên do lối sắp đặt thứ tự các bài giảng… Và cũng không ngạc nhiên gì nhiều trước lối dịch và giảng dường như kỳ dị của dịch giả”. Bùi Giáng viết tiếp: “Nhan đề ấy nói gì? Có thể hiểu cưỡng bức theo hai cách:

1. Cuộc tiếp cận (của chúng ta với) Hölderlin.

2. Cuộc tiếp cận của Hölderlin.

Theo nghĩa thứ hai là thế nào? Hölderlin tiếp cận cái gì? Ấy là: tiếp cận Uyên Nguyên, đi về cận lập với Uyên Nguyên. Sao gọi là Uyên Nguyên? Theo nghĩa thứ nhất: chúng ta tiếp cận? Đi về tiếp cận? Nhưng Hölderlin không phải là một cá nhân. Nguồn thơ thi dựng của ông là một nguồn Thi nhiên hi hữu. Hölderlin là Nguồn Thơ ấy. Vậy thì tiếp cận Hölderlin là tiếp cận nguồn thơ ấy. Nhưng tại sao tiếp cận mà không tắm mình vào? Vì đó là Uyên Nguyên và trong khi chúng ta dò dẫm trên bước tiến lại gần, thì Uyên Nguyên cũng đi về với chúng ta trong thể lệ riêng biệt: gần gũi mà xa xôi”(5)…

Đàng sau cách diễn đạt bay bổng nhưng khá tối tăm ấy là diễn trình tư tưởng của Heidegger được Bùi Giáng theo dõi sát sao và thể nhập trọn vẹn. Có thể chia sự “tiếp cận” của Heidegger với thơ Hölderlin làm hai thời kỳ: thời kỳ sớm từ 1934 đến 1939 và thời kỳ muộn là 1939 - 1946, với sự khác biệt quan trọng.

Thời kỳ sớm nổi bật với hai luận văn: Hölderlin và bản chất của thi ca (Bùi Giáng dịch và giảng trong Lời Cố quận, An Tiêm, 1972, tr. 146-242) và Siêu hình học nhập môn (được Bùi Giáng dịch và giảng một phần trong Trăng Châu Thổ (Quế Sơn, Võ Tánh, 1969, tr. 207-308).

Ở thời kỳ này, Heidegger xem Hölderlin là một thi sĩ quan trọng, nhưng không quan trọng với tư cách thi sĩ, mà như là triết gia-thi sĩ, nói khác đi, tuy Hölderlin làm thơ, nhưng nội dung của nó không phân biệt với triết gia. Thật ra, những đại thi hào Tây phương như Homer, Sophockles, Virgil, Dante, Shakespeare và Goethe thực hiện bản chất của thi ca còn phong phú hơn cả Hölderlin, nhưng tại sao Heidegger lại tập trung vào Hölderlin? Lý do là vì, theo ông, Hölderlin là nhà thơ làm thơ về thi ca. Ông gọi Hölderlin là “thi sĩ của những thi sĩ”(6) không theo nghĩa tôn vinh về đẳng cấp mà chỉ vì Hölderlin là nhà thơ của bản thân thi ca. Hölderlin đã viết những câu thơ về bản thân thi ca như thế nào, trong chừng mực là một thứ “siêu-thi ca” mang đầy đủ tư cách của một nhà tư tưởng? Xin điểm lại ngắn gọn năm điểm:

- Hai điểm đầu tiên có vẻ mâu thuẫn với nhau. Hölderlin gọi thi ca là công việc “hồn nhiên thơ dại nhất”(7), nhưng đồng thời cũng là công việc “nguy hiểm nhất”(8). Vì lẽ thi ca nảy sinh trong ngôn ngữ, nên câu hỏi có thể đặt lại là: ai làm chủ ngôn ngữ và ngôn ngữ hiểm nguy theo nghĩa nào? Theo Heidegger, ngôn ngữ là cái gì quá “thân thiết” với con người, nó có thể “thôi miên” ta ở vẻ ngoài khiến ta dễ bỏ qua căn cơ, nền tảng. Sự hàm hồ của ngôn ngữ làm cho cái không bản chất trở thành bản chất, đồng thời biến bản chất thành cái gì nông nổi, bì phu. Đối diện với hiểm nguy ấy, Hölderlin đã trả giá bằng sự điên loạn của mình, một sự cố không thể điều trị hay cứu chữa bằng y học. “Điên loạn là số phận của Hölderlin, vì “những hoa trái đầu mùa bao giờ cũng thuộc về phần của thần linh” và Hölderlin là “hoa trái bi kịch nhất trong lịch sử nước Đức”. Phải chăng ta cũng có thể nói như thế về Bùi Giáng?

- Điểm thứ ba: con người chỉ hiện hữu trong ngôn ngữ, và ngôn ngữ bao giờ cũng hiện hữu trong đối thoại, trong “nói” và “nghe”. Đó là đặc trưng của con người, bởi chỉ con người mới mang thời tính, tức tìm thấy chính mình ngay trong lòng sự vật khi chúng được từng bước khai mở bằng một cách nào đó. Ngôn ngữ là nơi ta thể nghiệm: hoặc có thể đi sâu vào được vùng ẩn mật, khép kín của thực tại khôn dò, hoặc chỉ phải dừng lại ở bề mặt của sự hiện diện thô sơ.

- Điểm thứ tư là từ chính lời thơ của Hölderlin: “Những gì bền vững là do thi sĩ thiết lập nên”(9). Những gì tưởng như vững bền, thường trụ trong thế gian đều cần được “thiết lập nên, nếu không, chúng sẽ bị chìm lấp, lẫn lộn trong mớ hổn mang”. Để sự vật hiển hiện ra cho ta, ta phải đứng vào vùng ánh sáng thích hợp. Như thế, con người không chỉ thụ động ngồi nhìn sự vật chung quanh, rồi gọi tên chúng. Ngược lại, chính thi sĩ đặt tên cho chúng, và chỉ có việc đặt tên này mới thiết lập nên sự vật. Sự vật và bản thân Tồn tại không bao giờ phơi bày mà phải được sáng tạo và thiết lập. Thi sĩ có vai trò trung tâm trong sự hiện hữu của con người(10).

- Và sau cùng, điểm thứ 5, lại từ một câu thơ khác của Hölderlin: “Con người sống trên đời như một thi sĩ”(11). Sống như một thi sĩ là sống giữa lòng những gì thiêng liêng, vừa ẩn giấu, vừa vẫy gọi, mang tađến gần bản chất của sự vật. Sự hiện hữu được thi sĩ tạo dựng và thiết lập là một quà tặng được ban cho ta, bên ngoài quyền năng của cá nhân mỗi người. Cũng thế, thi ca không chỉ là một trò chơi với những từ ngữ và ngữ pháp đã có sẵn, trái lại, cấu tạo nên bản chất của ngôn ngữ, qua đó, cấu tạo nên cả mối quan hệ của một dân tộc với vận mệnh lịch sử của mình. Thi sĩ không tái tạo cái khả kiến, trái lại, làm cho nó trở nên khả kiến. Đó cũng là ý của Hölderlin khi nói về Oedipus, nhân vật thần thoại đã tự móc mắt mình: “Có lẽ đức vua Oedipus có thừa một con mắt!”. Như Heidegger nhận xét: có lẽ Hölderlin cũng có thừa một con mắt! Hölderlin là thi sĩ của thời đại khốn khó, khi thế giới cũ không còn mà thế giới mới chưa đến. Sự điên loạn của nhà thơ là kết quả của sự canh giữ cô đơn, của việc sáng tạo nên những sự thật mới mẻ, dù không mấy ai hay biết. Như thế, trong thời kỳ này, Heidegger đánh giá cao chất lượng tư tưởng trong thơ Hölderlin: thi sĩ thiết lập nên những nhu cầu thiết yếu và nghiêm trọng, với “sứ mệnh” khôi phục lại những gì đã suy tàn, gãy đổ của một thời vàng son quá khứ (như nền “nghệ thuật lớn” của “hệ hình Hy Lạp”)(12).

Heidegger viết những lời mạnh mẽ: “Công việc của chúng ta là mang lại quyền lực cho Hölderlin”. Nói cách khác, ở đây, thi sĩ và triết gia không còn phân biệt về sứ mệnh; họ chỉ khác nhau ở tính cách và phương tiện: một bên dùng lối ẩn dụ, ít nhiều tối tăm, một bên sử dụng khái niệm minh nhiên, sáng sủa. Hölderlin là quan trọng, nhưng chưa phải với tư cách là nghệ sĩ mà như là triết gia: “đứng trên đỉnh núi cao của thời đại, thấu hiểu quá khứ và dự phóng tương lai”. Ta dễ dàng liên tưởng đến thời kỳ đầu của Bùi Giáng Mưa Nguồn, của Bùi Giáng, Heidegger và tư tưởng hiện đại

Đời xiêu đổ nguồn xưa anh trở lại
Giữa hư vô em giữ nhé ngần này…


Sau một Nietzsche bơ vơ, “mất quê hương”, Heidegger muốn nhìn thấy nơi Hölderlin hình ảnh và lời kêu gọi của kẻ “quy hồi cố quận”, tìm lại được quê hương đã mất.

2. Thi sĩ - triết gia 

Vào thời kỳ muộn, qua việc giảng giải các tụng ca Như trong ngày Lễ hội  Hồi tưởng (Bùi Giáng: Lễ Hội Tháng Ba, Nxb. Văn hóa Sài Gòn 2008), Heidegger cho thấy một bước nhận thức sâu hơn về Hölderlin chung quanh bản chất và trách vụ của thi ca. Lần đầu tiên, Hölderlin đích thực xuất hiện “trên cơ bản là nhà thơ (wesentlich als ein Dichter/essentially as a poet) vì Heidegger thừa nhận rằng ông đã được Hölderlin “dạy dỗ” về bản chất của thi ca theo ngôn ngữ của cái BỐN (Trời, Đất, Con người và Thần linh).

- Tụng ca Như trong ngày Lễ hội (1800)(13) là mới mẻ, phong phú khi mô tả sự nghèo nàn tinh thần của thời đại mà Hölderlin gọi là sự thiếu vắng lễ hội. Trong Hồi tưởng(14), ta lắng nghe những nhớ tưởng của thi sĩ về “những giấc mộng vàng” (Bùi Giáng: “Giấc vàng long lanh”) trong những “lễ hội” đã qua. Lễ hội là gì? Là ra khỏi nhịp điệu nhàm chán thường ngày. Là ra khỏi vòng kìm tỏa của sự “hữu ích”, “hữu dụng” để sống đích thực là chính mình. Trong thời đại của khoa học - kỹ thuật - công nghệ, con người bị “đóng khung” (Gestell), khiến cho sự “ưu tư” (Sorge/Care) khó trở thành sự ưu tư đích thực. Thời hiện đại không thể có “lễ hội”, vì ta không còn từ ngữ, không còn ngôn ngữ để làm việc ấy nữa (Bùi Giáng: “Tôi bước qua từ ngữ rụng hai lần”). Đó là cảm thức sâu sắc rằng bản chất cao nhất của thi ca, của người “thi sĩ tương lai” như nói trước đây không thể đạt tới được nữa:

Đạp thanh hội cũ hào hoa
Giấc vàng buổi Tảo Mộ đà cáo chung

                                    (Bùi Giáng)

- Vậy phải làm gì khi “hệ hình Hy Lạp” của nền “nghệ thuật lớn” cổ đại là bất khả phục hồi, một đi không trở lại? Trong Xây Ở Suy Tư (1951), Heidegger cho rằng: ta không thể làm cho thần linh quay trở lại, mà chỉ còn có thể “chăm lo” (schonen) và “chờ đợi” sự lai đáo ấy. Trong Thi sĩ là gì trong thời khốn khó?, khi bình giảng về tụng ca Bánh và Rượu của Hölderlin, Heidegger thấy cần thiết phải tạo nên một “bầu khí” (Ether) thích hợp để đón đợi và làm chỗ cư lưu cho “thần linh”, bởi “chỉ còn có thần linh mới có thể cứu vớt chúng ta”. “Thần linh” ở đây không được hiểu như là sức mạnh siêu nhiên mà như là những kích thước mới cần được khám phá cho sự hiện hữu của con người. Sự đón đợi ấy là sự chuẩn bị ở trong tư thế lẫn sự chuyển hóa ở trong tâm thức. Heidegger viết: “Là thi sĩ trong thời đại khốn khó có nghĩa là: đón đợi, hát ca, dõi theo sự vẫy gọi của thần linh. Đó là lý do tại sao người thi sĩ trong đêm trường tối tăm của thế giới [Bùi Giáng: “thế dạ”] lại tỏ bày sự linh thánh. Đó là lý do tại sao, trong ngôn ngữ của Hölderlin, đêm trường của thế giới lại là đêm thánh thiêng”(15). Ta biết rằng, thời hiện đại được gọi là “đêm tối”. Ở thời kỳ đầu, Heidegger đọc Hölderlin qua hình ảnh một đêm trường đầy tối tăm, bế tắc (Siêu hình học nhập môn, tr. 46). Bây giờ, đi sâu hơn, hình ảnh mới lại là hình ảnh của “Tửu thần Dionysos ngao du ca hát trong đêm thánh”. Trên con đường Quy hồi cố quận, bây giờ Hölderlin lại trải nghiệm đêm tối như cái gì “thanh sạch”, “hân hoan”, hay, nói như ngôn ngữ Bùi Giáng, trong “hồn ca vũ địa”.

Tóm lại, khi thử đặt Bùi Giáng vào trong mối quan hệ mật thiết với Heidegger và Hölderlin, qua đó soi sáng phần nào hành trạng, suy tư và sáng tác của ông, ta thấy Bùi Giáng là một trường hợp khá đặc biệt, hiếm có: không chỉ tiếp thu nguồn thi ca, tư tưởng vốn xa lạ theo nghĩa thâm cảm, tri kỷ mà còn tự dấn mình thực hiện trọn vẹn như một biểu trưng: “Trút linh hồn dường như thể như thân”. “Biết ít, vui nhiều, ấy là tặng vật, cho người phù du”(16). Bùi Giáng không muốn ai bắt chước mình. Nhưng có lẽ ông muốn mình được đọc, được hiểu như một dấu hiệu của sự TỰ DO trong “thời khốn khó”. Quả thật, Bùi Giáng, “trên cơ bản, là một nhà thơ”.

BÙI VĂN NAM SƠN
 Nguồn: SH301/03-14

_________________

(1) http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=337&rb=0102.

(2) Martin Heidegger: Erlauterungen zu Hölderlins Dichtung / Elucidations of Hölderlin’s Poetry/Minh giải Thi ca Hölderlin, bản tiếng Anh của Keith Hoeller, New York, 2000, tr. 13 và trong The Heidegger Controversy: A Critical Reader, ed. R. Wolin, Cambridge, Mass, 1993: “Tư tưởng của tôi ở trong mối quan hệ quyết định với thi ca của Hölderlin” (tr. 112).

(3) Martin Heidegger: Erlauterungen zu Hölderlins Dichtung, Gesamtausgabe, Band 4, Vittorio Klostermann, Frankfurt am Main, 1981.

(4) Martin Heidegger: Der Ursprung des Kunstwerkes, Reclam 1960, 2008 (BVNS dịch và chú giải, sắp xuất bản).

(5) Bùi Giáng: Lễ Hội Tháng Ba, Nxb. Văn hóa Sài Gòn, tái bản 2008, tr. 7 và tiếp.

(6) Martin Heidegger: Hölderlin und das Wesen der Dichtung / Hölderlin và bản chất của thi ca, Toàn tập, Tập 4, tr. 47.

(7) F. Hölderlin: “Dichten: diss unschuldigste aller Geschaffte” (III, 77), Sđd. Tr. 31.

(8) “Darum ist der Guter Gefahrlichsten, die Sprache dem Menschen gegeben… damit er zeuge, was er sei…” (IV, 246), Sđd. Tr. 31.

(9) F. Hölderlin: “Was bleibt aber, stiften die Dichter” (IV, 63), Sđd. tr. 31.

(10) Chuồn chuồn, Châu chấu, Rừng Marylin, Biển Bardot, Ngành Novak, Đóa John Keats, Miền Hà Thanh, Ngành Mật niệm, Đóa U linh, Hồng lĩnh Hạc lâm, Quỳnh Lai Thị Xứ, Nghìn thu Cổ lục, Ngày Hy Nga, Đêm Bé Chị, Hoa trên Ngàn, Sóng Hồng Hoang, Thềm dục vọng… (xem thêm: Mai Thảo, Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng, trong nhiều tuyển tập).

(11) “Voll Verdienst, doch dichterisch wohnet Der Mensch auf dieser Erde” (VI, 25) Sđd. tr. 31.

(12) Bùi Giáng: Hư vô và Vĩnh viễn (Mưa Nguồn): “Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa”.

(13) F. Hölderlin: “Wie wenn am Feiertage…”, trong M. Heidegger: Erlauterungen zu Hölderlins Dichtung/ Giảng giải Thơ Hölderlin, Toàn tập, Tập 4, tr. 49 và tiếp.

(14) F. Hölderlin: “Andenken”, nt, tr. 79 và tiếp.

(15) Thi sĩ để làm gì?/Wozu Dichter?/What are poets for? Bản tiếng Anh trong Poetry, Language, Thought, London 1975, tr. 94.

(16) F. Hölderlin: “Zu wissen wenig, aber der Freude viel, Ist Sterblichen gegeben…” (IV, 240)/To know little, but of joy much Is given to mortals. Heidegger dùng làm đề từ cho phần bình giảng về Tụng ca “Quy Hồi Cố quận/Gửi người thân thuộc” (Heimkunft/An die Verwandten) của Hölderlin. Sđd. tr. 13, Bùi Giáng: Lời Cố Quận, An Tiêm 1971, tr. 30. 




Thứ Tư, 24 tháng 4, 2019

NHÀ THƠ PHAN HOÀNG ĐƯỢC VINH DANH VỚI BƯỚC GIÓ TRUYỀN KỲ

Tập trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng vừa được UBND TPHCM trao Giải thưởng VHNT TP.HCM 5 năm lần thứ II.

Nếu như lần thứ I giải thưởng này chỉ trao cho văn xuôi thì lần thứ II có 3 tập thơ được vinh danh, trong đó trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng nhận giải 3 còn 2 tập thơ của hai nhà thơ Phạm Sỹ Sáu và Trần Hữu Dũng nhận giải khuyến khích.
Nhà thơ Phan Hoàng 

Điều này cũng có nghĩa Phan Hoàng là tác giả thơ đầu tiên nhận giải cao nhất của giải thưởng danh giá thành phố lớn nhất phương Nam, do một Phó Chủ tịch UBND TPHCM làm Chủ tịch Hội đồng Chung khảo với sự tham gia thẩm định của các chuyên gia VHNT đầu ngành. Kể từ khi trường ca Bước gió truyền kỳ được xuất bản đầu năm 2016 đến nay đã có mấy mươi bài viết nghiên cứu về nó. Sau đây chúng tôi ghi lại một số nhận định đáng chú ý.

Nhận định về trường ca Bước gió truyền kỳ, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn VN có sự đồng cảm: “Khi nào những ngọn gió còn thổi trên đất đai này thì những bài ca bi tráng về lịch sử của dân tộc còn vang mãi trong tâm hồn chúng ta. Và Bước gió truyền kỳ của thi sĩ Phan Hoàng đã dẫn tôi đi theo một con đường riêng của nó”.

Đạo diễn, nhà thơ Văn Lê trong lời mở đầu trường ca này của nhà thơ Phan Hoàng thì phát hiện rằng: “Khi dùng hình tượng ngọn gió làm trung tâm, xuyên suốt tập trường ca là anh có dụng ý nói về cái đã qua, đã muộn, đã trở thành quá khứ, thành lịch sử.

Anh đã khéo léo kéo xa về gần, đưa cội nguồn về với hiện tại. Cả tập trường ca là một câu chuyện truyền kỳ về công cuộc mở cõi và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta. Những vấn đề mà anh đặt ra trong thơ luôn làm cho người đọc phải thảng thốt, giật mình”.

Nhà thơ, nhà phê bình Hoàng Thuỵ Anh từ Quảng Bình đã viết: “Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng (NXB Hội Nhà văn 2016) là trường ca trữ tình hiện đại, đậm chất suy tưởng. Ngoài phần mở đầu và phần vĩ thanh, tập thơ có 3 phần với sự kết hợp ngẫu hứng, trùng điệp, đan xen những câu thơ ngắn dài.

Trong đó, gió là hình tượng xuyên suốt, làm nền/điểm tựa cho cảm xúc thơ. Hình tượng gió vừa cụ thể vừa khái quát, đi về giữa quá khứ và hiện tại, thực và mộng, hôn phối với cảm hứng, niềm tự hào, tôn vinh lịch sử hào hùng của dòng giống Lạc Hồng từ những ngày đầu dựng nước, giữ nước, biến chuyển qua mấy ngàn năm cho đến hôm nay. Theo đường gió dẫn dụ, không gian thơ, hình tượng thơ, cảm xúc thơ được nới rộng đến vô cùng”.

Ở góc độ nhà nghiên cứu chuyên sâu, PGS.TS Cao Hồng ở Đại học Thái Nguyên chia sẻ: “Trong tập trường ca của Phan Hoàng, gió là một sinh thể tự nhiên, hiện diện trong không gian rộng lớn, từ thuở hồng hoang, sơ khai của lịch sử đến thời kỳ giữ nước dựng nước.

Nhưng gió ở đây không đơn thuần là một tín hiệu tự nhiên mà đã trở thành một tín hiệu nghệ thuật, thẩm mỹ. Gió là hiện thân tiếng nói của nhà văn, cất giữ những vẻ đẹp nguồn cội, những thăng trầm của đất nước”.

Còn nhà văn Trần Nhã Thụy ở TPHCM lại khẳng định: “Một nhà thơ mà không có giọng riêng, e rằng đã thất bại ngay từ khi "thử giọng".

Với Phan Hoàng, tôi thấy anh có một giọng thơ hào sảng rất riêng, nó như được nuôi dưỡng hun đúc từ nắng gió sông Ba - Phú Yên quê anh; từ những trang sử Việt mà Phan Hoàng nhuần nhuyễn từ thời tuổi trẻ. Gió muôn đời là gió nhưng đã là gió thì phải mới; "bước gió" của Phan Hoàng rất mới. Xin chúc mừng thành công mới của con đường sáng tạo Phan Hoàng".
Nhà thơ Phan Hoàng (giữa) nhận Giải thưởng VHNT TPHCM 5 năm lần II

Từ phố biển Đà Nẵng, Tiến sĩ Hoàng Hường của Đại học Duy Tân cảm nhận: “Từ nghìn năm trước và mãi đến tận bây giờ vẫn vậy, truyền thống hào hùng của một cộng đồng trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước đã đi vào Bước gió truyền kỳ như một câu chuyện mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Ngọn gió vô danh được tạo thành từ sinh khí đất trời, từ hào khí dân tộc, từ cội nguồn lịch sử, từ bước chuyển lưu dân, từ nỗi niềm trăn trở của tâm hồn mỗi người hòa cùng hơi thở thời đại. Có dân tộc nào tồn tại, phát triển mà không chất chứa trong nó những nhọc nhằn, thăng trầm cay đắng - dân tộc Việt, con người Việt cũng vậy.

Song Phan Hoàng đã đưa người đọc đồng hành, hóa thân vào bước gió, “lang thang khắp mọi ngả đường Tổ quốc/ uống dòng hào khí bi hùng ngàn năm/ dòng hào khí đánh đổi tinh hoa lớp lớp người người” để rồi hun đúc trong họ tình yêu quê hương ngày càng nồng cháy, thắm thiết và khát vọng vào một nước Việt sẽ mãi “vượt thoát sinh tồn vĩ đại dòng giống rồng tiên”.

Nhà thơ Đặng Huy Giang nổi tiếng giỏi thẩm định thơ của Hà Nội thì viết: “Xét về mặt nội dung, trường ca “Bước gió truyền kỳ” thực chất là một tráng ca. Còn xét về mặt hình thức, trường ca “Bước gió truyền kỳ” rất mở.

Mỗi khúc, mỗi đoạn của nó có thể đứng độc lập, những một khi được kết nối, nó tạo ra sự gắn kết, sự tiếp nối. Theo tôi, đây chính là đóng góp của Phan Hoàng về mặt thi pháp cho thơ nói chung và thể loại trường ca nói riêng trong thi ca Việt Nam hiện đại”.

Tiến sĩ Mai Thị Liên Giang của Đại học Quảng Bình đã đi xa hơn: “Điểm bắt đầu của thơ anh là thơ mới, thơ tân hình thức, thơ hậu hiện đại và điểm dừng chân hiện tại là trường ca. Biết đâu từ trường ca, nhà thơ trong hành trình ngược lối lại về với lục bát, tứ tuyệt… mà vẫn không hề xưa cũ. Lối đi ngược của anh không giống ai nhưng đã giúp anh có con đường đi riêng vào lâu đài văn học.

Con đường ấy vẫn còn nhiều ngã rẽ. Và mỗi lần dẫn dụ người đọc rẽ lối là mỗi lẫn nhà thơ vẫy gọi người đọc chú ý hơn trong lộ trình đi tìm bí mật ẩn giấu trong tác phẩm của anh. Đây là điều cần thiết đối với nhà thơ ở Việt Nam hiện nay một khi không muốn mình thành người nhả chữ quen thuộc, sáo mòn.
Ngược lối như chính tác giả đã viết: Đôi lúc ta gặp trên đường những chàng trai phi ngựa như bay, đôi khi ta gặp những cô gái rực rỡ yếm đào chít khăn mỏ quạ, họ ngược thời gian đi về phía giấc mơ cháy bỏng xuân thì.”
Trường ca Bước gió truyền kỳ của nhà thơ Phan Hoàng

Nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan liên tưởng: “Trường ca Bước gió truyền kỳ của Phan Hoàng gợi lên dáng vóc một vở kịch-múa hiện đại về hình thức biểu hiện. Toàn bộ dựa trên tính tượng trưng cao, cho dù, tất nhiên, bút pháp mô phỏng anh hùng ca cổ điển ở đây không hề là một bút pháp tượng trưng.
Tính tượng trưng bao trùm đó là bởi ý niệm khởi hứng của tác phẩm này: ý niệm về “gió” như là một trung giới cho linh hồn và cũng là một “trường” mang chứa những linh hồn.

Nhà phê bình, Tiến sĩ Phạm Ngọc Hiền nhìn nhận: “Bước gió truyền kỳ cũng kết hợp nhiều thể loại: thơ và văn; có thơ tự do và thơ lục bát; xen kẽ đoạn dài, đoạn ngắn… Bên cạnh những từ ngữ cổ kính, tác giả cũng sáng tạo nhiều cách diễn đạt mới mẻ để “hội nhập” với thời công nghệ:

một chuyến tàu lênh đênh
vượt thoát những cơn đại hồng thủy lập trình
nhiều đêm trầm tư uống ánh sao khuya
nối mạng
hóa ngọn gió phần mềm...

Sự kết hợp nhiều loại giọng điệu, thể văn, từ ngữ có tác dụng làm cho bản trường ca tránh được sự đơn điệu. Nhờ vậy, bạn đọc vẫn không bị nhàm chán khi dõi theo hành trình của ngọn gió lang thang suốt 90 trang sách, từ cổ đến kim, từ Bắc vào Nam…

Trải qua bao thử thách của thời gian, không gian và thăng trầm lịch sử, “Bước gió truyền kỳ” vẫn khỏe khoắn, mặc sức tự do “lang thang cùng chim muôn bình đẳng diễn ngôn đại ngàn”…”

Nhà báo Phan Thuỷ của Đà Nẵng cũng đã viết: “Phan Hoàng từng tâm sự, lớn lên trong ngọn gió Tuy Hòa, gió luôn ám ảnh trong anh. Với thi nhân “gió biểu tượng cho sức mạnh, sự kiên trì, tình yêu mạnh mẽ”.

Đọc Bước gió truyền kỳ, độc giả như cuốn theo đường đi biến hóa vi diệu của ngọn gió, lúc trầm hùng sử thi, lúc trầm lắng suy tư đến xót xa, lúc ào ào như thác đổ, lúc réo rắc như cung đàn…

Cũng nói về nỗi đau, sự biệt ly do chiến tranh gây nên, nhưng nỗi đau trong Bước gió truyền kỳ không mang dáng vẻ bi lụy, uất hận mà giàu đức hy sinh, sự nhẫn nại, kiên trì. Nỗi đau ấy mang tính nhân văn, lòng bao dung, vị tha của một dân tộc vì chịu quá nhiều đau thương do chiến tranh gây ra nên rất hiểu cái giá của sự hòa bình, luôn mong mỏi được sống trong hòa bình, bình yên”.

Nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Vũ Tiềm cũng khái quát: “Lại nhớ tập thơ của Phan Hoàng xuất bản 4 năm trước có tên Chất vấn thói quen (được Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM), càng thấy rõ sự nhất quán trong quan điểm nghệ thuật của anh: dứt bỏ thói quen cũ, đổi mới thi pháp thơ.

Là trường ca ôm trùm vấn đề rộng lớn nhưng anh không sa đà vào kể và tả mà coi trọng nghĩ và cảm; mỗi phần hay toàn cục, anh không kết thúc đóng mà kết thúc mở. Đó là những yếu tố chủ yếu của thi pháp mới. Phan Hoàng bắt nhịp với sự chuyển đổi ấy một cách thanh thoát và hiệu quả.

Trường ca thường có nhân vật, nhưng Bước gió truyền kỳ, Phan Hoàng không mượn một, hai nhân vật lịch sử cụ thể nào mà anh lấy sinh thể gió, vừa hiện hữu vừa mơ hồ; vừa hiu hiu vừa bão táp; vừa quá khứ vừa hiện tại làm “nhân vật” chính là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ”.

Nhà thơ Trần Hoàng Vy của Tây Ninh cảm thức rằng: “Lịch sử ẩn mình vào thơ mà tâm sự, dòng cảm xúc cứ bật ra, để những đồng cảm lan tỏa vào những con tim cùng nhịp đập quê nhà... Bước gió chính là bước chuyển mình của lịch sử, không vần vè hóa mà là thi ca hóa những hình tượng lịch sử, là thông điệp nhắc nhở mọi người về bản chất con người yêu nước, ngoái nhìn cội nguồn để trân trọng:

“Thức dậy trong ta bước chân huyền thoại/ thức dậy trong ta ngọn gió trăng rằm/ thức dậy trong ta nỗi buồn cổ tích/ thức dậy ước mơ khí phách cha ông/ Ước mơ bao dung tình sông/ ước mơ hiên ngang dáng núi/ ước mơ ủ mầm khí thiêng/ bật từ đất đai ngàn xưa trấn biên/ âm vang bước gió truyền kỳ”.

CHÂU THANH
Nguồn: Đất Việt


Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG RẤT CHỊU LÀM VÀ RẤT ĐỖI CHỊU CHƠI

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Trong mắt anh em đồng nghiệp, nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một người rất chịu làm và cũng rất đỗi chịu chơi. Kỷ niệm của tôi với ông có rất nhiều, nhưng sâu sắc nhất là vào thời trước đổi mới.

Vào năm 1981, lúc chuẩn bị thành lập Hội Nhà văn TP.HCM, tôi nhớ có một cuộc sinh hoạt của các nhà văn chủ chốt, do Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt chỉ đạo. Cuộc sinh hoạt với nội dung kiểm điểm các nhà văn về tư tưởng, những đóng góp cho thành phố, sinh hoạt nghề nghiệp và cá nhân... Trong cuộc sinh hoạt này có người tố cáo Nguyễn Quang Sáng về một nội dung thuộc đời tư cá nhân. Sau chuyện này, ông có bảo tôi: “Tôi không sợ ông đại tướng, vì một ông đại tướng không bao giờ đem quân đánh tôi, nhưng tôi rất sợ ông hàng xóm của tôi, vì ông ấy có thể đánh tôi bất kỳ lúc nào”. Nhưng mà sau buổi kiểm điểm ấy, ông Võ Văn Kiệt có đem một chai rượu đến uống với anh em văn nghệ. Tôi nhân dịp này đọc hai bài thơ: Bán vàng và Ông già sông Hậu. Đến hôm sau, ông Võ Văn Kiệt cho thư ký đến gặp tôi xin bản chép hai bài thơ đó, bảo là để làm kỷ niệm.

Mùa thu năm 1982, ông Võ Văn Kiệt thôi làm Bí thư Thành ủy để ra trung ương làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch nhà nước. Tôi với ông Nguyễn Quang Sáng bàn nhau làm một bữa tiệc do chính tôi đứng bếp, Nguyễn Quang Sáng phụ bếp, gọi điện mời ông Võ Văn Kiệt đến nhậu. Bữa ấy còn có Trịnh Công Sơn thủ vai tiếp khách, Nguyễn Bá và Trần Long Ẩn nữa. Trong bữa rượu này, tôi đọc bài thơ Đánh thức tiềm lực, gọi là “tiễn anh Sáu Dân đi làm kinh tế”. Đây cũng là lần đầu tiên công bố bài thơ này, lúc ấy mà công bố một bài thơ có nội dung thẳng thắn như vậy phải nói là tôi cũng ngại. Ông Võ Văn Kiệt nghe xong bảo: Nặng lắm, nhưng chịu được. Còn Nguyễn Quang Sáng thì ông ấy bảo: rồi sẽ đến lúc có người nghe bài thơ này và in bài thơ này. Từ đó, tự nhiên hình thành một mối quan hệ thân thiết giữa tôi, Nguyễn Quang Sáng, Trịnh Công Sơn và ông Võ Văn Kiệt. Vào ngày tết nhóm chúng tôi thường ghé chúc tết anh Sáu Dân.

Trong giai đoạn này, văn tài của Nguyễn Quang Sáng phải nói là phát triển rực rỡ. Ông làm hàng loạt kịch bản phim, thậm chí lúc khó khăn ông còn viết cả kịch bản cải lương. Tôi có câu thơ “Ca sĩ vã mồ hôi như võ sĩ... Có nhà văn ư ử ca cải lương” là chỉ Nguyễn Quang Sáng vào lúc ấy. Cũng giai đoạn này ông viết các truyện ngắn mà tôi rất thích vì sự thâm thúy của nó: Con chim quên tiếng hót, Đạo Tưởng, Tôi thích làm vua... Đấy là những truyện xuất sắc mà về sau khó làm nổi nữa. Ông Nguyễn Quang Sáng có cách bình luận về văn nghệ và thời cuộc rất hình tượng, độc đáo và rất Nam bộ.

Từ năm 1981 đến 1995 ông Nguyễn Quang Sáng làm Tổng thư ký Hội Nhà văn TP.HCM hai nhiệm kỳ, cả hai nhiệm kỳ này tôi cũng tham gia ban thư ký hội, và phải nói là ông có tinh thần cấp tiến, đấu tranh để bảo vệ những nhà văn có tiếng nói thẳng thắn, gai góc.

Kỷ niệm với ông thì nhiều lắm, ông nằm xuống rồi, anh em đồng nghiệp sẽ còn nhớ mãi phong thái thoải mái phóng khoáng và năng lực làm việc cực kỳ nghiêm túc, mãi đến cuối đời ông vẫn giữ “kỷ luật” cho mình mỗi ngày viết ít nhất một trang.

NGUYỄN DUY
L.ĐIỀN/TUỔI TRẺ ghi

NGUYÊN SA

Nhà thơ Nguyên Sa không chỉ đem đến cho thơ ca miền Nam và thi ca tiếng Việt nói chung của nửa sau thế kỷ XX một giọng trữ tình mới mẻ, nồng hậu, thừa thãi xúc cảm và rúng động, không hề chủ trương chừng mực, mà còn là người sớm cách tân thơ từ tâm thức hiện sinh nóng bỏng nỗi lo âu của đời sống đương thời.
Nhà thơ Nguyên Sa

Rất ít tiếp nhận những ảnh hưởng thi ca tượng trưng hay siêu thực của thế giới kể từ cuối thế kỷ XIX tới nửa đầu thế kỷ XX, thơ Nguyên Sa là dòng chảy tự nhiên hướng tới sự nhuần nhị, từ một vài lối thi tứ Đông phương kết hợp với lối tạo hình ảnh trực quan, “vật thể hoá”, ý tưởng hoá, tiến xa khỏi ngôn ngữ ước lệ cổ thi hay cảm quan hiện đại khởi đầu của các nhà thơ tiền chiến, như một cách thức tự nhiên bộc lộ tâm thế trong trẻo hồn hậu và những tổn thương chưa từng có của con người Việt Nam trong thời cuộc mới.

Nguyên Sa chủ trương sáng tạo thi ca thoát khỏi đơn vị “âm vận” để đạt tới lối thơ tự do, bao hàm nhạc điệu nội tại tuôn chảy nhờ vào ám ảnh và những vận động riêng của tâm thức nhà thơ. Cũng trong quá trình này, sự đổi mới về mặt hình ảnh cũng như ý tưởng đồng thời xảy đến, phần nào ngoài tầm ý thức của nhà thơ, như một bước chuyển hoá tất yếu của thế giới thơ.

* * *

Bài thơ đầu tiên được công bố rộng rãi của Nguyên Sa, “Tiễn biệt”, viết năm 1953. “Paris” và “Paris có gì lạ không em” viết năm 1954, 1955. “Nga”, “Nga đầy ắp Paris là bài thơ tình đầu tiên” năm 1955. Nhưng có thể xem sự nghiệp thơ Nguyên Sa chính thức được khởi đi từ năm 1956, khi ông từ Paris trở về miền Nam Việt Nam. “Thơ tình của những ngày tháng hôn nhân đến trước thơ tình tuổi học trò”. “Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba, Tháng Sáu trời mưa, trình làng ở Sáng Tạo những năm 56- 57” (Theo Hồi ký Nguyên Sa). Viết lại những bài thơ tình, kể từ thơ tình học trò hay những hồi ức ở thời điểm quan trọng khác, ít phụ thuộc vào thực trạng và tuổi tác người viết hiện tại, với một bút pháp nhuần nhị, tương đối ổn định, là biểu hiện sự trưởng thành về mặt ý thức nhà thơ.[1]

Nguyên Sa là một trong những giọng thơ đầu tiên, sớm nhất khơi nguồn dòng chảy thơ miền Nam (thơ miền Nam như một cách định danh mang tính chất văn học sử chứ không thể hiện tính khu biệt về địa lý). Vừa tiếp nối những giá trị của thơ tiền chiến: giải phóng khỏi lối cảm xúc ước lệ, mô tả thế giới trong hiện thực trực quan, bước đầu khám phá thế giới của tiềm thức và giấc mơ, nhưng đồng thời cũng tạo ra khoảng cách đối với dòng thơ tiền chiến bằng những giá trị riêng biệt, ngay khi các vị chủ suý của dòng thơ ấy vẫn còn tiếp tục đồng hành trên thi đàn, như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng...

Thoát khỏi một kiểu chủ thể phiếm định nhân danh các giá trị tinh thần của đời sống Trung đại (nho phong, lãng tử, nhân nghĩa, chí khí, mệnh bạc, chinh an, viễn xứ...) các nhà thơ tiền chiến mặc lòng khơi ngỏ thế giới đầy hương sắc thi vị của xúc cảm và rúng động, nhất là trong luyến ái hay những lãnh địa phiêu bồng của giác quan: say, điên, mơ... Nhưng ngay cả khi để lại dấu tích cá nhân hay cố gắng cá nhân hoá con người trong thi ca, nhà thơ tiền chiến vẫn chưa dời xa khỏi việc bộc lộ con người thi ca căn bản bằng những biểu hiện ước lệ.[2]

Con người thi ca được cá nhân hoá tối đa,[3] gắn liền với thể trạng, tâm tính, biến cố, tri thức, vận mệnh của người làm thơ trong những mối liên hệ với thời đại, sớm xuất hiện trong thơ miền Nam từ những năm cuối thập kỷ 1950.

“Con người ấy” đem cả những hoang mang thời cuộc, dưới góc độ cá nhân, hay những sự kiện riêng tư vào thơ.

Vì thế, nói đời thơ Nguyên Sa trực tiếp gắn liền với thời kỳ ông sống và viết ở miền Nam, và từ sau 1975 trở đi, ở hải ngoại, là nói tới một tâm thức sáng tạo nảy nở từ chính miếng ăn, hơi thở, từ tồn tại bao gồm cả con người sinh vật, con người thời cuộc và con người tinh tuý... để làm thành thi ca.

Con người trong thơ miền Nam không chỉ có luyến ái và những rúng động tinh khiết hay đau thương cao quý như thời kỳ thơ tiền chiến, mà còn là con người yếu lòng, thất bại, bi thảm hay hàm chứa bản năng sinh vật. Nghĩa là con người với “tính người” rộng lớn hơn.

Ngay từ những bài thơ tình của thời kỳ đầu thơ Nguyên Sa, như “Áo lụa Hà Đông” ra đời vào tháng 5- 1957, “Mưa tháng Sáu”..., nhà thơ đã bộc lộ con người cá nhân yêu đương và chứng nghiệm một cách dốc lòng, cuồng phóng, không hề ý thức về bất cứ một giới định nào, đan xen không phân biệt với con người luôn thảng thốt, hồ nghi, tự vấn về tồn tại. Đó là hai mặt của cùng một bản thể đã bị tước mất nơi trú ẩn về tâm tưởng, tước mất cảm giác hài hoà yên ổn của lòng tin vào cái bền vững, có thực, bản thể chênh vênh, vô hướng, bị đe doạ và dồn đuổi đến những giới hạn.

Khởi đầu là không gian tâm tưởng thuần khiết mang những dấu ấn thực tại:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng...

Thoạt tiên câu thơ tưởng như chỉ là lời xưng tụng thi vị hoá.

Nhưng chưa ai thực hiện cú ẩn dụ lạ lùng bằng địa danh như Nguyên Sa. Không phải địa danh phiếm chỉ, nhằm nói sự chia cách trong luyến ái (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào - Nguyễn Bính), ý nghĩa địa - văn hoá có thực của “Sài Gòn” hay “Hà Đông” khiến cho câu thơ không còn là những liên tưởng đơn thuần, hay sự tương đồng về cảm giác. Nó đặt người đọc trước một hiện tại rõ ràng chứ không nệ vào khả năng làm đầy những gì thiếu hụt, xoá nhoà ranh giới địa vật lý vốn dồi dào của tâm tưởng để tuỳ thích tạo ra mộng ảo.

Hình bóng người tình trong thơ Nguyên Sa hết sức lạ thường:

Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn / Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh ...

Mượn lối hình ảnh đăng đối trong thơ cổ, Nguyên Sa tạo nên một thực tại khác lạ, không còn ranh giới giữa hiện hữu với ý niệm trừu tượng. Cái mơ hồ của ý niệm được thay thế bằng cảm giác vật chất có thực để trở nên gần gũi, mang đậm những dấu ấn giác quan.

Em không nói đã nghe lừng giai điệu / Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh

Một lối liên tưởng quen thuộc, nhưng vẫn đậm vẻ cực đoan, không tưởng, tạo ra thực tại khả thể của tâm trí.[4]

Sau này, ý tưởng ít nhiều hiện sinh đó tương đồng và trở lại trong cảm quan siêu hình Đông phương nhuần nhị với ca từ Trịnh Công Sơn những năm 1960:

... Dù em khẽ bước không thành tiếng / cõi đời bao la vẫn ngân dài

                                            (“Vẫn có em bên đời”)

... Người đi vẫn đi / chiều qua vẫn qua

                            (“Hành hương trên đồi cao”)

Con người trong thơ Nguyên Sa vừa bị đẩy vào tình thế phải hồ nghi tồn tại và nhận biết của bản thân, vừa chủ động tạo ra những tồn tại mới:

Người về đêm nay hay đêm mai / Người sắp đi chưa hay đi rồi... Sao người đi sâu vào không gian trong / Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông / Và sao lòng tôi không là vô tận / Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song... Người về, lòng tôi buồn , hay lòng tôi vui / Áo không có màu nên áo cũng chưa phai / Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ / Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

Không còn cảm giác chắc chắn về tồn tại, Nguyên Sa biến cái mênh mông vô định mà ông khát khao chứng nghiệm, cầm nắm, thành những sự vật vừa cụ thể vừa mơ hồ, đứng ngoài luật định của cả hiện hữu lẫn vô hình: bức tường dày mênh mông, áo không có màu...

Ông tạo ra cho con người những khả thể tồn tại để tương xứng với cái mênh mông của cõi đời:

... Và hãy nói năng những lời vô nghĩa / Hãy cười bằng mắt ngủ bằng vai / Hãy để môi rót rượu vào môi / Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn ... Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt / Đêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan / Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn / Nếu em sợ thời gian dài vô tận ...

... Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng / Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân ...

Nỗi “bấn loạn” của kẻ đang yêu tới mức không còn tự chủ, hoặc là trước hạnh phúc ngoài sức tưởng tượng, hoặc trước một nguy cơ chưa biết, bộc lộ chính trạng thái bản năng, bị dồn đuổi bởi những khao khát và bất ổn của tồn tại. Sự hoán đổi trạng thái và các giác quan đem lại một thực tại rạn vỡ khỏi nhận biết thông thường, một thế giới phải chấp nhận xáo trộn và bất ổn, đến từ xáo trộn của tâm can.

Dừng ở ngưỡng cửa cảm xúc nhục thể mà không bận tâm hơn đến những biểu hiện của nó, nhà thơ muốn khắc hoạ tình yêu và con người ở trạng thái ham muốn, khao khát chứ không phải đã chứng nghiệm hay được thoả mãn.[5] Tình yêu ở dạng “ẩn ức” mới là khoảnh khắc hiệu nghiệm để con người giác ngộ cùng lúc ý nghĩa tuyệt vọng, không bao giờ có thể viên mãn của tồn tại, ý nghĩa chớp thoáng của hiện hữu trong vô cùng không gian và lớp lớp thời gian.

Tuy nhiên, khoảnh khắc khám phá bùng nổ về cảm giác hiện sinh có sức mạnh đẩy lùi xoá nhoà những ám ảnh trừu tượng, vô biên như “cuộc đời”, “thời gian dài vô tận”, “ánh sáng”, “mùa xuân”...

Con người trong thơ Nguyên Sa coi những hệ luỵ, phiền não, thậm chí cả đoạ đày về tinh thần lẫn thể xác là điều bình thường của tình yêu cũng như cõi sống, chứ không hi vọng một cõi của lạc thú hay thống khổ đều thanh cao như quan niệm trước đây:

... Em đã khóc, anh đã khóc và chúng mình đã khóc / Bước chân lê trên những hè phố không quen / Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim / Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới lễ xin ...

                                                                                              (“Nga”)

Để cuộc nghênh đón ta được thêm phần trọng thể: những người con gái ngây thơ hãy trở về nhà đi ngủ sau khi đánh răng rửa mặt chải đầu và đọc kinh cầu nguyện ban đêm / Những nhà phê bình văn nghệ rẻ tiền , những thầy giáo chạy điểm trong kỳ thi trốn ngay vào bóng tối...

                                                                                                 (“Hịch”)

Đam mê luyến ái là nguồn động lực, xung năng sống quan trọng. Trong thơ Nguyên Sa, nó trở thành biểu hiện huy hoàng nhất mà cũng bao hàm khía cạnh thống khổ, sầu luỵ, với những đen tối chưa lường trước của tồn tại, bởi nó là thứ tình yêu được báo động bằng kết cuộc bi thảm tất yếu.

Con người luyến ái và con người bàng hoàng, âu lo về tồn tại trong thơ Nguyên Sa không phân biệt, bởi cùng xuất phát từ một bản thể với hai mặt, một mặt là khao khát sống trong lành, tráng kiện, mặt kia là cảm thức về nguy cơ, cái chết, sự đày ải điếm nhục.

* * *

Thơ Nguyên Sa tràn đầy những sự kiện cá nhân.

Mùa xuân buồn lắm em ơi / Anh vẫn đạp xe từ Sài Gòn lên trường đua Phú Thọ / Đạp xe qua nhà em / Nhìn vào ngưỡng cửa / Nhà số 20 / Anh nhớ má em hồng...

... Bởi vì từ Sài Gòn lên tận trường đua Phú Thọ / Hết cả tiền uống một ly nước mía / Mà cũng không gặp em / Nên khát đắng linh hồn...

                                                                              (“Mùa xuân buồn lắm em ơi”)

... Tôi mời em vứt bỏ lại đằng sau những kinh thành buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối: muốn làm người yêu thì phải đỗ Tú tài ...

... Em có thể đến đây với đôi giày cao gót để tưởng mình em vóc hạc / Nhưng nếu em vội vã thì em cứ đi chân không? Tôi sẽ bọc mười đầu ngón chân với tất cả linh hồn say đắm yêu em...

                                                                                          (“Mời”)

Tôi đợi em ở một góc công trường .... Tôi đợi em từ 8 giờ, bây giờ đã 9 / Có lẽ đã 9 giờ 5 phút ...

                                                                                      (“Đêm mưa”)

Không bị ràng buộc phải tạo ra văn cảnh ít nhiều “giống cái thực có” như văn xuôi, ngôn ngữ thơ trước đó mượn lối nói ước lệ, hình ảnh, để truyền đạt nhanh và hiệu quả nhất tới người đọc tâm hồn, trạng thái “nội tại” của nhà thơ. “Sự kiện hoá” đồng nghĩa với việc gia tăng tính tự sự (khác với kể chuyện bằng thơ) nhằm từng bước thoát khỏi hệ thống ngôn ngữ thơ ước lệ, hướng tới những cách thức mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân.

Những sự kiện - riêng tư công nhiên đẩy lùi nội dung, thẩm mỹ ước lệ, trả lại cho thơ ý nghĩa chân xác từ những thông tin gắn liền với cá nhân người viết. Nó xác định tâm hồn một nhà thơ bằng hiện hữu riêng tư, duy nhất của chính nhà thơ đó, chứ không phải những giá trị chung chung mà nhà thơ tự nguyện hoá thân, đại diện.

Trường hợp “sự kiện cá nhân” vẫn là tưởng tượng hư cấu cũng có thể xảy ra, thậm chí phổ biến; tương tự như trường hợp sự kiện “có thực”, quan trọng, nó được xem như một nỗ lực của tâm trí người viết thoát khỏi phạm vi những hình dung có sẵn, hướng tới những bản chất khác của đối tượng mô tả.

Sự xuất hiện sự kiện cá nhân đồng thời bộc lộ lòng tự tin của con người vào bản chất duy nhất, riêng lẻ, nhỏ bé của mình trước thế giới vốn được xem là cao siêu trừu tượng bao quát của thơ ca.

Khi tham dự phần riêng mình vào thơ như một cá thể, rất tự nhiên con người khó lòng gạt bỏ phần vận mệnh trong vận mệnh thời cuộc, dân tộc, quê hương. Vận mệnh trong thời cuộc, của dân tộc, là phần không thể xoá trắng, là tấm hộ chiếu không thể tẩy rửa của người viết, ngay cả với những nhà văn lưu vong, để bước ra với khái niệm chung nhân loại. Không có một khái niệm “loài người” chung chung nào nhất thiết loại trừ một hay một số bản sắc riêng lẻ.

Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn thái độ “làm người” trong sáng tạo của nhà văn với việc cố ý sử dụng văn học như một phương tiện cho những mục tiêu chính trị xã hội ngoài văn chương.

Thơ ca trung đại cũng đã có truyền thống bộc lộ con người thời cuộc, con người công dân của người viết, thông qua những “chí làm trai”, “tấc lòng ưu ái”, “tấc son”, hay phê phán “thói đời” đen bạc xảo trá, sự xói mòn đạo đức... tuy nhiên vẫn dừng ở nhân danh những giá trị tinh thần của cộng đồng. Văn xuôi tiền chiến đã xuất hiện cái nhìn phê phán mạnh mẽ với cái ác và bất công xã hội, xuất phát từ giá trị nhân đạo và bênh vực quyền sống, (cũng có cái nhìn “phê phán” xuất phát từ sự bảo thủ)... thể hiện ý thức xã hội rõ rệt của người viết. Nhưng với thơ ca hiện thời, khi sự thể hiện con người cá nhân riêng tư được xem như phẩm chất trước tiên, thì con người thời cuộc trong sự thể hiện riêng tư này là điều tinh tế và đặc biệt.

Con người cá nhân trong thời cuộc của Nguyên Sa là con người phê phán một cách sòng phẳng, nghĩa khí:

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta... Sợi vu oan dưới gáy / Sợi bè phái đâm ngang / Sợi ghen tuông đứng dọc / Sợi xích chiến xa, sợi dây thòng lọng / Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt / Sợi nấp trong hầm / Sợi ngồi trong hố / Sợi đau xót như dây dù chẳng mở / Sợi treo cổ tình yêu , sợi trói tay hy vọng / Cắt cho ta... / Cắt cho ta, hãy cắt cho ta / Sợi Hà Nội khóc trong mưa / Sợi Sài Gòn buồn trong nắng / Sợi dậy học chán phè / Sợi làm thơ thiểu não / Sợi đặc như dùi cui / Sợi rỗng như khẩu hiệu ... Sợi cắt đứt tim chồng / Sợi chặt đôi ruột vợ / Sợi nhố nhăng như cuộc đời / Sợi ngu si như lịch sử / Sợi đợi những ngón tay đi qua / Sợi đợi những ngón tay chẳng đến... Hãy cắt... Cho cả những thằng sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền / Cho cả những thằng xẻo thịt non sông / Cho cả những thằng băm vằm tổ quốc / ... Cho chính bản thân ta bơi trong tội lỗi... Hãy cắt tóc và nhìn / Mặt quê hương đổi mới

(“Cắt tóc ăn Tết” - phần II, Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương,
trong Thơ Nguyên Sa, tập II)
Gần như không có dụng ý “cách tân” nào trong những dòng viết bộc phát, tuôn trào theo mạch cảm thức đau thương, u uất. Trong ẩn dụ bao quát toàn bài thơ “Hãy cắt tóc và nhìn / Mặt quê hương đổi mới” là những cặp so sánh tương xứng chính xác và nghiêm khắc không khoan thứ. Ẩn sau những hình ảnh so sánh, ẩn dụ là dòng ý tưởng sắc bén được bộc lộ trong thái độ cương liệt và độ lượng sâu sắc, làm lay động tâm can:

Vu oan / bè phái / ghen tuông / xích chiến xa / dây thòng lọng / hưu chiến mỏng manh / hận thù buộc chặt / đau xót dây dù chẳng mở / treo cổ tình yêu / trói tay hy vọng / nhố nhăng cuộc đời / ngu si lịch sử... Không miêu tả những sự kiện riêng lẻ, cụ thể, không “bên này” hay “bên kia” chiến tuyến, thơ Nguyên Sa đứng trên góc độ những đau đớn, tổn thương của nhân tính và nhân phẩm con người để lên án chiến tranh, sự đầu độc huỷ hoại đời sống bình thường đang lan nhanh từng ngày từng giờ khắp mọi nơi, và tính chất đen tối của lịch sử.

Những bài thơ được viết trong khoảng năm 1966 đến 1975, thời điểm mà cuộc chiến tranh lan rộng với chạy đua cao trào, chết chóc, đau thương nhiễm độc không khí từ thành thị tới nông thôn, cũng là thời điểm bùng nổ phong trào phản chiến ở miền Nam Việt nam. Những bài thơ, truyện ngắn mô tả hiện thực chiến tranh phi lý, tàn khốc ghê rợn, những tiếng nói văn chương, âm nhạc giãi bày nỗi đau khổ thống thiết và khát vọng hoà bình cháy bỏng. Nhưng dám lên án trực diện kẻ gây ra tội ác huỷ diệt đời sống và con người, nhận định đúng động cơ chiến cuộc (xẻo thịt non sông, băm vằm tổ quốc), dám đường hoàng chỉ ra và lên án đoạn đường tăm tối mê muội của lịch sử, là dũng khí và tầm nhìn mà không phải người viết văn làm thơ nào cũng có được.

Nhà thơ cảm nhận về cái mất mát, bị huỷ diệt của đời sống bằng chính những xói mòn, rời rã, tê liệt của tâm trạng và cảm thức riêng mình.

Đau buồn trong thơ Nguyên Sa cũng là những ám ảnh vật thể, bằng xương thịt:

Gặp em không thể chào bằng tay / Em sẽ chê là năm cành cây / Em sẽ chê là năm nòng súng lạnh / Bởi vì đau hai mươi năm nay... Gặp em không thể chào bằng mắt / Em sẽ không thể ngủ được ban đêm / Em sẽ nằm trong cơn thù hận / Em sẽ chìm sâu trong cơn điên... Gặp em ta sẽ chào như loài kiến / Chào như loài dế chào như loài giun? Chạm tóc vào nhau ta gục đầu xuống / Như đồng bào ta nằm trong đất đen...

Sáng tạo những hình ảnh đậm tính trực cảm, khơi dậy trực giác vật thể ở người đọc cũng là một cách thức cá nhân hóa cao độ trong viết thơ, ở thời điểm hiện tại (thời điểm nhà thơ Nguyên Sa viết thơ) cũng như trong dòng chảy thơ sau này, tùy thuộc tài năng của người viết.

“Tôi mơ hồ cảm thấy tôi không muốn trở thành một nhà thơ dấn thân. Tôi cũng mơ hồ cảm thấy tôi không phải một đệ tử trung thành của nghệ thuật vị nghệ thuật. Tôi là người làm thơ, thơ tình, mà vẫn xúc động trước những khổ đau của quê hương, dân tộc tôi”

(Hồi ký Nguyên Sa)

Một cảm thức thi ca gắn liền với rúng động và thăng trầm của đời sống, vận mệnh lịch sử của dân tộc, là hệ thẩm mỹ gắn liền với giá trị nhân sinh, với thông tin và ý nghĩa có thực, duy nhất của một thời đại. Nó có thể bị “ràng buộc” bởi tính chất lịch sử nhưng không vì thế mà trở thành một kiểu giá trị thời sự, khép kín. Nó vẫn bao hàm những tín hiệu của không gian thơ ca và thẩm mỹ rộng lớn.

“Khi chân lý không ở ngoài tầm những gương mặt hóa trang /... Khi ngực hai mươi ở trong tầm viên đạn”, tiên cảm về cái chết trong thơ Nguyên Sa như vận mệnh chung cuộc đến sớm, có báo trước, cái chết như một khả thể của đời sống.

Không phải “một mai tôi chết bên khe Ngọc tuyền” (Hàn Mặc Tử) - cái chết còn cho con người cơ hội, “chết” với Nguyên Sa là một thực tại bỗng nhiên chuyển thành cõi chết:

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất / Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng / Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không / Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh ...

... Lúc ra đi hai chân anh đằng trước / Mắt đi sau còn vương vất cuộc đời ...

... Anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc / Anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya ...

                                                                                          (“Lúc chết”)

Cõi chết không phải nơi được giải thoát khỏi gánh nặng sự sống, mà nó là một dạng “sự sống” khác đau buồn phiền lụy theo cách khác. Chết chính là một hình dung lạ thường của thực tại, một nỗi khổ lụy lạ lùng mà con người tình nguyện nếm trải, còn hơn chấp nhận những gì đang diễn ra.

Viết tưởng niệm một người bạn, “Đám tang Nguyễn Duy Diễn”, không phải tiếc thương:

... Chúng tôi nhảy múa hò reo / Thế là nó thoát, thế là nó thoát /... Thoát khỏi ngủ, thoát khỏi ăn, khỏi thở / Khỏi đêm, khỏi ngày, khỏi tháng, khỏi năm / Khỏi chờ, khỏi đợi / Khỏi nhìn tình ái đội nón ra đi / ... Khỏi bốn mươi giờ dạy học mỗi tuần / Khỏi viết ban đêm, khỏi đến nhà in buổi sáng / Khỏi phải nhìn, khỏi phải nghe, phải thấy... Sự thật có phải bao giờ cũng tối như đêm / Tình ái có phải suốt đời là canh bạc lận / Lịch sử, rút lại có phải là thằng mù sờ soạng...

Sự giải thoát ở đây chỉ có nghĩa mỉa mai. Chết nghĩa là hối thúc đặt lại những câu hỏi nghi ngờ đời sống, chết như một ngã ngũ, một phương án thay thế cho tất cả những gì tâm trí nhận thức không thể giải đáp nổi, một hy vọng theo nghĩa mỉa mai đối với những vô vọng của sự sống.

Sống, là chung sống với cái chết, là ngạc nhiên khi bản thân còn tồn tại những năng lực sống:

... mùa xuân đã trôi qua / mùa hạ đã trôi qua / mùa thu đã trôi qua / bây giờ là mùa đông / ... Lá chết ở trên cành / cành chết ở trên cây / cây chết ở trên đường thành phố / ... thành phố trống vắng / quê hương trống vắng / con giun xéo đã quằn / anh vẫn đi ở đó / mà vẫn còn yêu em...

(Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương)

Nguyên Sa từng nói tới cái chết “bình thường”, tự nhiên:

... Có bao giờ thèm khát vô biên / Có bao giờ anh mong đừng chết- dù để làm thơ / Nên tất cả chỉ là yêu em và làm thơ cho đến chết...

Cảm nhận bất thường về cái chết thực chất là cảm nhận về một đời sống trái với tự nhiên, không còn gì biện hộ, không còn cơ may, cả cái chết cũng trở nên tuyệt vọng.

* * *

Từ những cảm nhận trực quan, vật thể, thơ Nguyên Sa tiến gần tới lối bộc lộ ý tưởng, nói cách khác, lối viết sự vật và sự kiện hóa trong thơ là tiến trình hiện thực hóa ý tưởng.

Chim đã bay / Đã tới / Nàng có đi cùng không / Đã tới / Chắc nàng phải mặc áo nhẹ / Đã tới / Chắc ta phải mặc áo nhẹ / Chắc ta phải để lại tất cả / Để lại đầu / Để lại tay / Không chừng để lại nàng / Để lại mắt / Để lại vai / Ôi đôi vai / Nàng có nhớ...

(“Chim” - Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương)

Từ cảm thức đan xen chuyển hóa trừu tượng và vật thể, nhà thơ đã tiến xa tới việc khai thác toàn bộ sự vật và tiến trình sự kiện như một cách mô tả khách quan trực quan, cấu tứ lại không gian trực quan ấy để nó hiện lên như một ý tưởng, một tâm trạng.

Cuộc du hành tưởng tượng cùng cánh chim, du hành của mất mát, tan vỡ, lìa bỏ, hủy diệt được hình dung như một chuyến lên đường thực thụ, có “bay”, có “tới”, nhưng thay vì mang theo là “để lại” “đầu, tay, không chừng... nàng, mắt, vai...”, một hành trình không tưởng đến cõi “âm” của các sự kiện và giá trị. Cái nhìn từ quan sát vật thể sang ý tưởng không tưởng là một bước vừa liền kề vừa táo bạo, đẩy người ta đi hết ranh giới những hình dung có sẵn.

Giống như sự quan sát và mô tả hành động một cách cơ giới, bề ngoài, loại trừ toàn bộ những hình dung từ, tính từ mà thường chỉ dừng ở việc gợi lại sự vật trong mối quan hệ khá hời hợt với nội tâm người viết, cố ý tạo ra nội dung thông báo khô khan, cộc lốc, viết thơ đồng thời là phơi bày một tiến trình cô đọng của hiện thực và ý tưởng. Vì chủ yếu nhằm tới ý nghĩa thông báo chứ không biểu đạt (lý giải, phân tích theo những hình dung sẵn có về đời sống), mô tả “trực quan hóa sự kiện” có thể bao hàm nhiều nội dung thông tin khác nhau, nhiều hệ hình (tầng lớp) giá trị khác nhau.

Năm ngón tay / Trên bàn tay năm ngón / Có ngón dài ngón ngắn / Có ngón chỉ đường đi / Có ngón tay đeo nhẫn / Ngón tay tô môi / Ngón tay đánh phấn / Ngón tay chải đầu / Ngón tay đếm tiền / Ngón tay lái xe / Ngón tay thử coorse / Ngón tay cài khuy áo / Em còn ngón tay nào / Để giữ lấy tay anh

(“Năm ngón tay” - Thơ Nguyên Sa , tập 1)

Chưa hoàn toàn thoát khỏi lối liên tưởng tương đồng theo thi pháp cũ, nhưng nhà thơ Nguyên Sa đã ý thức được sức nặng nhiều tầng lớp của lối mô tả trực quan, tính chất biểu tượng tràn đầy thông tin nhiều chiều của nó để thay thế ngoạn mục cho hình ảnh ẩn dụ một chiều.

Nguyên Sa viết thơ bằng nhịp điệu và cấu tứ câu văn xuôi từ rất sớm:

Khi xứ sở mùa xuân ở ngoài tầm cánh chim bay / Khi những đám mây hy vọng ở ngoài tầm những giờ thao thức ban đêm / Khi con tàu tương lai ở ngoài tầm ngọn hải đăng chờ đợi / Khi hình ảnh đôi giày đầu tiên, thầy giáo trường làng chân thực, những cánh đồng tuổi trẻ ở ngoài tầm kỷ niệm...

                    (“Ngoài tầm”)

1. Rồi trong ngôi nhà ký ức em sẽ đặt anh ở vị trí nào? Bên cạnh lớp học ngày xưa hay khu vườn tuổi nhỏ? Bên cạnh hình ảnh đôi guốc cao gót đầu tiên hay con búp bê gẫy tay trên gác bếp? ...

... Em dư biết giá trị liều thuốc an thần của những bài thơ nói về tình yêu kiếp khác, sao còn bắt anh chèo thuyền trong ảo tưởng? ...

3. Anh từ chối chiếc bánh còn thừa, tự do hứa hẹn, chân lý lưỡi lê và những lời an ủi...

4. Tuổi ba mươi và bấy nhiêu lần luỹ thừa đau khổ / Nhân danh cánh tay mọc trái nghi ngờ / Nhân danh vầng trán quê hương lo ngại / Nhân danh mái tóc chờ mưa sa mạc...

(“Bài giã biệt mới”)

Sự kéo dài kích thước câu thơ đến câu văn xuôi, nhịp điệu văn xuôi uyển chuyển linh hoạt thay thế nhịp điệu thơ ngắt quãng ngắn, theo một vài lối cố định, đã tạo ra ở người đọc một tâm thức đọc khác với tâm thức đọc thơ thông thường. Không phải chờ đón cái du dương, nhịp nhàng, đều đặn (kể cả với thơ không vần) có tác dụng dẫn dắt vào tâm thái và cảm xúc quen thuộc, mà là sự tỉnh thức khách quan để nhận biết, theo dõi, liên kết, chờ đợi “cú sốc” (nếu có) và hình thành phán đoán suy lý. Câu thơ văn xuôi chuyên chở nhiều sự kiện và tạo điều kiện đặt ra những vấn đề suy tưởng, ý tưởng, gia tăng ý nghĩa suy lý và tri thức cho sáng tạo thơ.

Ý tưởng trong thơ Nguyên Sa nhiều lúc còn nảy sinh từ tâm trạng nung nấu bộc phát:

Thằng Chúc bây giờ nằm trong nhà tù / Thằng Thịnh bị mang đi làm nông trường / Thằng Văn lang thang những bờ biển xa / Em nó ở nhà bán báo vỉa hè... Niềm đau đất nước mỗi ngày một đau / Câu hỏi đã lớn mỗi ngày một lớn / Những đứa sát nhân vu oan giá hoạ / Những đứa chụp mũ, chụp mũ, chụp mũ / Mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân / bạn bè dần hết theo tỉ lệ nghịch... / ... Chỉ còn câu hỏi, chỉ còn câu hỏi / Trong óc, trong mắt, trong tay, trên môi / Bao giờ thằng Chúc ra khỏi nhà tù / Và những thằng Chúc ra khỏi nhà tù / Bao giờ thằng Thịnh ở nông trường về / Và những thằng Thịnh ở nông trường về / Bao giờ thằng Văn cầm tay quê hương / Và những thằng Văn cầm tay quê hương / Bao giờ, bao giờ, bao giờ?

                                    (“Bao giờ”)

Câu thơ chuyển thành dạng thức lời nói thường không chút làm đẹp với toàn bộ nội dung thông báo cũng như ý tưởng, không hề còn lại một hình ảnh. Nó cho thấy một thẩm mỹ khác xuất hiện trong quan niệm và nghệ thuật thơ, sẽ bị bỏ quãng và tái xuất hiện, bùng nổ vào những năm thơ ca tiếng Việt “đuổi kịp” hành trình đương đại. Đó là thẩm mỹ hướng về cái bé mọn, “tầm thường”, xấu xí, cái bị kỳ thị và rẻ rúng, áp chế.

Hành trình thơ Nguyên Sa là hành trình tự nhiên của con người kiếm tìm tình yêu và chân lý của cái đẹp cũng như của cuộc đời, chân lý như một khát vọng không bao giờ đứng lại, chứ không phải một nội dung nhất định. Sống giữa cuộc đời hệ luỵ, mệt nhọc, bị tước đoạt dần những thụ cảm tự nhiên, bình thường vốn dĩ, trong lòng một dân tộc đau khổ, bất hạnh, với những bi kịch mù loà, Nguyên Sa là một nhà thơ đắm đuối và hết lòng với thi ca như với cuộc đời, để đi qua cuộc đời, cất trọn chén sống một cách an nhiên, đường hoàng và can đảm.

 KHÁNH PHƯƠNG
Nguồn: TIỀN VỆ

_________________________________________________________

Ghi chú:

- Bài viết chỉ khảo sát thơ Nguyên Sa trong phạm vi trước tác chủ yếu từ năm 1953 cho đến 1975, tập hợp trong 2 thi tuyển, Thơ Nguyên Sa, tập I; Thơ Nguyên Sa, tập II, phần II, Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương, NXB Đời, 2000. Đây là phần trước tác của nhà thơ thuộc về dòng chảy cảm hứng và thi pháp thơ miền Nam.

- Vì điều kiện trích dẫn phục vụ ý tưởng đọc liền mạch của bài viết nên một số phần dẫn chứng thơ Nguyên Sa không giữ được trình bày nguyên gốc của tác giả, xin thành thật cáo lỗi cùng bạn đọc.

- Bài viết có tham khảo một số tư liệu về lý luận văn học và bài viết, khảo cứu về văn học miền Nam của các tác giả, bạn bè...

____________________

[1] Sáng tạo, khi chủ thể chưa có ý thức tự “giãn cách” đối với bản thân, ít nhiều mang tính chất tự phát. Khi chủ thể có sự “lùi xa” đối với bản thân, phải vượt qua khoảng cách thời gian, vận dụng năng lực hồi ức, tưởng tượng, suy tưởng để khôi phục “cái tôi quá vãng” hoặc kiến tạo hình tượng “vị lai”, đó là thể hiện nỗ lực sáng tạo lại thực tại và con người. Trong khi thơ ca được lý luận văn học hiện đại xem như thể loại ràng buộc mật thiết hơn cả với thân thế, thực trạng người viết, thì ý thức tự giãn cách và năng lực vươn tới giá trị tri thức của nhà thơ vẫn phải được kể đến như là ý nghĩa cơ bản của sáng tạo, đây là hai mặt của vấn đề. Con người cá thể, đơn nhất, “được quyền” song hành, chuyển hoá với con người tri thức phổ quát, tạo ra những giá trị mới.

[2] Thơ ca trung đại dù mang những thông tin cá nhân vẫn là những cá thể ước lệ:

Ới thị Bằng ơi đã mất rồi
Ới tình ới nghĩa ới duyên ơi
                   (“Khóc thị Bằng” - Vua Tự Đức)

Chưa bao giờ có sự hình dung trực quan cụ thể như trong thơ tiền chiến:

“Trong trẻo như Nguyễn Nhược Pháp” (theo Hoài Thanh- Hoài Chân):
Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo dải yếm đào / Quần lĩnh, áo the mới / Tay cầm nón quai thao
(“Đi chùa Hương”)

Nhưng là khai thác chất thơ trong thể loại “kể chuyện bằng thơ”.

Tái hiện sống động như Vũ Hoàng Chương:
Âm ba gờn gợn nhỏ / Ánh sáng phai phai dần / Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân / Lui đôi vai, tiến đôi thân / Riết đôi tay, ngả đôi thân / Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió...

Nhưng vẫn trong vòng những giá trị ước lệ:
Đất trời nghiêng ngửa / Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ / Đất trời nghiêng ngửa / Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
                         (“Say đi em”)

Men khói đêm nay sầu dựng mộ / Bia đề tháng sáu ghi mười hai / Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc / Tố của Hoàng nay Tố của ai
                         (“Mười hai tháng Sáu”)

[3] Vấn đề “cá nhân hoá tối đa” có sự trùng hợp và có điểm khác với vấn đề phong cách cá nhân. Nếu như phong cách cá nhân được hiểu là tập hợp những thành quả sáng tạo về mặt nghệ thuật của một cá nhân, tạo thành những điểm khác biệt đặc thù, đóng góp, làm mới cho đặc trưng thể loại, thì sự cá nhân hoá được nhìn nhận về mặt ý thức và tâm thức sáng tạo. Con người trong thơ ca càng được cá nhân hoá bao nhiêu, thì những đặc điểm phong cách càng đậm nét bấy nhiêu. Thơ ca trung đại không đa dạng, không đậm nét những đặc thù phong cách cá nhân. Nếu không có những chú dẫn về thân thế, thì thơ thiền của các tác giả khác nhau, thơ “thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, hay Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Siêu... rất khó phân biệt. Trong khi đó, để đạt tới phong cách mẫu mực sách vở như Bà Huyện Thanh Quan hay sự phá cách theo thẩm mỹ dân gian như Hồ Xuân Hương (?) là trường hợp vô cùng hiếm hoi. Đường thi cũng có thể quy tập về một hệ thống thi pháp đặc thù, nhưng những phong cách cá nhân nổi trội nhờ dấu ấn cá nhân hoá ở mức độ rõ rệt, không nhiều.

[4]
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi
                         (Vua Tự Đức)
trong cổ thi, hay:
Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im / hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim / Còn cứ run hoài trong chiếc lá / sau khi trận gió đã im lìm (Xuân Diệu)

Ta quá say rồi! / Sắc ngã màu trôi... / Gian phòng không đứng vững / Có ai ghì hư ảnh sát kề môi? (Vũ Hoàng Chương)

của thơ tiền chiến chưa xuất hiện cái không tưởng như trong thơ Nguyên Sa. Không tưởng bỏ cách quãng cái thực có, cao hơn liên tưởng, biến cái không hình bóng thành khả thể.

[5] Khảo sát một số bài thơ khác của Nguyên Sa công bố trong khoảng những năm 1956- 1975, biểu hiện tương tự.

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU