Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

NGÀ NGÀ SAY CÙNG “LỤC BÁT PHỐ” CỦA VŨ THANH HOA

Tiếp nối nguồn thơ, mạch thơ ào ạt tràn đầy năng lượng của “Nỗi đau của lá”, “Trong em có người đàn bà khác”, “Lời cầu hôn đêm qua”, Vũ Thanh Hoa vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Lục bát phố” với chuyên biệt một thể loại thơ, đó là thể thơ lục bát truyền thống. Cái tên sách lạ: Lục bát phố!
 Nhà thơ Vũ Thanh Hoa

Tôi hào hứng đọc và bị cuốn hút theo suốt 46 bài cả tập. Xin nói ngay rằng, lục bát Vũ Thanh Hoa trong tập này toàn những bài hay, mới và lạ, một suối thơ tình dào dạt, khắc khoải, cuồn cuộn chảy, chảy luênh loang, cuốn hút.

Gọi tên người yêu, ấn tượng thứ nhất.

Khi người ta yêu nhau, dù có ở bên nhau cũng thầm nhắc tên người mình yêu bất kể lúc nào. Trịnh Công Sơn “Gọi tên bốn mùa”, Trường Sa “Xin còn gọi tên nhau” và Vũ Thanh Hoa, hình như tên người yêu cũng luôn  ám ảnh chị. Lúc thì chị mượn “gió gọi mong manh” , lúc thì “ký ức êm đềm gọi” và khi thì “chính em gọi”. Những “gặp, viết, rơi, vấp, thốt” (động từ), với những “bời bời”, “bất thình lình”, “sẽ sàng”…(tính từ) là những trạng huống khi chị gọi tên người yêu. Có 10 lần Vũ Thanh Hoa trong “Lục bát phố” đã gọi như thế. Cả mười lần gọi, không lần nào giống lần nào, cả mười lần đều khắc khoải nhớ thương, đau đáu mong chờ.
               
Ngay bài thứ hai trong tập - bài “Chợ chữ” chị đã gặp “tên anh” trong cảnh này: “Lục tìm vốc chữ ngả vàng/ Giật mình rơi một sẽ sàng tên anh”. Người đọc cũng như sửng sốt cùng chị. Sửng sốt bởi “Chợ chữ”, một tứ thơ lạ, cách diễn đạt lạ, sửng sốt bởi “rơi một sẽ sàng tên anh”. “Rơi sẽ sàng” nhưng sao mà nó nặng thế, ngơ ngác vậy! Vì: “Chợ đông nào có ai chờ/ Buôn bao giờ lãi một ngờ nghệch yêu/ Đong phiêu diêu, trả phiêu diêu/ Nghiêng môi sểnh mắt chín chiều một đau”.
               
Vũ Thanh Hoa còn gọi thế này: “Vẽ tình lên bức mành sương/ gọi tên nhau. Vọng lại còn…/ mùa thu” (Ngả nghiêng). “lãng quên/ vấp/ một cái tên/ nhặt mùa thu/ vấp ngả nghiêng/ lá vàng” (Vấp). “gặp nhau giữa những dãy tên/ ngất nga ngất ngưởng lạ quen phập phờ” (Lơ mơ). “Thình lình thốt/ một cái tên/ Nửa ngày ngơ ngẩn/ nửa đêm giật mình” (Nửa mùa). “Tình bay trên sóng chơi vơi/ trôi về khởi thủy bời bời tên nhau” (Tắm). “Buổi chiều chẳng gọi được tên/ chạy xe xuống phố/ điên điên khùng khùng” (Thiêu thân). “Tên anh gió gọi mong manh/ nghe từng vụn vỡ ghép lành mùa xưa” (Trăng bạc). “Xếp đôi cũ nhất ra thềm/ chợt nghe ký ức êm đềm gọi tên” (Đôi giày cũ). “Cất vào riêng góc để dành/ Chữ đầu tiên viết tên anh ngập ngừng” (Khóa chữ).

Chẳng biết ngẫu nhiên hay cố ý mà gọi tên nhau đầu tập thơ ở “Chợ chữ” (bài thứ 2) để đến lần gọi lần thứ 10 lại xuất hiện ở bài “Khóa chữ” (bài áp chót). Cả hai bài đều liên quan đến “chữ”. Từ khi “lục tìm vốc chữ ngả vàng” thấy “rơi một sẽ sàng tên anh” đến lúc quyết định “cất vào riêng góc để dành/ Chữ đầu tiên viết tên anh…” và “khóa chữ” nhốt tên lại! Chẳng biết nhốt tên anh trong tủ, trong rương…hay trong chính trái tim tác giả đa tình để rồi lúc nào đó lại “bất thình lình” “vấp phải” … Thế mới biết tác giả đã yêu da diết đến chừng nào!

Ám ảnh thứ hai: yếu tố sex trong thơ.

Tình yêu thường gắn với tình dục. Tình dục là đỉnh cao của tình yêu. Viết về tình dục không dễ, nhất là đối với thơ. Viết sao cho vừa cao sang, thánh thiện lại vừa đời thường, không thô tục, dễ dãi. Vũ Thanh Hoa đã đạt được điều này. Bạo liệt nhưng vẫn kín đáo, cháy bỏng nhưng vẫn dịu dàng. Vừa thoát tục vươn đến cái đẹp lại vừa gần gũi bình dị như cuộc đời vốn thế. Đọc những bài thơ về vấn đề này của Vũ Thanh Hoa, ta cảm thấy yêu người, yêu cuộc sống, trân quý những gì tốt đẹp nhất mà tạo hóa đã ban cho.

“Tắt đèn muôn phía tràn đêm/ Mắt em óng ánh êm đềm suối trăng/ trải trên tơ lụa mịn màng/ nuột nà vóc ngọc mơ màng bờ vai” (Đêm vĩnh hằng). Để rồi “lướt môi”, “chân dài”, “tay đan tay”, “vòng ôm cuộn sóng cuốn chìm đam mê”. Rồi thì “buộc nhau vào nửa câu thề/ trói nhau bốn phía lối về mênh mang”… Các động từ “lướt môi”, “đan tay”, “ôm”, “cuộn chìm”, “cuốn sóng”, “buộc”, “trói”, “thả”, “chia”; các tính từ “rùng mình”, “nuột nà”… đã làm sống động hình ảnh cuộc tình đang ở độ mây mưa. Hay như “Đắp cùng nhau một góc chăn/ Ngờ đâu bất tận dấu nằm thiên di”. Đọc đến đây tôi lại nhớ đến Vi Thùy Linh với bài thơ có câu “Khỏa thân trong chăn thèm chồng”  và thấy Vũ Thanh Hoa dữ dội nhưng vẫn kín đáo, ý nhị của người phụ nữ Á Đông.
Bìa tập thơ Lục bát phố của Vũ Thanh Hoa, Nxb Hội Nhà văn 2015

Cuộc tình để lại bao nhớ nhung với những lần gọi tên nhau và đặc biệt là “dấu nằm”. Vũ Thanh Hoa không dưới ba lần nhắc đến “dấu nằm” trong tập thơ; “Dấu nằm nghiêng phía lênh đênh/ À ơi…cái ngủ phủ mềm mắt môi” (Ru xa); “đêm trườn qua dải eo thon/ đổ cơn xoáy lốc niêm phong dấu nằm” (Nhất dạ tình). Thế cũng đủ để ám ảnh lắm rồi. Hơi ấm người vẫn còn đây, cuộc tình đêm ấy vẫn còn đây mà bây giờ “qua nhà anh chẳng dám dừng/ trăng xưa lạc giữa ngập ngừng phù vân”.

Bạo liệt, đam mê, cuốn hút nhau đậm chất sexy qua các bài “Đêm vĩnh hằng”, “Ru xa”, Duyên nợ”, “Nhất dạ tình”, “Tắm”, “Du mục”… đặc biệt trong bài “Tắm”. “Nước dâng tới đỉnh khát thèm/ cuốn vào đắm đuối một phen tận đời” để cho “tình bay trên sóng”, “trôi về khởi thủy”, để “chẳng cần biết sẽ về đâu/ cứ vui như thể hôm sau tử hình/ vui như phút cuối hòa bình/ nhỡ mai thế giới thình lình chiến tranh/ xà phòng bong bóng tan tành…”. Dữ dội? Sống gấp? Xin hãy bỏ qua những định kiến khắt khe cùng những giả tạo làm dáng cao ngạo, thì đây mới chính là Đời, là Thực. Đó là cái Đẹp vĩnh hằng mà tạo hóa đã ban cho, xin hãy tận hưởng!

Trong “Du mục”, cũng với tóc, vai trần, mi xanh, với những “vòng ôm”, “ngược về”, “hút vào” nhưng cái phút “dạ cầm so phím giao ân” ấy mới thánh thiện làm sao! Trong 15 câu thơ của bài có 8 câu tả về chuyện làm tình nhưng Vũ Thanh Hoa dùng tới 8 cặp từ láy rất mộc mạc, tài tình: “mi xanh du mục mơ màng/ vai trần nghiêng ngả hàng hàng phù điêu/ vòng ôm thành lũy liêu xiêu/ ngược về hoang dại vương triều phục hưng/ hút vào thăm thẳm từ trường/ mơn man cho những vết thương dịu mùa/ phiêu diêu phiên khúc giao thừa/ truân chuyên thanh thản như vừa hồi xuân” (Những chữ in đứng là từ láy).

Tôi thích yếu tố sex trong thơ Vũ Thanh Hoa. Sex trong lục bát khó là thế mà chị vẫn thể hiện được. Kể cũng cao tay đấy chứ!

Ấn tượng thứ ba: Vũ Thanh Hoa đã mạnh dạn làm mới thể thơ lục bát.

Bằng cách ngắt câu, xuống dòng, dùng dấu chấm câu giữa dòng thơ. Điều này nhiều tác giả đã làm nhưng Vũ Thanh Hoa tôi thấy ấn tượng hơn. Có 46 bài thơ trong tập thì chỉ có 18 bài viết theo thể truyền thống (lục trên bát dưới từng cặp một), 18 bài vừa truyền thống vừa ngắt dòng, 10 bài ngắt câu xuống dòng toàn bộ (có dòng chỉ có một từ hoặc hai từ). Trong 18 bài “lục trên bát dưới” thì có bài chị cũng dùng dấu chấm câu ngay trong dòng lục hoặc dòng bát. Tôi đặc biệt thích các bài ngắt câu xuống dòng toàn bộ. Tứ thơ hay, không chỉ về tình yêu mà trong tình yêu là vấn đề xã hội, là trách nhiệm công dân, là làm người, là nhân tình thế thái…

Đó là các bài “Chi chi chành chành” nói về sự “tận cùng”. Tận cùng ngày là đêm, tận cùng đêm là ngày, tận cùng vui “chẳng đánh rơi được buồn”, “tận cùng say/ lại gặp say/ tỉnh ra ngâm ngấm ngây ngây/ dật dờ/ chành chành/ chi/ lắm bất ngờ/ tận cùng muôn sự giả vờ/ gặp…/yêu”. Từ “chi” đặt một mình một dòng thật đắc địa. Nó vừa là chi chi chành chành vừa là thay cho dấu hỏi.

Bài Vấp cũng lả tả chữ như thế. Dòng nhiều nhất có 3 từ, dòng ít nhất có 1 từ. Bài lục bát có 12 câu (6 câu lục, 6 câu bát) được rắc ra thành 43 dòng. Riêng điệp từ “vấp” chiếm tới 11 dòng, trong đó chỉ có một dòng 2 từ (“vấp mãi” nằm ở cái vấp cuối cùng). Sự vấp này thật hay, vấp đủ thứ, vấp toàn những cái hư vô, có có không không. Đây là những cái chị đã “vấp” phải: nửa giấc chiều, nửa cô liêu, kiếp đa mang, vẻ dịu dàng, một cái tên, ngả nghiêng lá vàng, nắng chang chang, hàng lệ cong, thoáng tịnh không, mắt nạ dòng. Chủ thể vấp cũng thật lạ: đêm, sum vầy, phũ phàng thong dong, bão dông, từ em, nhặt mùa thu, mưa dầm, môi cười…đối lập với cái vấp. Để cuối cùng “từ bi/ mấy độ cho vừa/ phận này/ vấp mãi/ chẳng/ chừa…/ phiêu diêu”.

Bài “Nói chuyện với cốc cafe” cũng vậy. “Trên bàn/ thừa/ cốc cafe/ uống vào/ thì đắng/ bỏ về/ thì cay/ Say hôm qua/ đã/ qua say (đảo từ rất hiệu quả, từ “đã” đặt thật đúng chỗ). Bài “Đoản khúc lá” cũng ngắt dòng, tải từ như thế nhưng thêm cả dấu chấm trong dòng chỉ có 4 từ. “sắc/ không/ thiền tịnh. Duyên. Tình/ tiễn thu/ để lá tiễn mình/ và/ rơi…”. Đúng là thu rơi! Chị đã dùng cả Nghệ thuật “tạo hình” đầy hiệu quả!

Hai bài cuối của tập thơ “Lỡ” và “Lục bát @” càng bộc lộ rõ hiệu quả của hình thức ngắt câu, xuống dòng này. Đặc biệt “Lục bát @” với những off, file, save, Insert, cancel, delete, Shut down… toàn ngôn ngữ vi tính, tin học khô cứng mà vào thơ lục bát ngắt dòng của Vũ Thanh Hoa lại mềm mại, uyển chuyển và  thú vị bất ngờ:  “Em ngồi sắp xếp chiêm bao/ off mùa hò hẹn/ Save vào/ từng file/ cuộc tình ngắn/ cuộc tình dài/ dư âm/ đồng vọng/ hình hài tình nhân…” để “bây giờ/ Insert/  ngày xưa/  nhớ quên/ Delete/ thiếu thừa/ Cancel/ Bán buôn/ cho trắng/ nỗi buồn/ nợ  nần/ vay trả/ vuông tròn/ Shut down”.

“Lục bát phố” là một tập thơ rất đáng đọc. Tác giả mạnh dạn đổi mới về hình thức, hiện đại từng câu chữ, chắt lọc từng từ và lựa chọn tinh tế từng vị trí để tạo hiệu ứng khác lạ, ám ảnh mà vẫn bay. Tuy thế, vần điệu vẫn đảm bảo làm cho câu thơ tưởng như rời rạc mà lại dính kết nhau, uyển chuyển mượt mà. Tuy vậy, giá như Vũ Thanh Hoa dụng công hơn nữa trong việc chọn vần, để cho một số câu không bị gần vần, trùng vần và linh hoạt trong việc sử dụng vần (không có câu nào dùng vần lưng) thì hiệu quả còn cao hơn nữa.

“Lục bát phố” dùng thể thơ lục bát toàn tập nhưng không cho ta cảm giác đều đều, nhàn nhã mà trái lại rất cuốn hút, rất bất ngờ. Tập thơ này đã chứng tỏ độ chín, sự chiêm nghiệm và lắng đọng của Vũ Thanh Hoa. Xin chúc mừng chị không chỉ “một mình xuôi phố ngược xe/ Phố dưng dửng nắng phố se sẽ buồn” (Lục bát phố) nữa mà là “giấu đi một nụ đa tình/ Ngày xuân mơn mởn thình lình nở hoa/ én bay gần/ én bay xa/ rượu còn chưa cạn bỗng ngà ngà say”(Lục bát xuân). Vâng, tôi đang ngà ngà say cùng “Lục bát phố” với Vũ Thanh Hoa đây!

 ĐỖ XUÂN THU
Hội VHNT tỉnh Phú Thọ



"NÂNG NIU" CỦA LÊ GIANG - CHAN CHỨA ÂN TÌNH

Có thể ghi nhận đây là một tuyển tập chan chứa ân tình mà nhà thơ Lê Giang đã dành cho chính mình lẫn bạn đọc. Tôi muốn mượn câu thơ của nhà thơ Lê Giang đã viết tặng nghệ sĩ Viễn Châu: "Niềm tâm sự bồi hồi xao xuyến quá", thay cho lời nhận xét về tập sách "Nâng niu" (NXB Tổng hợp TP HCM) của chị.
Nhà thơ Lê Giang

Qua hơn 500 trang sách, ở phần 1 - "Một thời để thương", là cảm nghĩ của các đồng nghiệp như Lý Lan, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Ân Thy, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Nhật Vy, Lê Minh Quốc, Vũ Quần Phương… kể lại kỷ niệm và cảm nghĩ khi đọc những tác phẩm của Lê Giang. Qua đó, ta thấy hiện lên chân dung của một nhà thơ, nhà nghiên cứu, tác giả kịch bản... mà nổi bật nhất là tâm hồn của một con người luôn đau đáu với ca dao, dân ca, đi tìm tiếng nói quê kiểng còn lưu giữ ký ức bà con nhiều vùng miền.

Qua phần 2 - "Một thời để nhớ", là những tùy bút bay bướm, ngẫu hứng thân mật của Lê Giang dành cho bạn văn. Đó là những trang viết về nghệ sĩ Viễn Châu, Nguyễn Duy, Xuân Hồng, Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Trịnh Công Sơn…; là bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Văn Thủ… Điều này cho thấy nhà thơ Lê Giang là người đôn hậu, có trước có sau, những tình cảm buồn vui trong một thời kháng chiến, chị không hề quên.

Không chỉ văn xuôi, tình cảm ấy còn thể hiện ở thơ, chẳng hạn với nghệ sĩ Quốc Hương là những câu thấm thía ruột thịt: "Ơi anh chàng hát rong ơi!/Dù anh có đi cùng trời cuối đất/Thì bà con cũng nhận ở nơi đây/Nơi con kinh Kiểm Lâm ở cuối trời này/Họ đã sinh ra người hát rong hát những bài ca/Cho người trồng khoai gieo lúa/Những bài ca tuổi trẻ/Để làng xóm nhớ anh/ Lên cao như ngọn tre/Và xuống trầm như nước lũ". Chị dành cho nhạc sĩ Xuân Hồng những câu chí tình: "Khóc thương nhau biết bao nhiêu cho đủ/Phải nén lòng dành nước mắt khi vui"…

Thêm một điều lý thú, không thể không nhắc đến còn là các bài viết kể lại quá trình chị đi sưu tầm dân ca, ca dao với nhiều chi tiết ngộ nghĩnh, lạ lẫm. Có lẽ bạn đọc phải cảm động khi đọc "Xóm góa": "Chúng tôi ngồi sát vạt vào họ, sát vạt câu ca dao: "Hai tay bưng dĩa cá chiên/ Chồng thanh vợ lịch mải nhìn quên ăn". Ơi, chồng của câu hát đâu, sao không đối lại?".
Ngoài ra, còn là những trang nhật ký của một người đi nhặt từng hạt ngọc nơi đồng sâu, bưng biền còn đang lưu giữ trong ký ức dân gian: "Gió thổi ù ù trên đồng sậy đưng trống trải gợi lên biết bao vui buồn, biết bao ơn nghĩa. Nhớ lại nhiệm vụ chính trị của mình sáng giờ chưa có "hột" nào, chúng tôi mở vài đoạn băng làn điệu dân ca thu được cho chị Sáu phụ trách xã nghe, để khi gần gũi mấy má, mấy dì nắm trước tình hình hò, lý… và hẹn ngày trở lại".

Cấu trúc một tác phẩm nặng về tình, về nghĩa như thế này nhìn chung là chỉn chu, đầy đặn. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay hễ nhắc đến Lê Giang, lập tức công chúng lại nhớ đến nhạc sĩ Lưu Nhất Vũ.

Có thể nói, đây là đôi bạn đời rất đẹp trong sinh hoạt văn học của vùng đất phương Nam nói chung. Góp mặt của tác giả ca khúc "Bài ca đất Phương Nam" trong tập sách này là các hình ảnh anh chụp nhà thơ Lê Giang cùng đồng nghiệp.

Sau khi đọc "Nâng niu", điều còn đọng lại trong lòng người đọc là khuôn mặt nhà thơ với nụ cười hồn hậu, hạnh phúc, sống hết mình với nghệ thuật. Muốn được vậy, nói như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thì nhà thơ Lê Giang "phải biết sống mạnh mẽ, chân thành, lòng như muối mặn và nhất là phải biết "nghiêng tai dưới gió" để mà nắm bắt những giai điệu đa thanh của cuộc đời". Còn nhà thơ Lê Giang cho biết "Nâng niu" là thành quả của tâm niệm: "Đời cho ta được nâng niu/ Nâng niu cho đời ta được". Để bây giờ, chúng ta đọc và cảm thấy "Niềm tâm sự bồi hồi xao xuyến quá".

ANH LƯU
Nguồn: Người Lao Động 27.11.2018


Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

NHÀ VĂN HÓA NGUYỄN VĂN XUÂN: NGƯỜI QUẢNG HAY CÃI

Ghi nhận đóng góp của ông, từ năm 2013 tại Đà Nẵng có con đường mang tên Nguyễn Văn Xuân, cùng đợt với các nhà văn Phan Khôi, Hoàng Châu Ký, Thu Bồn và Tế Hanh...

Lúc viết lời bình kịch bản Học giả Nguyễn Văn Xuân - từ trang văn đến cuộc đời, tôi chỉ dựa vào từng thước phim đã quay do đạo diễn Hải Anh cung cấp. Khi dựng thành phim phát sóng trên TFS của HTV, nhà biên kịch Nguyễn Hồ đổi lại Thầy Nguyễn Văn Xuân.
Nhà văn hoá Nguyễn Văn Xuân

Thật bất ngờ, phim này đã đoạt giải Cánh diều Bạc của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 2001. Nhắc lại chi tiết trên, để nói rằng, nhà văn hoá Nguyễn Văn Xuân không hề xa lạ với bạn đọc cả nước.

Giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân (NXB Đà Nẵng - 2002), nhà sử học Dương Trung Quốc - Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch Việt Nam ghi nhận: “Là người từng gắn bó tham gia nhiều công việc với các đồng nghiệp xứ Quảng của ông, tôi cảm nhận được một điều: một cuộc hội thảo, một tập kỷ yếu viết về lịch sử và văn hoá xứ Quảng mà vắng ông, mọi người đều cảm thấy một cái gì không trọn vẹn, một khoảng trống... Nguyễn Văn Xuân là người học rộng lại chuyên viết về xứ Quảng nên gọi ông là nhà Quảng học hiểu theo nghĩa nào của chữ cũng đều đúng cả” (tr. 1008).

Lịch sử đã dành cho Quảng Nam - Đà Nẵng một sứ mệnh cay đắng và vinh quang: 5h sáng ngày 1-9-1858 giặc Pháp đã ngang ngược tấn công thành phố này mở đầu cho công cuộc xâm lược Việt Nam.

Nhưng dưới ngọn cờ chính nghĩa của lão tướng dày dạn chiến trận Nguyễn Tri Phương, dân quân Đà Nẵng đã đánh bại đại binh viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Trung tướng hải quân Rigault Genouilly! Chúng không thể hoàn thành chiến thuật đánh nhanh, thắng nhanh mà phải rút chạy khỏi Đà Nẵng để vào tấn công Nam Kỳ.

Đà Nẵng vẫn còn lưu giữ nhiều chứng tích hùng hồn tố cáo tội ác xâm lược của giặc Pháp. Rất tiếc thế hệ trẻ không mấy ai biết đến. Phải chăng chính vì thế mà nhà văn hoá Nguyễn Văn Xuân đã dành cả cuộc đời để ghi chép về sự tích thần kỳ của vùng đất mình gắn bó máu thịt? Có thể nói đây là một sứ mệnh cao quý mà ông đã ý thức lúc mới ngoài 30 tuổi.

Nguyễn Văn Xuân sinh năm 1921 tại xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, (Quảng Nam). Điện Phương là nơi hình thành nghề truyền thống đúc đồng nổi tiếng - phải chăng điều này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến tư duy nghiên cứu nghiêm túc và phong cách tiếp cận vấn đề rất tài tử của ông?

Khi nói ông có phong cách tiếp cận vấn đề đầy tính ngẫu hứng và tài tử, có lẽ nhiều người không đồng ý vì nó khá xa lạ với bản chất của một nhà nghiên cứu. Nhưng thật ra, đó mới là bản lĩnh độc đáo của Nguyễn Văn Xuân, vì trước khi trở thành nhà nghiên cúu thì ông đã là nhà văn.

Điều này cũng tương tự như Sơn Nam ở Nam Bộ, Quách Tấn ở Bình Định.

Ít ai biết rằng, từ trước năm 1945 ông đã có những truyện ngắn in trên Tiểu thuyết thứ bảy xuất bản tại Hà Nội. Trong đó, với giọng văn đặc sệt ngôn ngữ Quảng Nam, ông đã tạo nên bối cảnh và nhân vật như mới từ vùng đất “Rượu hồng đào chưa nhấm đã say” bước thong dong vào trang văn để lôi cuốn người đọc. Vì lẽ đó, các nhà văn học sử đã xếp ông vào thế hệ nhà văn vào nghề từ thập niên 1940.

Sống tại miền Nam trong vùng địch tạm chiếm, ông vẫn tiếp tục sáng tác. Nhưng ý hướng của một người từng sống trong vùng kháng chiến, từng hoạt động ở Liên khu V cùng với nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký, nhà thơ Trinh Đường... từng viết kịch phục vụ phong trào cứu quốc... thì các tác phẩm của ông như Bão rừng, Hương máu và một loạt truyện ngắn khác in trên báo công khai vẫn không nhập vào trào lưu văn học “thời thượng” lúc bấy giờ.

Nhân vật của ông không phải là gái bán bar, thanh niên thác loạn... - mà ở đó là những nhân vật anh hùng lừng danh ở quê hương ông như Ông Ích Khiêm, Nguyễn Duy Hiệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân...

Ông đã viết về các nhân vật này bằng tất cả sự ngưỡng mộ và cũng là một cách bộc lộ quan điểm chính trị. Tuy viết theo kiểu “xanh vỏ đỏ long”` nhưng nó đã có tác dụng cổ vũ tinh thần yêu nước. Ở đó, cái chết của những nhân vật anh hùng đã gây cảm xúc mạnh mẽ ở người đọc bởi câu văn sắc lạnh, ẩn đằng sau là nỗi đau, là những giọt nước mắt mà tác giả nén lại.

Lúc về Đà Nẵng, thỉnh thoảng tôi nhận ra ông qua mái tóc bạc phơ. Cũng giống như bao ông lão bình dị khác, nhưng có mấy ai biết được rằng thời trai trẻ, Nguyễn Văn Xuân là người đi nhiều, rất nhiều? Đi và ghi chép. Ghi chép và viết.

Ông quan niệm rằng, nghiên cứu một vấn đề sử học không chỉ căn cứ trên văn bản, còn phải khảo sát từ thực địa. Chính nhờ những chuyến đi điền dã không mệt mỏi, ông đã có được tác phẩm nổi tiếng Phong trào Duy Tân, in năm 1969 tại miền Nam.

Đây là công trình đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử về phong trào Duy Tân. Ông đã tận dụng tối đa nhiều nguồn tư liệu phong phú, từ tư liệu viết đến tư liệu điền dã. Do đó, bức tranh của phong trào được ông dựng lại sống động, nghĩa khí, trí tuệ, nhưng cũng vô cùng bi thương.

Mấy chục năm qua, cuốn sách nghiên cứu này vẫn để lại ấn tượng sâu sắc, có giá trị lâu bền, có lẽ bởi ngoài tâm huyết còn phải nói đến tài năng. Tài năng đó hoà với trái tim nồng nhiệt của nhà văn qua một bút pháp rất riêng. Bút pháp đem tấm lòng, tâm tình để viết lịch sử - đó chính là sức lôi cuốn và hấp dẫn của phong trào Duy Tân.

Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Dương Trung Quốc: “Những quan điểm được trình bày trong sách nói chung là nghiêm túc, ít sai sót về mặt sử liệu và không có những quan điểm không phù hợp với yêu cầu chính trị hiện đai”..

Có lần, với tư cách nhà báo, tôi phỏng vấn ông: “Có thể nói, bất cứ trong thời điểm nào việc giáo dục lịch sử nước nhà cho thế hệ trẻ cũng là nhiệm vụ cấp bách và rất cần thiết. Nhất là ở thời điểm hiện nay, khi đất nước đã mở cửa và hội nhập với các nước trên thế giới với nhiều luồng văn hoá khác nhau. Để gìn giữ bản sắc của một dân tộc thì có “vũ khí” nào sắc bén hơn là giáo dục cho mọi người ý thức về tự hào dân tộc”.

Nhà văn hoá Nguyễn Văn Xuân trả lời: “Chúng ta muốn đổi mới mà ít học lịch sử của ta và của thế giới (nhất là quanh ta) thì thật là quá thiếu sót. Ngày nay, sự duy tân của Phan Châu Trinh với ba nguyên tắc căn bản thì thiết tưởng thời nào cũng phải tâm niệm: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Về nguyên tắc một và ba, ta đang thực hiện, nhưng “Chấn dân khí” còn quá thiếu sót. Ta có thể rất tự hào về dân khí trong chiến đấu, nhưng còn dân khí để làm người đối với đất nước nhất là với thế giới mới thì ta đã đặt ra chưa?

Hay sinh viên ngày nay chỉ có mơ ước cao xa là có bằng cấp để đi làm thầy thông, thầy ký, lãnh lương từ các doanh nghiệp Việt Nam và kỳ vọng lớn hơn là doanh nghiệp nước ngoài - bất kỳ nước nào - vì ở đó lương hưởng gấp mấy lần ở ta?

Chấn dân khí ở đây chỉ là ví dụ nhỏ. Nó còn lớn lao và sâu sắc trong mọi hoạt động mà xuất phát không phải tự thân, còn đòi hỏi ở một hiến pháp và một nền giáo dục nặng về khai phong”'.

Vấn đề ông đặt ra quả đáng để chúng ta lưu ý và cũng đang là mối quan tâm của nhiều người. Nhiều người cho rằng, trong nghiên cứu học thuật, chính vì hay “cãi” nên ông luôn đưa ra những ý kiến khác người. Đúng thế, tạo nên sự độc đáo và bản lĩnh Nguyễn Văn Xuân chính là thời điểm ông công bố biên khảo giá trị Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc.

Qua công trình này ông quyết “cãi”: dịch giả Chinh phụ ngâm không phải Đoàn Thị Điểm mà chính là Phan Huy Ích. Luận cứ của ông đưa ra là bản dịch mà ông tìm được trong thư viện gia đình của một bà chúa ở xóm Âm Hồn ngoài Huế.

Từ chứng cứ này, vấn đề ai là dịch giả Chinh phụ ngâm một lần nữa đã tạo nên cuộc tranh luận dữ dội. Và đến nay đã ngã ngũ chưa? Câu hỏi này, khó có thể trả lời một cách dứt khoát, kể cả học giả Hoàng Xuân Hãn khi công bố Chinh phụ ngâm bị khảo.

Chưa hết. Chính từ những chuyến đi điền dã, ông thu thập được nhiều vốn quý để viết Khi những lưu dân trở lại, trong đó, ông đã đưa ra một nhận định hoàn toàn mới ở thời điểm đó và qua kiểm nghiệm của thực tế đến nay càng thấy đúng: ở miền Nam, văn học trình diễn rất quan trọng.

Ngoài Bắc, văn là để xem; trong Nam, văn là để nói. Thơ lục bát của Nguyễn Đình Chiểu là để nói. Người ta nói thơ Lục Vân Tiên, thơ Thông Tàm, thơ Mụ Đội, vè Chàng Lía...

Nói là phong cách lớn của văn học miền Nam góp vào văn học Việt Nam nói chung. Kết tinh của phong cách này là văn học trình diễn. Thật vậy, ở Trung Nam Bộ còn có câu ca dao:

Ai về Bình Định mà nghe
Nghe thơ chàng Lía, nghe vè Quảng Nam.

Do phong cách tiếp cận vấn đề đầy tài tử như tôi đã nêu trên, ở nhận định quan trọng này, ông đã đưa ra nhận xét thú vị và dân dã đời thường: Bánh chưng ngoài Bắc thích hợp với sự cố định, để nguyên một chỗ; bánh tét trong Nam là thứ thích hợp cho di chuyển, xách mang. Miền Bắc nền nã, cố định; miền Nam năng động và trẻ...

Cho đến lúc dù ở độ tuổi “cổ lai hy” nhưng thói quen đọc báo buổi sáng của Nguyễn Văn Xuân cũng không bỏ. Theo ông, đó là thói quen của thị dân luôn khao khát tiếp cận với thông tin mới. Lúc nhìn ông thong thả nhả khói thuốc lên nền trời xanh, ta có cảm tưởng đời sống gia đình của ông may mắn hơn người khác chăng?

Không phải đâu. Nếu trong sự nghiệp rạng rỡ, thành công bao nhiêu thì trong góc khuất cuộc sống gia đình của ông lại đầy đau thương, oan nghiệt bấy nhiêu. Những mảng sáng tối trong đời ông luôn đan xen lẫn lộn. Cái giá phải trả cho niềm say mê văn học và nghiên cứu văn hoá của ông không thể kể xiết: người bạn đời, ba đứa con của ông đều bị tâm thần và ông sống chung cho đến hết đời trong một căn nhà nghèo khó...

Với một hoàn cảnh không bình thường như thế nhưng ông vẫn yêu đời, vẫn sống và viết. Tôi nghĩ rằng, ông viết không chỉ để mưu sinh nuôi vợ con mà còn là một thú vui an nhiên tự tại giữa cuộc đời này. Và cứ thế, mỗi ngày ông lại viết, lại đưa ra những vấn đề hữu ích cho người đọc mà ông đã dày công nghiên cứu.

Suốt một đời người chỉ sống và viết về lịch sử địa phương của mình dưới nhiều dạng từ sáng tác đến biên khảo... bằng tất cả tâm huyết và lòng nhiệt thành yêu nước thì những đóng góp của ông không còn thu gọn trong một địa phương cụ thể nữa.

Nó còn hữu ích, còn đóng góp cho lịch sử nơi khác khi ta đặt những trang viết ấy trong một tổng thể chung. Không ai có thể bác bỏ quan niệm: lịch sử địa phương quan hệ mật thiết với lịch sử đất nước. Có lẽ, không lời tôn vinh nào xứng đáng hơn khi gọi ông là “nhà địa phương học”với đúng nghĩa cao quý của cụm từ này.

Ghi nhận đóng góp của ông, từ năm 2013 tại Đà Nẵng có con đường mang tên Nguyễn Văn Xuân, cùng đợt với các nhà văn Phan Khôi, Hoàng Châu Ký, Thu Bồn và Tế Hanh.

LÊ VĂN NGHỆ
Nguồn: Báo Đà Nẵng

“LAO VÀO MỌI DÒNG XOÁY… BIỂN ĐỜI”, PHAN HOÀNG “CHẤT VẤN THÓI QUEN”

Phan Hoàng đi vào mảnh đất thế sự, đó vừa là phong cách nhưng cũng vừa khẳng định bản lĩnh của anh. Thấy những gì trái mắt xung quanh ta nhưng chỉ ra và viết ra như thế đâu phải ai cũng có thể làm được. Cái chính là Phan Hoàng đã biến những giọt nước mắt của thế cuộc thành những giọt nước mắt của riêng mình.
Nhà thơ Phan Hoàng

Cuộc sống luôn mở ra nhiều bí ẩn. Tuy nhiên, có những thứ không còn là bí ẩn mà trở thành những thói quen thường nhật của con người. Nhất là, sự tê liệt về tình cảm giữa con người với con người. Con người chấp nhận những trớ trêu, những trò chơi vô lối của cuộc sống. Con người chấp nhận và thậm chí xem đó là sự hiện hữu thường tình. Những hệ lụy của thói vô tâm, vô cảm của con người trở thành cơn dư địa chấn trong tâm khảm nhiều nhà thơ. Và khi nhà thơ chuyển tải các vấn đề về nhân sinh, về đối nhân xử thế như thế, sức mạnh của thơ là vô biên. Thơ trở thành một thứ thuốc linh diệu để cải tạo, hoán đổi tâm thức của con người. Trong tập thơ “Chất vấn thói quen”(*), Phan Hoàng muốn vứt bỏ những thói quen tưởng chừng như đã hóa đá, đóng băng trong tâm thức của con người. Sự thờ ơ, đồng lõa ấy khiến Phan Hoàng bất bình "chất vấn thói quen". Theo anh, cần phải vươn mình về phía trước, cần vứt bỏ những thói quen cũ, những sự lặp lại chán chường để bùng cháy những vùng mỹ cảm mới, dâng đời những vị ngọt, mặn, chát, đắng... lạ. Đó là tương lai của cuộc sống và con đường đi tới của sáng tạo nghệ thuật. Đây chính là cách mã hóa cái mới, tìm đến những giá trị thẩm mỹ mới của tập thơ:

Đời người chỉ một gang tay
sao tự trói mình xích xiềng lê dài giá trị bia đá?

Làm sao bùng lên nhiều cơn hồng thuỷ
dâng sóng tín hiệu đỉnh khoái
cuốn phăng những kho văn bản mộng mị ngủ muộn
những kho văn bản ấu trĩ già cỗi
những kho văn bản hư danh giả dối
khủng bố dòng chảy tự do ngôn từ
ám sát khát khao chồi xanh ý tưởng
đe doạ cánh rừng nguyên sinh rực hương thiếu nữ căng tràn văn bản nhựa sống tương lai

                                                            (Văn bản dở dang)

"Chất vấn thói quen" ít kĩ xảo về mặt ngôn từ, nhưng không vì thế mà giảm đi chất lượng của tập thơ. Phan Hoàng sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật và có được những hiệu quả nhất định. Các dạng từ láy tượng hình, tượng thanh, từ láy thể hiện trạng thái, tình cảm được đan xen một cách tinh tế. Thực tế, việc sử dụng nhiều từ láy trong thơ tự do đôi khi gây phản ứng trái chiều, dễ mang cảm giác nhàm mòn, ấy vậy mà Phan Hoàng vẫn đưa vào một cách tự nhiên, không khiên cưỡng:

Thao thức từng cơn vượt cạn cùng tiếng sóng đêm nay
gió trải nghiệm an ủi vỗ về
bầu trời nhấp nha nhấp nháy sao đổi ngôi
dàn giao hưởng gà trống làng chài phiêu bồng hơn trước
tiếng oa oa con thơ cất lên
tôi biết mặt trời đang mọc trong ngôi nhà thân thuộc của mình

                   (Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc)
         
hoá con sáo sậu bước thấp bước cao bập bẹ nói cười… cậc cậc cậc
hoá con mèo mun tủng tẳng tùng tăng tung tẩy khắp vườn
hoá con cóc hiền triết bó gối im ỉm ìm im lắng nghe
trên những gò hoang hoàng hôn hoa dại khẽ hương
trong mỗi ngôi nhà nửa đêm chõng tre kẽo kà kẽo kẹt
mặt trời khát khao mỏi mắt căng mình
                                                                 rình
                                                            ngượng ngịu
                                                                  cười
                                                      toả năng lượng giới tính
                                                                bình minh

                                                (Thèm làm ngọn gió tự do)

Trong các ví dụ trên, kiểu láy đôi, láy ba, láy tư đều được sử dụng. Để linh hoạt cách sử dụng từ láy, Phan Hoàng tổ chức cặp láy đi kèm nhau, tăng hiệu ứng cho ý thơ, giai điệu thơ: "gió trải nghiệm an ủi vỗ về". Cặp láy này thiên về miêu tả tâm trạng, sắc thái biểu cảm của con người nhưng được dùng để nói về "gió". Ngôi nhà thân thuộc ấy, ngay cả gió cũng có thể cảm nhận được tình yêu thương, chia sẻ. Hoặc ở đoạn thơ "Thèm làm ngọn gió tự do", Phan Hoàng rất sáng tạo khi sử dụng liên tiếp các từ láy "tủng tẳng tùng tăng tung tẩy". Chỉ cần thay đổi thanh điệu, anh vừa tạo được từ láy 6 thành tố (láy tăng) cho riêng mình vừa thay thế được nhiều thuận lợi trong diễn đạt (không cần nhiều hình ảnh) động tác của chú mèo mun theo cấp độ tăng dần.

Tập thơ "Chất vấn thói quen" sử dụng nhiều cụm từ tách xen (một số sáng tạo, một số vận dụng thành ngữ 4 tiếng) như "lướt giông đội bão", "xuống chó lên voi", "phong tướng phong vương", "cắc bụp cắc đùng", "nửa nước nửa đất"... làm cho câu thơ giàu sắc thái biểu đạt hơn. Bên cạnh đó, nhà thơ còn khắc họa được những hình ảnh thơ đầy ấn tượng. Ví như khi viết về mẹ, hình ảnh "bàn chân trần rễ tre toé máu" đã trở thành biểu tượng của sự gian khổ, hi sinh thầm lặng của người mẹ Việt Nam. Câu thơ hay, đầy sức gợi và ám ảnh. Nếu cách vận dụng thủ pháp so sánh ngầm mang đến nhiều lợi thế cho hình ảnh thơ anh thì bên cạnh đó, thủ pháp so sánh kiểu A như B , A là B cũng góp phần bổ sung thêm cho sự tinh tế, sự biểu cảm của hình ảnh thơ và khẳng định được tính liên tưởng (so sánh lệch) khá tinh tế trong thơ Phan Hoàng: "những bí mật lóng lánh xót xa như nước mắt mẹ tôi lặng lẽ gầy", "tiếng khóc trẻ thơ thơm như tiếng chích choè tinh mơ mẹ lên rẫy", "những con chữ như chiến binh chuyển dịch văn bản thơ mãi mãi dở dang"... Cũng viết về mẹ, trong bài thơ "Níu lòng Sông Đáy", nhà thơ so sánh: "mẹ như cánh chim đêm/ mãi mãi hoá thân vào châu thổ". Yếu tố chuẩn (cánh chim đêm) không mới nhưng khi liên hệ với yếu tố được so sánh (mẹ) và sự vắt dòng của vế thứ hai lại tạo được thi ảnh sống động về sự tảo tần, bươn chải của mẹ. Như vậy, giá trị so sánh đã ít nhiều phát huy được hiệu quả cho ý thơ.

Các nhà thơ đau nỗi đau đời thường tự chất vấn mình, đối thoại với chính mình. Trong khoảnh khắc cô đơn, nhà thơ chiêm nghiệm, nâng ý thơ thành những triết luận về cuộc sống nhân sinh. Nhà thơ Phan Hoàng cũng sử dụng kiểu tự chất vấn, đối thoại với chính mình để thăng hoa tư tưởng thơ. Anh ngồi uống bóng mình mà ngẫm đến chiều dài thăng trầm của lịch sử, giới hạn của đời người và những sự thật trơ trọi, tê tái trên cõi đời. Anh kí thác nỗi niềm ấy bằng những con chữ trực diện, thẳng băng. Anh biết, nếu đánh bóng con chữ, PR chính mình, ngay tức khắc, tên tuổi sẽ "hot", nhưng hệ lụy của nó là sự nhanh chóng tàn lụi và sẽ bị vùi lấp: "những kho văn bản ấu trĩ già cỗi/ những kho văn bản hư danh giả dối" (Văn bản dở dang). Những con chữ lộc cộc găm vào cuộc sống, bật lên các góc cạnh của sự tỉa tót, ngụy trang, tuy không thu hút tức thời nhưng nó phản ánh chân thực và có sức bền. Ở kiểu thơ này, nhà thơ đã vượt qua được chính mình, đánh đổ những con chữ bóng bẩy, khẳng định dấu ấn của mình trên cái nền kí tự giàu chất thế sự: "Vượt lên đau đớn và thăng hoa/ tôi tự tại giấc mơ tôi/ mưa ban mai lặng lẽ gióng chuông gọi hồn tận thế/ những con chữ như chiến binh chuyển dịch văn bản thơ mãi mãi dở dang" (Văn bản dở dang). Nhờ vậy, Phan Hoàng “chất vấn thói quen” một cách tự nhiên, lật trái được nhiều vấn đề trong cuộc sống.

Thói quen lặp đi lặp lại đôi khi làm chết mòn sự sáng tạo của con người. Bởi thế, nếu chúng ta chỉ đứng yên và bằng lòng với những gì ta có, thì rốt cuộc, cuộc sống này chẳng có gì đáng giá. Thậm chí nó còn làm tê liệt sợi dây tình cảm giữa con người với con người. Nhà thơ viết về những thân phận, những kiếp người đang rên rỉ, đớn đau. Từ những em bé châu Phi, người dân Nhật Bản, Pakistan đến những cảnh đời trái ngang,... sự sống của họ đang bị thiêu hủy bởi những thảm họa của trái đất. Tất cả thảm họa đó đều do con người gây nên. Nhất là thảm họa băng hoại về nhân cách: chuyện tiến sĩ giấy, chuyện mua quan bán tước, chuyện thầy giáo quấy rối tình dục học sinh, chuyện quan tham ăn đất, chuyện những cô gái thôn nữ đánh đổi nhan sắc bằng những đồng đô la, chuyện lạm phát, chuyện hờ hững, lạnh nhạt giữa những láng giềng, chuyện những cây bút vô cảm… Thông qua những hình ảnh thơ đầy ám dụ, Phan Hoàng chỉ ra sự thờ ơ, lạnh lùng đang trở thành nếp sống, thói quen của rất nhiều người.

Trái đất không thể tự bảo vệ mình trước lỗ đen những nguy cơ
Bao em bé châu Phi chết đói chết khát chết đạn chết đen trên những ngả đường không ánh sáng
Bao cụ già Nhật Bản chìm trong sóng thần đen sạm phóng xạ hạt nhân
Bao người dân Pakistan như hòn than bở tung toé trong cơn khát máu giận dữ sau… Bin Laden
Cái chết đen treo lơ lửng cả trên đầu những tên khủng bố, độc tài trốn chạy như lũ chuột
Và con giết cha, vợ đốt chồng, thầy cưỡng bức trò, trò hại thầy cùng bao cái chết đen nhe răng rình rập hàm cá sấu
Tiếng khóc sơ sinh như bông hoa chớm nở cũng có nguy cơ chết đen trên bầu vú nhiễm độc sữa mẹ
Người nghèo chết đứng trước cơn bão giá leo thang tối tăm đen đúa mỗi bữa ăn

                                                                 (Cái chết đen & vũ khúc trắng)

Cuộc sống đang tuột dốc nhanh khủng khiếp. Cái má phanh để ghìm lại không thể ngăn cản được vòng quay của nó. Thảm họa đó kéo theo những con người mất hết tình người. Xem phim, chỉ một đoạn, một tiểu tiết mẹ bị gã mặt người đánh thôi nhưng cũng đủ để nhà thơ bức xúc và nêu ra những giá trị rởm của cuộc sống:

Đoạn phim buồn hơn cơn địa chấn
xô nghiêng những bảng vàng thành tích giáo dục hư danh
đóng băng những cái lưỡi robot giáo điều đạo đức giả
còn bao nhiêu gương mặt lẩn khuất tối tăm khuyết tật tâm hồn?

                                                (Về một đoạn phim buồn)

Những kẻ mang lốt văn hóa nhưng héo hon, èo uột, tê liệt tình người. Trước những lằn roi mà chúng gây nên cho bậc sinh thành, cơn uất ức của nhà thơ như dồn hết vào câu chữ:

Lại thêm những gã mặt người vung tay đánh đuổi mẹ
một lũ chó điên hùa nhau cắn xé thân thể
               đưa chúng chui ra và nuôi chúng trưởng thành

                                     (Bao giờ con lớn?)

Khi gia chủ giới thiệu về những giá trị của đồ gỗ được làm trong nhà, Phan Hoàng không mừng cho gia chủ mà ngược lại, anh miên man nghĩ đến những hậu quả của nó:

Ở đâu đó có cánh rừng già đang hấp hối
ở đâu đó có người kiểm lâm mới bị trả thù
ở đâu đó có ngọn núi trọc xói mòn vừa ngã sập
ở đâu đó có cơn lũ quét thất thanh tiếng thú tiếng người

                                                (Mắt gỗ)

Phan Hoàng đi vào mảnh đất thế sự, đó vừa là phong cách nhưng cũng vừa khẳng định bản lĩnh của anh. Thấy những gì trái mắt xung quanh ta nhưng chỉ ra và viết ra như thế đâu phải ai cũng có thể làm được. Cái chính là Phan Hoàng đã biến những giọt nước mắt của thế cuộc thành những giọt nước mắt của riêng mình. Có lúc, anh tự xem mình là "nhà thơ quèn", mà có được tấc lòng của "nhà thơ quèn" ấy thật quý biết bao. Phan Hoàng đi vào tận cùng nỗi đau của mẹ, của biết bao số phận trên trái đất này… nhưng với anh vẫn chưa đủ, bởi còn biết bao nhiêu nỗi đau mà nhà thơ không thể chạm tới được. Bởi lẽ, nỗi đau đớn bao trùm cả thể xác và tâm hồn, nó không bao giờ chấm dứt mà chuyển thể thành nhiều dạng, nhiều ẩn số:

và còn những nỗi đau mà ta không bao giờ chạm được
dưới tầng sâu cánh rừng thiêng ngập mặn
có bữa ăn cầm hơi chiến thuyền mang thơ mở cõi
có chỗ nằm nửa nước nửa đất ngư dân hò bả trạo khẩn hoang
có bình gốm nuôi đứa trẻ mãi mãi không chào đời

và còn những nỗi đau mà ta không bao giờ chạm được
nỗi đau đau đến lặng im

                                     (Cần Giờ lặng im)

Phan Hoàng đâu chỉ chất vấn thói quen của con người trước thế cuộc mà anh còn chất vấn cả những người cầm bút sáng tạo. Người sáng tạo không thể chấp thuận sự đơn điệu của cuộc sống như sự tự bằng lòng với những gì mà mình đã có. Bởi, con đường sáng tạo không bao giờ có giới hạn. Hơn nữa, cái tâm của người nghệ sĩ là yếu tố cần thiết để chuyển lửa vào trong tác phẩm của mình. Nghệ sĩ sáng tạo không thể đứng yên, chấp nhận những giáo điều cũ kỷ mà phải vươn về phía trước, sẵn sàng lao mình giữa những giông tố để kiếm tìm những vùng trời sáng tạo mới.

Chạy giữa gầm gừ dã thú đói khát hoả hoạn
chạy giữa ầm ào sóng thần vây bủa vũ khí hạt nhân
chạy giữa là đà văn bản mới viết đã cũ
chạy giữa nhập nhoạng mặt người mới mở mắt đã gian manh

                                                  (Bóng tối đang nuốt chúng ta)
          
Có những thói quen tốt nhưng cũng không ít những thói quen xấu. Cái cơ bản là chúng ta nhận ra được chân giá trị của nó để xoay chiều và hướng đến đích thánh thiện nhất có thể. Cuộc sống còn quá nhiều bất cập, nhiều vấn đề nhức nhối, xót đắng, cần phải có những tầm nhìn mới, những tấm lòng nhân ái để cuộc sống này mãi mãi xanh tươi, ươm mầm cho mọi thành công.

Có thể nói, "Chất vấn thói quen" không phô trương, mĩ từ. Tính chân thực, khách quan vẫn bao trùm cả tập thơ. Đó là "những câu thơ không phấn son ngạo nghễ chào đời". Đổi lại, tập thơ có sức mạnh về tư tưởng. Sức mạnh đó còn mạnh hơn khi Phan Hoàng đặt ra những câu hỏi về những vấn đề đang tồn tại, đang nổi cộm trong xã hội. Câu hỏi nóng bỏng gieo từ đầu bài thơ đến cuối bài thơ. Ở đây, Phan Hoàng không mượn thi ảnh để làm nền mà mượn cấu trúc nghi vấn để những vết nứt nẻ của cuộc sống tự phô ra hết thảy.

Tôi đang ở đâu mảnh vườn trĩu nặng lời ru của mẹ?
Tiếng hát nhép người đẹp cởi truồng đuổi mất cánh cò cánh vạc!

Tôi đang ở đâu dòng sông thẳm xanh tắm gội tuổi thơ?
Dòng sông bị bắn trọng thương bởi những viên đạn bọc đường lén lút!

Tôi đang ở đâu trái tim thôn nữ rụt rè bước khỏi cổng làng?
Trái tim lạc nhịp đánh vật xứ người trả lãi từng đồng đô la nhan sắc!

Tôi đang ở đâu trong lòng bạn bè xuống biển lên rừng?
Bè bạn chạy đua cơn khát sữa con thơ giữa phiên chợ đời lạm phát!

Tôi đang ở đâu phố phường lưu dấu tổ tiên mở đất dựng đình?
Láng giềng không nhớ nổi mặt nhau giữa siêu thị mặt người chen chúc!

Tôi đang ở đâu đất nước sinh từ hồn thiêng nghĩa sĩ vô danh?
Đất nước dãi dầu hạt gạo anh hùng, xảo quyệt đám rầy nâu chưa bị hành quyết!

Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Cây bút vô cảm trước thân phận dân nghèo, im lặng trước lãnh thổ đe doạ ngoại xâm, bất lực trước cái ác trá hình nhũng nhiễu!

Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Tôi đang ở đâu?
Ở đâu?

                               (Tôi đang ở đâu)

Tôi đang ở đâu? Đây là một câu hỏi nhức nhói thân phận. Bởi nó không chỉ có ý nghĩa bây giờ mà nó còn có ý nghĩa thời sự cho tương lai. Câu hỏi ấy xuất phát từ trái tim của người nghệ sĩ biết trăn trở, thao thức với những vấn đề nan giải, bức xúc của thế cuộc. Một câu hỏi không chỉ để lật lại vấn đề mà còn để chất vấn tất thảy chúng ta về sự sống, về tình cảm, lương tâm và trách nhiệm trước cuộc đời này:

Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi
tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen
không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?

                                                    (Chất vấn thói quen)

Đồng Hới, ngày 07.02.2012
HOÀNG THUỴ ANH

____________
(*). Phan Hoàng, Chất vấn thói quen, NXB Hội Nhà văn, 2012.

Nguồn: Văn Nghệ


Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

NỖI NHỚ VÀ THI CA

Từ trước đến nay, các nhà triết học, tư tưởng gia, khoa học gia đã có rất nhiều lời giải thích về những bước tiến vượt bậc của xã hội loài người, khi đi từ dã man mông muội lên tiến bộ văn minh. Những ý kiến đó, tựu trung lại, xoay quanh việc con người là động vật cao cấp nhất bởi có tư duy và sáng tạo. Nhưng theo tôi, để có được tư duy và sáng tạo, cần phải kể đến một nhân tố mang ý nghĩa tiền đề không thể thiếu, nhân tố này cũng có giá trị phổ niệm ở nhiều loài sinh vật, nhưng chỉ khi đặt vào.

1. Nỗi nhớ, theo tôi chính là giá trị tinh thần đầu tiên mà Tạo hóa đã ban cho các sinh linh. Nỗi nhớ giúp chúng ta có những nhận biết và kiến thức đầu tiên về thế giới, rồi tiếp tục tái hiện những nhận biết ấy, để trở thành hành trang mỗi ngày cho đời sống con người. Từ khi còn là một đứa trẻ lọt lòng, nỗi nhớ khiến ta phân biệt được những người lạ và người quen, nỗi nhớ tạo ra những mối dây liên kết thẳm sâu và thiêng liêng giữa đứa trẻ với mẹ cha, ông bà, anh chị em ruột thịt. Thế nên sau này, khi những người thân yêu lần lượt rời xa chúng ta về thế giới bên kia, thì trong tâm hồn chúng ta, bao bóng hình ấy đều trở về cùng nỗi nhớ: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa/Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương (Ca dao), Còn nhớ những ngày ấy, những đêm trường giá lạnh. Và cha nằm ôm con, sưởi ấm những canh dài (Tình cha – Ngọc Sơn). Càng lớn lên, thế giới tâm hồn càng phát triển và hoàn thiện thì dường như nỗi nhớ trong mỗi con người đều lớn hơn. Từ một đứa trẻ thành một thiếu niên rồi một thanh niên, người con ấy xa dần vòng tay của mẹ, và nỗi nhớ hiện về không chỉ là người thân mà còn là cả bóng hình quê hương với bao kỷ niệm ấu thơ. Nỗi nhớ quê hương ấy đã chảy từ bao áng thi ca cổ điển như Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, Tràng giang của Huy Cận… cho đến thi ca hiện đại sau này: Quê hương là chùm khế ngọt/Cho con trèo hái mỗi ngày/Quê hương là đường đi học/Con về rợp bướm vàng bay/Quê hương là con diều biếc/Tuổi thơ con thả trên đồng/Quê hương là con đò nhỏ/Êm đềm khua nước ven sông (Quê hương – Thơ: Đỗ Trung Quân, Nhạc: Giáp Văn Thạch). Tôi xa quê hương bao năm tháng qua. Nhưng trong trái tim không bao giờ xa. Lời mẹ ru con hiu hiu trưa hè. Mùa lụt nước lũ bắt cá giữa đồng (Quê hương tuổi thơ tôi – Từ Huy).

Mỗi con người từng gặp, mỗi vùng đất đã đi qua đều có thể trở thành nỗi nhớ: Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ/Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương/Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên). Và đâu chỉ có nhớ con người, nhớ không gian, nhớ thời gian, những con vật nuôi của chúng ta cũng trở thành nỗi nhớ: Tao chờ mày đã lâu/ Cơm phần mày để cửa/Sao không về hả chó?/Tao nhớ mày lắm đó/ Vàng ơi là Vàng ơi! (Sao không về Vàng ơi – Trần Đăng Khoa).

Đời sống văn hóa của người Việt còn không thể không nhắc tới hành động “nhớ ơn”. Từ trong ca dao, người xưa đã có lời khuyên răn: Ơn ai một tấc chớ quên/Nợ ai một tấc để bên dạ này. Một đứa trẻ từ nhỏ luôn được dạy bảo phải nhớ ơn ông bà cha mẹ, tiếp đến khi trở thành học sinh lại được giáo dục nhiều hơn về lòng nhớ ơn, chẳng hạn nhớ ơn những người đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhớ ơn những anh hùng liệt sĩ, đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại… Giản dị hơn, mỗi chúng ta đều được giáo dục phải nhớ ơn tất cả những người đã từng giúp đỡ mình trong cuộc đời, như Chế Lan Viên từng viết: Con nhớ mế lửa hồng soi tóc bạc/Năm con đau mế thức một mùa dài/Con với mế không phải hòn máu cắt/Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.

2. Về nỗi nhớ trong tình yêu đôi lứa, có lẽ đây là một trong những nỗi nhớ làm tốn nhiều giấy mực nhất của mọi dân tộc, mọi thời đại. Tất cả những câu chuyện tình trên cuộc đời này, dù hạnh phúc hay xót xa, dù gần gũi hay xa xôi, dù suôn sẻ hay trái ngang trắc trở, đều để lại trong lòng những người yêu nhau cảm xúc về nỗi nhớ. Ôi nỗi nhớ muôn hình vạn trạng, có nỗi nhớ rạo rực bồi hồi, có nỗi nhớ phấp phỏng da diết, có nỗi nhớ cồn cào cháy bỏng, có nỗi nhớ lặng lẽ âm thầm. Khi người con gái nhớ người con trai, hình như cũng có những nét thật riêng biệt. Từ trong ca dao, nỗi nhớ ấy đã thổn thức nghẹn ngào: Khăn thương nhớ ai/Khăn rơi xuống đất/Khăn thương nhớ ai/Khăn vắt lên vai/Đèn thương nhớ ai/Mà đèn không tắt/Mắt thương nhớ ai/Mà mắt không khô. Sang đến thơ hiện đại, nỗi nhớ của người con gái thẳm sâu, khắc khoải, bền bỉ thủy chung: Con sóng dưới lòng sâu/Con sóng trên mặt nước/Ôi con sóng nhớ bờ/Ngày đêm không ngủ được/Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ cũng thức (Sóng - Xuân Quỳnh). Nỗi nhớ của người con gái khiến cho ta mủi lòng rưng rưng bởi sự mong manh, cần được nương tựa và che chở: Em nhớ anh/ Như nhớ linh hồn mình/Một hôm nắng vàng bỏ chơi xa/ Để lại xác thân này ngơ ngác?/ Em kêu anh/Như tiếng con nai tác/Vọng qua triền đồi mơ... (Nhớ - Hàm Anh). Ngược với nỗi nhớ của người con gái, nỗi nhớ của người con trai thường được diễn tả như một bùng cháy dữ dội, một mãnh liệt thiêu đốt: Nhớ em như một vết thương/Trong lòng như vỡ mảnh gương trong lòng/Tay cầm cốc thủy tinh trong/Trong tay bóp nát máu ròng ròng sa (Xuân Diệu), Em xa quá bóng đêm thì vây bủa. Nỗi nhớ không chép được thành lời. Rồi sẽ cũ những vần kỷ niệm. Kéo anh về vẫn chỉ em thôi...(Lúc em xa – Hồng Thanh Quang). Nỗi nhớ trong ái tình, đôi khi được diễn tả một cách tha thiết và vô vọng hơn, bằng hai chữ tương tư: Quân tại Tương giang đầu/Thiếp tại Tương giang vĩ/Tương tư bất tương kiến/Đồng ẩm Tương giang thủy (Chàng thì ở tận đầu sông/Cô đơn mình thiếp cuối dòng chơi vơi/Nhớ thương chẳng thấy mặt người/Uống chung con nước trông vời Tương giang), Gió mưa là bệnh của giời/Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Khi đôi lứa đã thành vợ thành chồng, nỗi nhớ của tình yêu khi đó lại có thêm nhiều màu sắc. Có nỗi nhớ của vợ với chồng: Nhớ chàng như mảnh trăng đầy/Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm (Tự quân chi xuất hĩ – Trương Cửu Linh, Ngô Tất Tố dịch). Có nỗi nhớ của chồng với vợ: Tôi nhớ vợ tôi lắm/Xin anh về hai ngày/Nhà tôi ở Mường Lay/Cuối con sông Nậm Rốm/Ngày kia tôi sẽ đến/Lại cầm súng được ngay/Tôi sẽ bắn đúng Tây/Vì tay có hơi vợ (Nhớ vợ - Cầm Vĩnh Ui).

3. Đứng về mặt thi pháp, những diễn tả về nỗi nhớ trong các thời kỳ văn học sử cũng mang nhiều sự khác biệt đáng kể. Ta hãy thử xem xét một trường hợp trong ca từ Việt. Cùng thể hiện nỗi nhớ người yêu, nhạc sĩ Thẩm Oánh trước 1945 viết: “Nhớ nhung nhớ nhung ngợp trời. Buồn vương khắp nơi. Gió trăng lạc lối. Nhớ nhung se sắt lòng quá. Phía tây mây mờ. Sầu lắng trong mơ. Bóng dáng mây huyền lướt như tóc ai, tha thướt buông phương trời, hầu lôi cuốn tim ta rối bời. Đây nét mặt trong trăng âu yếm như mỉm cười cùng thế nhân sầu đầy vơi. Nhớ nhung nhớ nhung ngợp trời. Tìm đâu bóng ai cho tâm hồn say. Ngoài xa, mây nhớ trăng lững lờ lần trôi. Vườn tà huy chờ gió luyến than chiều rơi. Bóng dáng tơ đào phai phương trời xa xôi. Ai nhớ ai chăng là? Nào ai ai nhớ thương ai? Chập chùng mờ non tây đón thăm chim xa về đây. Mịt mù quá mây đầy. Ai nhớ ai chăng là? Nào ai ai nhớ hình ai? Hỏi ai ai nhớ ai chăng là? Nào ai nhớ thương ai?” (Nhớ nhung, rút từ Nửa thế kỷ tình ca, tập 1, NXB Trẻ 1996).

Gần nửa thế kỷ sau, cũng diễn tả về nỗi nhớ trong tình yêu, nhạc sĩ Phú Quang có cách thể hiện ngôn ngữ hoàn toàn khác: “Nỗi nhớ dâng đầy trong anh. Gương mặt em, nụ cười em, vòm ngực trắng. Tưởng như máu trong tim ngưng đọng. Nỗi nhớ dâng đầy dâng đầy. Ôi, chẳng có dòng sông mặt biển nào ngăn cách, mà sao em không thể đến bên anh. Để nỗi nhớ như con thuyền vượt sóng, đến bến bờ chỉ là giấc mơ. Căn phòng đêm nay câm lặng, sao như lửa cháy bốn bề. Em ùa chạy như lá khô gió cuốn, miên man trong nỗi đớn đau. Mà không thể ra ngoài nỗi nhớ. Không thể ra ngoài nỗi nhớ đâu anh (Tuyển chọn ca khúc Phú Quang – NXB Âm nhạc, HN, 1995).

Nếu như trong Nhớ nhung của Thẩm Oánh, ta bắt gặp một hệ thống ngôn ngữ mang tính chất cổ điển đầy ước lệ thì ở ca khúc của Phú Quang, cách diễn đạt đã hoàn toàn thay đổi. Những cách diễn đạt như: nhớ ngợp trời, sầu lắng, dáng mây huyền, vườn tà huy, gió luyến, chiều rơi, bóng dáng tơ đào, non tây đón thăm chim xa có thể nói ngày nay đã không còn thấy sử dụng nữa và bị xem là rất cũ. Dĩ nhiên vào thời kỳ ấy, những cách diễn đạt này vẫn có thể là những “ngữ thời thượng”. Cho đến phần ca từ trong ca khúc của Phú Quang, nhiều hình ảnh, biểu tượng và cách diễn đạt mới mẻ đã xuất hiện để khắc họa sâu sắc tâm lý tình cảm của nhân vật, từ căn phòng câm lặng, gió khô lá cuốn, không thể ra ngoài nỗi nhớ… Người nghe cảm nhận được nỗi nhớ như có hình hài cụ thể, lúc thì da diết đê mê, lúc lại cồn cào cháy bỏng, với nhiều kết hợp táo bạo mà trong ngôn ngữ ca từ của âm nhạc lãng mạn trước 1945 khó lòng có được.

Bàn về nỗi nhớ mãi mãi là không đủ, bởi như thi sĩ Nguyễn Bính đã từng thốt lên: Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ/Em thử quay xem được mấy vòng?/Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ/Em thử lào xem được mấy thưng? Một nhà thơ trẻ gần đây là Huyền Thư cũng viết: Nhớ rất nhiều là nhớ được bao nhiêu? Có những nỗi nhớ siêu hình không bút mực nào tả nổi, như khi ta đang ở một nơi mà lại nhớ chính về nơi đó: Chiều nay có một người du khách/Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên (Nguyễn Bính). Có nỗi nhớ như trong Kinh Thánh viết: “Tôi phải nhớ: Tôi phải chết!”. Thế nhưng đồng hành cùng nỗi nhớ, con người ta còn cần học cách để Quên. Đó là điều mà chúng tôi sẽ bàn tiếp trong một bài viết khác...­

ĐỖ ANH VŨ
Nguồn: Tinh hoa Việt


Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

SƠN NAM VỚI ĐÔI MẮT NHÀ VĂN

Ông Sơn Nam tính rất lãng mạn, biết đâu đây là mối tình già của ông lập tức tôi nghĩ ngay cái tàn cây trứng cá, người đàn bà giá chồng bán bánh tằm kia là địa chỉ  kia, thế nào ông ghé qua nhiều lần nữa…
Nhà văn Sơn Nam

Cuộc sống với nhiều hình ảnh nhiều chi tiết người cần phải tập quan sát để đưa ra kết luận chính xác không sai. Nhất là cái nhìn sống lại với thời gian hai chiều như ít người có được cái nhìn nhạy bén này.

Truyện Miếng da lừa của H. Banzăc, nhân vật Zađich với óc phán đoán như thần đã làm cho bạn đọc phải ngẩn ngơ. Nhà vua mất một con ngựa sai lính đi tìm. Zađich không thấy nhưng lại biết con ngựa ấy thọt chân và mất một cái răng. Đúng là kẻ gian, lính dẫn Zađich lên gặp nhà vua. Zađich thong thả nói mình buổi sáng ra đường gặp dấu chân ngựa, ba dấu thì sâu, một dấu nông. Rõ ràng đó là con ngựa thọt chân. Nó vừa đi vừa ăn theo ven đường đám cỏ so le đọt dài đọt ngắn đúng là con ngựa sún răng. Nhà vua và cả triều đình phải phục lăn, để thử thêm tài nghệ của Zađich, vua sai cung nữ bưng ra một cái tráp đậy nắp hỏi đó là món gì đựng bên trong. Zađich cầm cái tráp lên rồi để xuống trả lời nhanh lẹ là trái lựu. Ai nấy tròn xoe đôi mắt hỏi thêm lựu chín hay sống. Zađich trả lời lựu già gần chín rồi giải nghĩa. Khi cầm tráp lên để hơi nghiêng vật lăn theo có nghĩa là nó tròn và tiếng lăn cho biết đó là trái cây chớ không phải là vật nào khác. Xung quanh cung điện trồng rất nhiều lựu nên đoán là trái lựu. Mùa thu lựu chín, bây giờ mới nửa mùa hạ thì đó là trái lựu già. Chắc là Banzăc đã từng gặp ở ngoài đời một người nhạy bén như vậy nên ông dựa theo hư cấu ra Zađích. Bây giờ tôi xin kể lại chuyện của nhà văn Sơn Nam trí phán đoán không thua gì Zađich.

Vào những năm của thập niên 80 thế kỷ trước, Tiền Giang có cuộc hội thảo văn học. Buổi trưa tôi tranh thủ đi dạo phố xá Mỹ Tho tình cờ gặp ông Sơn Nam cũng đang lang thang. Thật là thú vị được đi với ông, vừa đi ông vừa nói được nghe sơ qua về lịch sử của thành phố Mỹ Tho. Đến một dãy phố mở cửa mua bán nhưng riêng có một căn phố cũ kỹ cửa sắt lại khép để he hé. Ông đứng lại nhìn giây lát rồi nói ngày xưa đây là tiệm cầm đồ. Làm sao chú biết, bộ chú từng đi ngang qua đây. Tôi ngạc nhiên khi ông trả lời mới lần đầu. Và ông như muốn dạy cho anh bạn trẻ muốn biết văn hay hãy tập quan sát. Sơn Nam kêu tôi nhìn cho kỹ ra thong thả kết luận. Trước hết trong nhà ở treo ba cái đồng hồ quả lắc. Hai bộ bàn ghế xưa bằng gỗ quý nhưng bàn đi theo bàn ghế đi theo ghế không trùng bộ. Trên vách còn treo ấy tấm liển cẩn ốc xa cừ. Chứng tỏ nhà này là tay sưu tầm đồ cổ nhưng vì thấy trong tủ có ít chén kiểu và cây cân tiểu ly, chứng tỏ ngày xưa đây là tiệm cầm đồ đủ các món, cầm cả vàng. Những gì nhìn thấy trong nhà là các món người không chuộc còn để lại. Tôi chưa vội tin, tình cờ một người từ trong nhà đi ra. Hỏi thăm quả nhiên, thời Mỹ Tho còn xe lửa chạy lên Sài Gòn, đây là tiệm cầm đồ của ông Nội chủ nhà, bị ăn cướp đánh rồi nghỉ luôn đến nay. Qua một con đường khác, đến một căn phố cũng xưa trước cửa có cây trứng cá xòe tán mát rượi, bên dưới có bày hai cái bàn bán bánh tằm. Người đàn bà đứng tuổi nhưng da mặt trắng mịn, quần áo tươm tất sạch sẽ, bàn ghế chén đũa cũng sạch, có khăn trắng đậy lên thau bánh ban đầu tôi chỉ nhận xét sơ qua như vậy riêng Sơn Nam như là một phát hiện:

- Nước cốt dừa bồng con như lâu quá mới gặp đó chú mầy. Thường thường dừa mắc người ta pha thêm bột bán mới có lời. Lâu lắm mới gặp được nước cốt dừa bồng con đó chú mầy.

Ông Sơn Nam kêu lên đi qua rồi đứng lại, dường như mọi thứ không qua được đôi mắt nhận xét tin tường của ông. Chị nầy điềm đạm ung dung chắc chắn không phải dân mua bán. Lớn tuổi con cái đi vắng không chuyện gì làm bày ra mua bán cho vui. Sao chú biết. Tôi hỏi vặn. Chú mày có nhìn thấy cái vòng cẩm thạch đeo trên tay không, đồ xưa đó. Nhà nghèo có nó người ta bán để làm vốn chớ không ai đeo. Chị nầy lấy mua bán  cho vui nên bánh tằm này ngon. Ông kết luận chắc nịch rồi nắm tay tôi trở lại. Quả nhiên bánh tằm se bột rất mềm, xíu mại, bì trộn thịt nhiều, nước cốt dừa bồng con rất ngon, giá lại rất là rẻ. Cô bán như vậy sao có lời. Sơn Nam khơi chuyện. Người đàn bà cũng vui vẻ cho biết mình ở không chẳng biết làm gì nên bày ra mua bán cho vui chớ lời lớm gì. Rồi không ai đánh chị tự khai, chồng của mình là thầu khoán chết đã lâu, con cái làm việc trên Sài Gòn. Nhà có miếng vườn ở quê, dừa khô ăn không hết nên bày ra buổi bán bành tằm, buổi khác bán bánh ích trần, bánh chuối cho vui…

Tới đây coi như hết chuyện của nhà văn Sơn Nam với óc phán đoán nhạy bén không thua gì Zađich. Xin được nói thêm nhà văn và thiếu phụ bán bánh tằm se bỗng dưng như hai người bạn thân lâu ngày gặp lại nhau. Tôi ngồi ở giữa nghe rất là thích thú hai người trao đổi đủ thứ chuyện rất là tâm đầu ý hiệp, từ chuyện các món bánh trái cổ truyền như bánh thuẩn, bánh bò bà lai đã biến mất. Đến chuyện ăn mặc hát hò của đất Mỹ Tho xưa kia. Lúc ra về nhà văn Sơn Nam nháy nháy đôi mắt. Ngày mai chú mày về, chớ tao ở lại. Tôi tưởng là ông nói đùa nhưng sau đó biết được ông đã ở lại Tiền Giang thêm hai ngày. Ông Sơn Nam tính rất lãng mạn, biết đâu đây là mối tình già của ông lập tức tôi nghĩ ngay cái tàn cây trứng cá, người đàn bà giá chồng bán bánh tằm kia là địa chỉ  kia, thế nào ông ghé qua nhiều lần nữa.

Tôi không biết và cũng không dám tò mò hỏi chỉ làm thầy bói đoán mò nhưng tôi lại nảy ra một cái truyện ngắn nhan đề “Duyện nợ bánh tằm se hoặc là nhà văn và cô gái bán bánh”. Viết xong đọc đi đọc lại thấy truyện thiếu muối không được hồn nhiên, lạc quan nồng nàn yêu đời như tính cách của Sơn Nam nên đành xếp để đó… kể ra truyện này trước nghe chơi.

 NGÔ KHẮC TÀI
Nguồn: VĂN NGHỆ 2017

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU