Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2018

ĐÀO AN DUYÊN LÀ: CÁI NGÀY THÔI NHỚ BẰNG: NHỮNG NGÀY ĐÃ QUA

Lâu rồi mới trở lại Tây Nguyên và cũng từ lâu tôi chưa được đọc thơ của những người sáng tác trên phố núi. Lần này, quả thật may mắn khi gặp Đào An Duyên, cô giáo trên đất Gia Lai tặng tôi tập thơ “Ngày đã qua”của chị. Tập thơ đằm thắm và rất duyên như chính cái tên của tác giả nơi núi rừng Tây Nguyên hùng vỹ mà không kém phần mơ mộng,đôi lúc không bình yên này.

“Ngày đã qua”của người viết trẻ, nhà thơ Đào An Duyên thực sư lôi cuốn tôi bởi những bài thơ trong xanh man mát hương rừng, bạt ngàn gió núi, có lúc lại thổi bốc lên như cơn lốc cuồng nhiệt của tình yêu, rồi lắng xuống như nốt trầm của bản nhạc không lời, rọi vào nỗi đau của chia li. “Ngày đã qua” để lại ấn tượng đẹp mà lãng mạn tình tứ, khúc chiết với tấm chân tình. Đào An Duyên đã gửi vào “Ngày đã qua”những ký ức một thời lãng mạn, một thời nông nổi, những buồn vui rong ruổi trên suốt chặng hành trình. Chị rời xa làng quê “Thái Bình tự bao giờ,” để đi về phía bóng cây Kơnia, tìm bóng ngả che ngực em mà lôi cuốn người đọc thao thức trước những bài thơ như thay lời muốn nói. Ta hãy đến với Đào An Duyên qua những bài thơ trong tác phẩm “Ngày đã qua” của chị.
 Nhà thơ trẻ Đào An Duyên tại Ngày Thơ VN 2017 ở Pleiku, Gia Lai

Ta đem thơ thả về trời
Thinh không vọng lại một lời trong xanh.

                                 (Độc hành)
               
Trong cái khoảng mênh mông ấy, có một kẻ độc hành phiêu lãng với nửa niềm vui:

Nửa niềm vui cũng sum vầy
Nửa hạnh phúc đủ lấp đầy tim đau
Chợ đời họp chốn mai sau
Buồn vui gửi lại nơi nào nhân gian

                           (Chợ đời)
    
Chị làm thơ cho ai, hay cho mình mà như có điều gì phảng phất một cuộc chia li hình như được báo trước. Nửa niềm vui, nửa hạnh phúc, một phần buồn vui gửi lại chợ đời, chẳng bán, chẳng mua. Và rồi lại hát ru giữa bầu trời hiu hắt,với nỗi buồn lành lạnh bởi từ yêu mà chỉ có nửa vần thôi:

À ơi… ru những mong chờ
Cớ sao con nhện giăng tơ giữa chiều
Lời buồn nhói nửa vần yêu
Rồi thả giữa một phương hiu hắt người

                                  (Ru mùa)

Thơ Đào An Duyên viết trong thời gian“Ngày đã qua” là tự khúc ru mình, cả tháng ngày sinh nhật, đọc thơ chị ta thấy cái thân phận phụ nữ mong manh kể cả trong ngày thu trong xanh, sớt qua chút lạnh, cho ai đó có ngày nuối tiếc:

Cây bàng cuối phố câm lặng
Trút những chiếc cuối cùng
Lá tặng em
Ngày sinh tháng chín

            (Cho ngày sinh)
   
Và rồi:

Người về nhặt lấy ăn năn
Mùa thu cũ mãi xa xăm cuối trời

                                 (Mùa xưa)

Khi Đào An Duyên viết về mẹ, mẹ lắng sâu một hồn quê thân thương diệu vợi, một thân phận đơn côi, một góc vườn tuổi thơ như con ốc, con cua trên cánh đồng năm tháng:

Con ốc nhỏ cuộn vào lòng xa vắng
Tuổi thơ con chân nứt nẻ rạ rơm
Cay xót mắt giọt mồ hôi tháng sáu
Mẹ ở đồng về mùi cơm mới dẻo thơm
...
Và: Trước sông mẹ chiều nay con gặp lại
Chợt xót lòng thương mùa hạ mồ côi

                       (Trở về dòng sông mẹ)

Và rồi mùa đông về, cái lạnh tái tê khi qua hình ảnh mẹ của nhà thơ cũng phải ấm nồng bởi mẹ là người nhen lửa:

Mùa đông mẹ ngồi nhóm lửa
Mắt con cay một triền sông
Mùa này rực vàng hoa cải
Mong manh sợi khói đốt đồng

Rồi:

Mùa đông con về bên mẹ
Nhóm lên kí ức thơm nồng

            (Mùa đông bên mẹ)
               
Những câu thơ trong hai bài thơ “Trở về dòng sông mẹ”và “Mùa đông bên mẹ” đã khắc họa một tấm chân tình, một hình ảnh người mẹ Việt Nam suốt đời tần tảo vì con, dù có buốt lạnh đến đâu, buồn đau đến đâu, khổ hạnh như thế nào khi ta về bên mẹ, như mẹ ngồi nhóm lửa, như ký ức thơm nồng. Ở cái làng quê xưa ấy, chất chứa nhiều kỷ niệm tuổi thơ, chị mang theo thời xa vắng ấy vào với Tây Nguyên, nơi những con đường phố núi ôm ấp nhiều hoài bão, ước mơ trên những bạt ngàn dã quỳ rực vàng như thế, dẫu đêm đã tắt mặt trời. Phố núi mờ sương huyền ảo, nhà thơ viết về vùng “Đất nước đứng lên” với một tình yêu lãng mạn như gió ưỡn ngực trần dốc đứng, đậm chất Gia Lai.

Pleiku đêm rất lạ
Phăm phăm gió ưỡn ngực trần dốc đứng

Để rồi:

Mắt em Biển Hồ thăm thẳm
Thênh thang mời gọi khôn cùng

                         (Về Pleiku)
               
Tất cả cái ngực trần dốc đứng ấy ta hình dung ra một thiếu nữ Tây Nguyên quyến rũ biết nhường nào, họ đi về phía tình yêu mãnh liệt, tha thiết đầy rung cảm, chấp nhận tất cả để yêu. Nhà thơ nhớ đến cái ngày đã qua của một lần Hà Nội, cái ngày đã qua của phố nhỏ riêng em và cái ngày đã qua của lúc chia xa trong đêm Hà Nội. Có những điều không bỏ đường cũng ngọt, câu thơ sóng sánh, sâu sắc ẩn chứa bao điều rung cảm, khiến cho người đọc phải tự liên hệ đến lời yêu thương, những nụ hôn tuyệt tác và ngọt lịm đến lạ thường, chỉ có trong hương vị của tình yêu:

Đêm Hà Nội lặng im trong xanh
Có những điều không bỏ đường cũng ngọt
Em xa rồi anh làm sao biết được
Mưa đưa em về phố nhỏ riêng em
               
                        (Phố nhỏ riêng em)

Cái phố nhỏ ấy không phải là phố nữa, mưa đấy nhưng đâu phải là mưa thật.Phố là em và mưa của nhà thơ như vậy,Nhà thơ đã lượng hóa hình tượng trong cuộc chia tay có một điều gì Hà Nội. Phải nói rằng,Đào An Duyên với thơ tình nó như một liều thuốc an thần vỗ về cho con tim bớt đi thổn thức, bớt đi cái dùng dằng, lắng sâu vào giấc chiêm bao, cho nên thơ tình của chị đằm thắm, không hờn giận và xem như một món nợ đời, bởi tình yêu là duyên nợ, âu cũng là số phận...

Em lỡ một chuyến đò ngang
Tiễn người yêu mình cập bến
Duyên mình em đành lỗi hẹn
Ký vào tim khất nợ tình...

              (Khất nợ tình)
               

Chính cái duyên nợ ấy mà thơ tình Đào An Duyên lạc quan tình tứ, dù những ngày qua đâu phải mặt trời của em và ánh trăng rằm đẹp đẽ. Chính sự lạc quan yêu đời ấy, nên mới có một Đào An Duyên viết thơ tình đầy cảm xúc lắng sâu, không ngoa ngữ và nhất là không ủy mị. Một cây viết nữ chấp nhận phần đơn lẻ về mình, bởi nhân văn của người cầm bút ở trong cái tâm thi ca của chị. Những khổ thơ dưới đây đã khẳng định sự lạc quan yêu đời ấy, bởi ở đời có biết bao thế hệ học sinh lớn lên luôn dõi theo người đưa đò qua bến xưa. Chị có nhiều bè bạn thấu hiểu, cùng sẻ chia cảm xúc, nỗi niềm buồn vui cùng chị.

Mai em về thành phố sương mờ
Lời hát gửi anh quyện mây giăng núi
Ngàn lời em chưa kịp nói
Hạnh phúc trên tay mười ngón thần tiên

Và:

Đỉnh núi ngàn năm mây trắng lững lờ
Ngọn đèn trong em sáng như chưa bao giờ sáng thế
Không phải ánh hào quang nơi thành phố
Mà ánh sáng thắp lên từ đỉnh núi mây mờ

                                (Phía đỉnh mây mù)

Xin tạm dừng ở đây với đôi lời cảm nhận về một tập thơ hay của một người viết trẻ. Trong cái thời buổi người ta say sưa tìm kiếm tiền bạc, có ít người để ý đến những giá trị nhân văn và có mấy ai dành thời gian đọc hết cả tập thơ. Thế nhưng vẫn có những phụ nữ yêu thơ, làm thơ, điều ấy đã gieo vào tôi cái cảm xúc lạ lùng, bâng khuâng khi đọc thơ Đào An Duyên như vậy. Đây là tập thơ đầu tay nhưng Đào An Duyên với lối viết chắc tay, với ngôn ngữ hình ảnh đa sắc thái, tạo nên sự lắng đọng, in vào tâm khảm người đọc dễ nhớ, dễ nghe, dễ đồng điệu qua cái tâm của nhà giáo dạy văn học. Xin trích những vần thơ của Đào An Duyên thay lời kết cho bài viết này:

Ngày tôi đã yêu anh
Là cái ngày còn mãi
Sỏi cũng buồn khắc khoải
Tự mình lăn vào nhau

             (Ngày đã qua)

Để rồi:

Câu hát cũ lạc đường không tìm thấy
Giấc mơ xưa mây trắng thiên thần
Con sóc nhỏ mắt xoe tròn ngơ ngác
Giữa đồng chiều lặng lẽ nhặt mùa xưa

                     (Mây trắng mùa xưa)                               

Ngày đã qua khép lại rồi. Thời gian đã trôi vào dĩ vãng. Tôi tin rằng ngày mới đang bắt đầu từ ngày hôm nay với Đào An Duyên, thơ chị sẽ có nhiều biến đổi với niềm vui đang chờ phía trước. Âu cũng “là cái ngày thôi nhớ”. Bằng “những ngày đã qua”...
                                 
          Gia Lai - TP Hồ Chí Minh những ngày cuối năm 2016
NGUYỄN VŨ QUỲNH

Nguồn: NVTPHCM

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018

NHÂN ĐỌC TRƯỜNG CA CỦA PHẠM CÔNG TRỨ

Nhân một hôm rỗi rãi, nghĩ đến hắn, đến thằng Trứ thân tình của mình, tôi dò vào mạng tìm chơi thì sau Lời thề cỏ may… hiện ra trường ca Phạm Công Trứ: Làng phố giao duyên. Tôi đọc say sưa và cũng bất ngờ về tính chất và quy mô của nó, một trường ca nếu in ra đến cả trăm trang với đủ các thể loại thơ…
Nhà thơ Phạm Công Trứ

Tôi và hắn đã chơi với nhau gần 40 năm, thời gian khá dài và trải qua đầy đủ thăng trầm của cuộc sống. Chúng tôi gặp nhau ở chiến trường B, nhập ngũ ở 2 đơn vị khác nhau nhưng khi vào chiến trường lại cùng một đơn vị. Khi đó tôi là sinh viên xịn (nhập ngũ từ trường đại học) còn hắn là “sinh viên rởm” (mới có giấy gọi nhập trường), nhưng cách đây gần 40 năm mà lại ở chiến trường thì như thế đã được gọi là trí thức thực thụ rồi. Vì là trí thức nên tuy không qua đào tạo gì tôi vẫn được phân là cán bộ kỹ thuật của đại đội cầu dã chiến thuộc đơn vị công binh Đoàn 559, còn hắn vẫn là một anh lính như bao người lính trong chiến tranh phải lăn lộn với những công việc nặng nhọc, nguy hiểm tại chiến trường thì kể cũng tội cho hắn. Nhưng chiến tranh mà, âu cũng là số hắn.

Những lúc rỗi rãi hay sau bữa cơm chiều chúng tôi thường gặp nhau, địa điểm lý tưởng nhất là bên bờ sông Dakrong, nơi có những tảng đá lớn nhẵn nhụi có thể vừa làm ghế vừa làm giường. Thôi thì đủ thứ chuyện, hắn vốn lì xì ít nói nhưng khi đã vào mạch vào luồng thì hắn cũng nói hết cả phần người khác. Dù hơn mấy tuổi nhưng hắn chỉ gọi tôi là bác hoặc gọi “người” và xưng tên, cái từ người trong văn viết thì có khác nhau: viết thường theo cách gọi thân mật và viết hoa trong cách gọi kính trọng, nhưng trong văn nói chỉ là một, theo cách hiểu của tôi thì hắn gọi theo nghĩa viết thường là chính, chủ yếu là đùa bỡn và khích nhau.

Bản tính hắn là thế, thích đùa, châm chọc người khác và châm chọc cả chính mình, hắn tự phác hoạ chân tướng (Dáng đi có lỗi với đời/ Cái đầu cúi xuống thay lời chào duyên) và (Quần áo cực lôi thôi/ Giọng lưỡi hơi chất chưởng). Từ khi còn trong quân ngũ đến mãi sau này, mỗi lần gặp nhau, hắn lại lấy lời anh Giáo Thứ (trong Sống Mòn của Nam Cao) để tự giễu mình: Đời hắn nghèo, hắn khổ. Hắn như con ngựa gầy kéo xe lên dốc, vừa qua cái dốc này lại thấy dốc khác cao hơn. Rồi bạn bè y sẽ khinh y, vợ con y cũng khinh y và chính y lại càng khinh y hơn. Y chết mà chưa sống, chết ngay trong sự sống…) rồi hắn cười khềnh khệch. Có lẽ quả thế thật, tuy chẳng phải là trưởng, không khoẻ mạnh tài ba tháo vát nhưng hắn vẫn là trụ cột, phải gồng gánh giang sơn gia đình về cả mặt vật chất lẫn tinh thần bằng thân hình gầy còm ấy.

Hắn là con người yếm khí, luôn ca cẩm buồn phiền và luôn miệng kêu ốm đau, mệt mỏi. Theo hắn thì hắn bị đủ mọi thứ bệnh từ gầm gan đến lá lách. Có lần bực tôi bảo: Mấy chục năm rồi lúc nào cùng thấy kêu ốm đau, bệnh tật mà chưa chết vẫn cứ sống nhăn răng ra đấy thôi - thì hắn lại xua tay: bác không biết, không hiểu đấy thôi chứ có sướng như bác đâu (ý hắn nói là về sức khoẻ). Gần đây hắn kêu ngứa, dị ứng sưng xỉa hết cả mặt mày, khổ lắm: thuốc đông, tây, nam, bắc uống hết mà không khỏi. Tôi động viên: bệnh ấy như viên sỏi chui trong giày, rất bực bội khó chịu nhưng không làm chết người đâu mà sợ. Hắn lại xua tay ra điều bác không thông cảm.

Hắn kêu khổ nhiều nhưng không phải là không có sướng. Ấy là khi hắn thăng hoa, Tễu cũng đi tây (Ai ngờ dân dã lên ngôi/ Thế rồi Tễu cũng được ngồi máy bay). Hắn sang Liên Xô (cũ) nghiên cứu sinh về Luật. Khi đó tôi cũng đang nghiên cứu tại Đông Đức, chúng tôi thường thư từ cho nhau, hò hẹn sang thăm nhau nhưng cũng chỉ dừng lại ở hò hẹn. Thời đó, sau tập thơ “Lời thề cỏ may (I)” thì hắn đã có tiếng, đã có thương hiệu trên văn đàn nên ở Kiev, Ucraina, hắn cũng hay viết thơ gửi tạp chí Quê Hương của Đại sứ quán ta ở Matxcơva và gửi cho tôi. Hắn viết về nước Nga thời tan rã mà não ruột (Một đời đắp đắp, xây xây/ Đến khi phá bỏ nửa ngày là xong/ Nhìn Nam Bắc, hỏi Tây Đông/ Bây giờ có đáng buồn không... bây giờ). Hắn kêu, hắn khóc cho Liên Xô tan rã. Hắn viết về người Việt sinh sống tại đây (Chiều nay tuyết xuống bông to/ Trẻ con bốc tuyết bày trò ném nhau/ Có người mẹ trẻ Á châu/ Ngồi sau cửa kính, thầm lau mắt mình). Sau này về Việt Nam, gặp một người đã sống ở nước Nga cùng thời với hắn nói rằng: chúng em rất thích thơ anh Trứ, cuối tuần là chờ mua tạp chí để đọc thơ anh ấy.

Trong trường ca hắn có nhắc đến những mối tình thời con trẻ của hắn. Tôi cho rằng đó chỉ là trong thơ và hắn cũng tự đề cao, đánh bóng mình thôi, như là: Làng này khối đứa phải lòng mình đây (Nguyễn Bính). Còn thực tế hắn có 2 mối tình. Mối tình trong Lời thề cỏ may, hắn không nói cụ thể nhưng thời còn yêu nhau hắn đã kể tôi nghe, về cô hàng xóm, nhưng chỉ là đoạn kết, đoạn chia tay, đoạn ngồi gỡ lời thề cỏ may. Bây giờ  nhắc lại hắn cũng thấy tiếc, không biết có tiếc thật hay theo kiểu: con cá mất là con cá to.

Đến khi đã thành ông giáo danh tiếng của một trường đại học, hắn đem lòng yêu một cô sinh viên. Bản chất nhút nhát, tuy yêu học sinh nhưng hắn cũng không dám tỏ tình, hắn có quà ngày 8-3 nhưng rồi: Cứ giờ chơi, mang đến lại mang về mà cũng không đưa được. Tuy yêu đấy, là thầy đấy nhưng hắn vẫn thấy tự ti, thấy mình lép vế (Em mười chín tuổi xinh tươi/ Tôi trầm tư của ba mươi mất rồi/ Chắc gì em đã hiểu tôi / Chắc gì tôi đã là người em mơ?). Đến bây giờ ở tuổi “tri thiên mệnh” hắn mới thổ lộ, theo kiểu TAS được quyền công bố (Mối tình sét đánh/ Thày phải lòng trò/ Tình về xứ Nghệ/ Còn mấy câuthơ). Đúng là hắn mới phải lòng chứ chưa phải tình yêu.

Dài dòng những dòng trên theo kiểu người già hay nhắc về quá khứ, và với tôi còn có chút vụ lợi theo nghĩa: thấy người sang bắt quàng làm họ để đánh bóng mình.

Nhân một hôm rỗi rãi, nghĩ đến hắn, đến thằng Trứ thân tình của mình, tôi dò vào mạng tìm chơi thì sau Lời thề cỏ may… hiện ra trường ca Phạm Công Trứ: Làng phố giao duyên.Tôi đọc say sưa và cũng bất ngờ về tính chất và quy mô của nó, một trường ca nếu in ra đến cả trăm trang với đủ các thể loại thơ, từ lục bát - là sở trường của hắn, đến thơ tự do, thơ 4 chữ, 7 chữ... Về chất lượng thì như người đời đánh giá: thơ tình lục bát thì hắn ngồi chiếu dưới của cụ Nguyễn Bính, về thơ trí tuệ thì hắn lại ngồi chiếu dưới cụ Chế Lan Viên. Khổ cho thân hắn luôn ngồi chiếu dưới, hắn nhận là tự số hắn thế:

                     “Mệnh” với  “tuổi” như nước với lửa
                      Ngũ hành gọi là tương khắc, hỡi ôi!
                     Tử vi phán: tiền vận coi như vứt bỏ

Tôi gọi điện ngay cho hắn, vừa để khen thơ vừa có ý trách sao không thông báo (vì cách đây mươi ngày hắn đến chỗ tôi). Nghe xong hắn ngạc nhiên:

- Sao bác biết!
- Bác vừa đọc trên mạng.

- Thôi chết rồi, em cũng không biết, em có đưa lên đâu. Chắc gửi cho mấy thằng bạn, đứa nào hứng chí đưa lên. Để em phải điều tra.

- Thôi chuyện đó hậu bàn, nhưng có 2 ý mà bác cho là thiếu sót.
- Người cứ dạy!

- Đây là trường ca về cả cuộc đời của chú, cái thời đi bộ đội vinh quang và tự hào thế sao không thấy chú đưa vào?

- Nếu đưa vào sẽ lạc đề bác ạ. Đây là “Làng Phố giao duyên thôi”. Đoạn bộ đội sẽ có dịp khác.

- Thôi nghe vậy, nhưng thơ phú gì viết có đoạn thực đến thô thiển, trần tục và vi phạm quan điểm nữa. Thời nay cởi mở và tự do báo chí chứ như trước kia có thể nâng thành quan điểm, bỏ tù đấy.

- Chỗ nào mà bác phê dữ thế?

- Nghe đây (Mười năm lao động quang vinh/ Không bằng chó giống  xuất tinh một lần) . (Hắn muốn so sánh tiền thưởng cho 10 năm lao động xuất sắc, với chó giống Nhật thời hoàng kim đi bán giống).

- Khó nghe nhưng mà đúng và hay phải không bác. Nếu không hay làm sao bác thuộc ngay. Tuy nhiên, đó lại là trích thơ của người khác! Thôi để gửi đền cho bác Phồn thi 3vậy.

Và hắn cười khềnh khệch. Thật lộn ruột. Thôi đành bỏ qua vậy, nói thêm tốn tiền điện thoại.

Trong trường ca: Đầu tiên là hắn viết về quê hương Hải Hậu của hắn, đọc xong tôi mới thấy rằng hắn rất am hiểu lịch sử quê hương, hắn kể tên, giải thích, triết tự… như là một bậc cao niên về địa lý, lịch sử, chính trị. Hắn hiểu con người, quen thổ nhưỡng, biết đặc sản các vùng miền quê hắn, có thể xem như là một dư địa chí bằng thơ về Hải Hậu.

Dưới ngòi bút của hắn, hiện về nguyên một vùng nông thôn xưa còn sơ khai, hoang dã và cũng đầy đặc sản cho bọn trẻ chăn trâu như chúng tôi thời đó, tuy đói cơm nhưng miệng lúc nào cũng ướt. Bây giờ tôi, thế hệ chúng tôi, những gã nhà quê ra tỉnh dù đã bạc đầu nhưng đọc lại nghĩ lại mà nuối tiếc, thèm thuồng để: Ước gì trở lại ngày xưa…cái thời như hắn viết: Tắm truồng thú của trẻ quê / Ra phố là hết đam mê tắm truồng.

Hắn viết về tuổi thơ, tuổi học trò của hắn làm gợi nhớ về tuổi thơ của mình và tôi đâm ghen với hắn. Cũng trải qua tuổi thơ ở một vùng quê như hắn, có thể còn nghịch ngợm hơn hắn mà sao không nhớ hết không thể kể hết được như hắn. Hắn nhớ từ những con côn trùng: con Giun, con Dế, bọ Xít, Cánh Cam…đến các loài chim cò, động vật (Chim Sẻ lau chau, chim Sâu loách choánh…) đến rắn Ráo, Thằn Lằn, con Lươm, con Rạm và rồi cây cỏ: cỏ Lăn, cỏ Lác, cỏ Gà, Chân Chim, Chân Vịt…(Cỏ may xiên một mũi  kim/ Chân vịt mỏng mảnh, chân chim loè xoè/ Cỏ lăn, cỏ lác, cỏ le/ Khoẻ như cỏ gấu lại e cỏ gừng...).
               
Về cây cỏ thì có thể gọi hắn là kỳ tài. Đến như cụ Nguyễn Bính - nhà thơ của thôn quê cũng chỉ nhắc đến cái dậu mồng tơi xanh rờn, cái mà người Việt Nam ai cũng đã ăn, đã biết. Còn hắn trong vô vàn sinh vật được kể đến trong thơ thì Cỏ May (Không sắc lại cũng không hương/ Chân cắm xuống đất, ngọn dương lên trời) là lạ nhất. Rất nhiều người nếu không từng sống ở thôn quê thì không thể biết, thế mà trong thơ hắn Cỏ May  như nhân vật trung tâm, như linh hồn cho thơ hắn. Chả thế mà hắn có bài thơ nổi tiếng Lời thề cỏ may, thấy vẫn chưa đủ nên hắn nâng lên thành tập thơ: Cỏ may thi tập - biết đâu hắn còn nghĩ đến Tuyển tập hay tổng tập: Lời thề cỏ may. Không hiểu sao hắn lại có thể gắn bó, có đủ cảm hứng để thổi hồn cho Cỏ May, một cây cỏ bé tẹo cứ bám vào quần các cặp tình nhân đến bực mình (Gái làng có tiếng chính chuyên/ Sáng ngồi gỡ cỏ bắt đền tình nhân) thế mà vào thơ hắn, bàn tay của phù thuỷ, Cỏ May cũng trở nên đẹp như một cô gái tuổi dậy thì, kín đáo, e thẹn vẫy chào (Nở mà chẳng toét miệng ra/ Cứ phơ phớt nhọn như là mũi kim).Và mãi sau này trong nghiệp thơ của hắn thì Cỏ May vẫn phảng phất hiện ra như niềm đam mê không dễ gì dứt bỏ.

Nhưng nghĩ lại, mình tự an ủi, biết đâu hắn cũng quê như mình, nhưng để viết thơ hắn phải về quê đi thực tế, tìm tòi, dò hỏi lại và biết đâu… trong buổi cơ chế thị trường này hắn có thể chi ra khoản tiền (rất nhỏ so với hắn) để nhờ một thằng bạn ở quê (mà bây giờ đã là một lão nông) thu lượm và ghi chép lại cho hắn. Có thể chứ… thấy hợp lý, nhẹ cả người (!).

Chợ quê trong thơ hắn tất nhiên không hay không chuyên nghiệp bằng Chợ Tết của cụ Đoàn Văn Cừ  (khổ thân hắn vẫn ngồi chiếu dưới) nhưng hắn biết hàng chục chợ, chợ nào cũng thật ồn ào, sinh động với đủ các mặt hàng , đặc sản quê hương (Mớ cá, mớ tôm, xâu ếch, giỏ cua/ Sọt bưởi, sọt bòng, thúng na, rổ khế/ Hàng thóc, hàng gạo chỗ khảo chỗ đong/ Hàng lợn, hàng gà lồng to lồng bé). Nhưng có điều tôi ngộ ra rằng, hắn nói về chợ để nhớ, để kể về công lao mẹ hắn - người mẹ vì kế sinh nhai đã thành bà hàng xáo - vất vả , tảo tần chạy chợ nuôi một đàn con và trong tâm hồn ngây thơ, đói khát của hắn khi đó thì chút quà của mẹ đi chợ về cũng không kém phần quan trọng, vẫn  sống  trong ký  ức  hắn  tới  bây giờ (Quà cho con sang thì bánh đúc, bánh đa/ Mèng thì cũng là quả bỏng, gióng mía).

Như bao người dân khác, bây giờ kinh tế phát triển, có bát ăn, bát để người ta bắt đầu hoài cổ, tìm lại gốc gác gia phả, nhận họ nhận hàng và xây lăng tẩm cho họ trưởng, họ ngành…Hắn cũng tìm về quá khứ, lục tìm gia phả, tộc phả, tổ tông. Dù xa xôi và cũng còn trong “tương truyền”, hắn cũng có quyền tự hào về tổ tiên họ Phạm nhà hắn. Gia đình hắn, là điển hình về một gia đình Việt Nam đầu thế kỷ 20, đầy hy sinh, gian khổ nhưng rực lửa anh hùng mà bậc ông cha hắn cũng đáng là một tấm gương về tinh thần và ý chí của người nông dân Viêt Nam. Nhưng hắn viết về cái đó không chỉ là hoài cổ, là giới thiệu tổ tông mình mà điều mà hắn hướng tới là cho con cháu, những lớp người kế tiếp nhớ về tổ tông mà sống cho xứng đáng. Cứ nghe hắn dạy con (Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn/ Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu/ Người ta nguồn gốc từ đâu/ Có tổ tiên trước rồi sau có mình...) . Đây chính là cái cốt lõi, cái trường tồn trong phạm vi hẹp là của 1 gia đình và trong phạm vi rộng là của 1 quốc gia.

Hắn, nhà quê ra tỉnh (Nhà quê khí huyết tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân), trở thành nhà Văn, nhà Giáo, nhà Báo, nhà Thơ nhưng trong sâu thẳm, từ hình hài đến cách nghĩ hắn vẫn là một đứa con của nông thôn Việt Nam và khi lìa bỏ cõi đời hắn cũng muốn trở về với đất, thành cây Cỏ May mọc trên đất quê hương (Cuối cùng thì đất lên ngôi/ Tôi hoá thành cỏ hát lời hư vô).

Phần 2 của trường ca, hắn viết về phố, về Hà Nội với đầy đủ những thay đổi, thăng trầm, về con người và cảnh sắc Hà Nội. Tài hoa của hắn, cũng như khi viết về nông thôn, lại nở rộ như một nhà Hà Nội học trong thơ. Tôi mạo muội nói thế, nói hay cho hắn, còn thực sự thế nào thì phải để các nhà Hà Nội học thực thụ, hoặc chí ít cũng là dân Tràng An nhận xét và đánh giá.  

Hà Nội, 12.12.2009
NGÔ MẠNH TUẤN
Theo NVTPHCM



Thứ Tư, 11 tháng 7, 2018

ĐỖ HỒNG NGỌC: BÁC SĨ VIẾT TỪ TRÁI TIM

Mười mấy năm qua, sách của Đỗ Hồng Ngọc luôn nằm trong danh mục bán chạy nhất, được tái bản nhiều lần, được trưng bày trên các kệ trang trọng nhất trong các nhà sách. Đúng là một hiện tượng.

Sách của Đỗ Hồng Ngọc không phải là những tiểu thuyết diễm tình, éo le, gay cấn, cũng chẳng phải là sách nhất thời “ăn theo” một sự kiện nào đó, hay những sách dạy làm giàu thời thượng... Đó là những tập tản văn về một nếp sống an lạc, về thiền như Nghĩ từ trái tim, Như thị, Cõi Phật đâu xa, Cành mai sân trước... Các tập tùy bút về sức khỏe viết cho người cao tuổi như Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn, Thiền và sức khỏe, Nếp sống an lạc... Và cả những ký sự nhân vật như Những người trẻ lạ lùng, Nhớ đến một người, Một hôm gặp lại... viết về những người quen thân với tác giả, trong đó có nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng.
Nhà thơ - bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Cõi thơ của Đỗ Hồng Ngọc

Nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ - nhà văn. Nhưng tôi vẫn thích gọi anh là thi sĩ - bác sĩ bởi Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ. Anh làm thơ và có thơ in từ thời sinh viên - tập Tình người (năm 1967), ký bút hiệu Đỗ Nghê. Mấy năm sau khi ra trường là Thơ Đỗ Nghê (năm 1973). Tập thơ đã gây được tiếng vang trong văn đàn bấy giờ. Sau này anh trích một số bài trong hai tập thơ trên rồi in lại trong các tập thơ Giữa hoàng hôn xưa (năm 1993) và Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác (năm 2010).

Bài thơ làm tựa chính Thư cho bé sơ sinh... Đỗ Hồng Ngọc viết năm 1965, khi còn là sinh viên y thực tập tại BV Từ Dũ: Khi em cất tiếng khóc chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em.../ Khi anh cắt rún cho em/Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ... Thôi trân trọng chào em/ Mời em nhập cuộc/ Chúng mình cùng chung/ Số phận con người.

Tôi nhớ hình như khoảng sau ngày ký Hiệp định Paris (năm 1973) ít lâu, anh gửi tặng tôi tập Thơ Đỗ Nghê mới xuất bản. Tập thơ in ronéo nhưng trình bày khátrang nhã. Thơ Đỗ Nghê bàng bạc khát vọng hòa bình và cả nỗi ám ảnh của chiến tranh, đã gây được tiếng vang trong văn đàn bấy giờ. Anh ru con: Ngủ đi con ngủ đi con/ Rồi ngày mai khôn lớn/ Cầm súng với cầm gươm. Và anh ru vợ (hay người yêu?): Ngủ đi cưng, ngủ đi cưng/ Kề tai đây anh bảo/ Coi như mình chẳng có quê hương.

Năm 1997 Đỗ Hồng Ngọc ra mắt tập thơ Vòng quanh, một “bút ký thơ” kèm những ký họa rất thú vị của chính tác giả vẽ lại những nơi chốn anh đã đi qua: Huế, Hà Nội, Boston, Montreal, Bắc Kinh... nhưng có lẽ ấn tượng nhất với thi sĩ là Paris. Một tâm hồn thi sĩ như Đỗ Hồng Ngọc mà lạc lối tới Paris giống như anh “trở về”. Vòng quanh ra đời sau chuyến đi Paris năm 1997. Thơ viết về Paris lan man gần phân nửa tập thơ: Paris với anh lạ mà không lạ/ Có cái gì đó rất thân quen/ Như sáng nay thăm lại tháp Eiffel... (Paris tháng Sáu). Hoặc: Ở Paris có thể/ Vào một quán cà phê quen/ Từ ba trăm năm cũ/ Làm một ly đen/ Với Voltaire, Bonapartre/ Hoặc Benjamin Franklin/ Khề khà cùng Jean Paul Sartre... (Café).

Và cõi người của một bác sĩ

Tác phẩm đầu tay viết về y học Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò anh ký tên thật bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, xuất bản năm 1972. Tôi nhớ lần đầu gặp Đỗ Hồng Ngọc khi anh mang tặng tôi cuốn sách này, nhờ tôi giới thiệu trên tuần báo Tuổi Ngọc (bấy giờ tôi là thư ký tòa soạn). Tuổi Ngọc là “tuần báo của tuổi mới lớn”, độc giả của báo cũng là đối tượng độc giả của cuốn sách. Tòa soạn là căn gác xép chật chội của nhà in nên anh và tôi ngồi ở quán cà phê trong con hẻm bên cạnh. Đỗ Hồng Ngọc là một người lịch thiệp, cử chỉ từ tốn, nói năng nhẹ nhàng, dễ gây cảm tình với người đối thoại.

Hai năm sau Đỗ Hồng Ngọc viết cuốn y học thứ hai Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng. Cả hai cuốn sách viết về y học thường thức nói trên tái bản không biết bao nhiêu lần bởi cứ lứa tuổi học trò này lớn lên lại có lứa khác tìm đọc. Những bà mẹ này sinh con đầu lòng rồi lại có những bà mẹ sinh con đầu lòng khác. Những lời khuyên nhẹ nhàng cho lứa tuổi học trò hay các bà mẹ trẻ lần đầu sinh con với văn phong dí dỏm của Đỗ Hồng Ngọc rất hấp dẫn người đọc. Kể cả đến nay, sau 45 năm, hai tập sách y học thường thức ấy vẫn tiếp tục tái bản. Thế mới thấy cái duyên của BS Đỗ Hồng Ngọc. Học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết tựa cho cuốn Những tật bệnh thông thường... đã viết: “Một bác sĩ mà là một thi sĩ luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”.

Năm 1997, Đỗ Hồng Ngọc cho ra đời một tập sách y học thường thức nhẹ nhàng Gió heo may đã về. Tác giả mượn một câu trong ca khúc Nhìn những mùa thu đi của Trịnh Công Sơn: “Gió heo may đã về/ Chiều tím loang vỉa hè/ Rồi mùa thu bay đi...” làm tựa tập tản văn viết cho lứa tuổi chớm già. Chỉ trong năm 1997 Gió heo may đã về đã tái bản đến ba lần, đủthấy sức hút của tác phẩm. Mặc dù đề tài viết về sức khỏe của tuổi già đã có nhiều bác sĩ tên tuổi viết như BS Nguyễn Ý Đức, một chuyên gia về lão khoa nổi tiếng ở Mỹ, hoặc GS Ngô Gia Hy đã viết nhiều cuốn về tuổi già. Thế nhưng Gió heo may đã về được viết dưới dạng tùy bút nhẹ nhàng như những lời tâm sự, người đọc dù khó tính mấy cũng sẽ mỉm cười thích thú khi đọc. Tác giả cũng khá bất ngờ khi tập tản văn nhận được sự đón nhận nhiệt tình của đông đảo bạn đọc - có lẽ hầu hết ở lứa tuổi chớm già như anh.

Các tập ký sự nhân vật: Những người trẻ lạ lùng, Nhớ đến một người... Đỗ Hồng Ngọc viết về những cuộc gặp gỡ, những cuộc chia tay, những cuộc hạnh ngộ diệu kỳ. Anh nhớ những gương mặt, những cá tính, những tài năng không thể nào quên, như học giả Nguyễn Hiến Lê, một tấm gương kiên nhẫn, có ảnh hưởng không nhỏ trong cuộc đời anh. Hay bác sĩ - họa sĩ Dương Cẩm Chương, một bậc trưởng thượng cả trong y khoa và hội họa Việt Nam, hoặc nhạc sĩ Trần Văn Khê, nhà văn Võ Hồng, nhà văn Võ Phiến, bác sĩ - nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện...

“Trái tim có cách nghĩ riêng của mình”

Từ những tập sách viết về y học với một giọng văn nhẹ nhàng, các ký sự nhân vật như những lời tình tự đến những bài thơ trăn trở một thời tuổi trẻ hay những câu thơ lãng mạn ở tuổi chớm già, hình như Đỗ Hồng Ngọc không viết từ những nghĩ suy bình thường mà viết từ trái tim, dù trái tim không phải để suy nghĩ mà để yêu thương. Như trong tập Nghĩ từ trái tim (viết về Tâm Kinh Bát Nhã), Đỗ Hồng Ngọc đã viết “trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được”.

Đỗ Hồng Ngọc kể lúc anh dưỡng bệnh ở BV An Bình cuối năm 1997 sau khi mổ sọnão ở BV 115, anh đọc được Trái tim hiểu biết của thiền sư Nhất Hạnh viết về Bát Nhã ba-la-mật-đa Tâm Kinh do một người bạn cho mượn. Anh đọc và nghiền ngẫm. Trong lời dẫn nhập sách, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Nghiền ngẫm rồi ngập ngừng. Rồi bức xúc, phải viết ra cho khỏi quên, để lâu lâu còn coi lại một mình. Ba năm nghiền ngẫm, sáu tháng viết và hơn hai năm ngại ngần, thỉnh thoảng đọc và sửa, nhờ vài bạn thâm giao chỉ thêm cho, rồi tìm tòi, tham khảo, loay hoay...”. Mãi đến sáu năm sau, cuối năm 2003, tập Nghĩ từ trái tim mới được ấn hành. Anh giới thiệu và giảng giải Tâm Kinh theo cách của anh, một bác sĩ, không ẩn dụ mà là những ví dụ, những từ ngữ dễ hiểu, dễ đi vào tâm thức người đọc.

Nghiền ngẫm Tâm Kinh để chữa bệnh cho chính mình

Đỗ Hồng Ngọc tâm sự: “Tôi tự nhiên mà khoái Tâm Kinh. Có thể là có duyên sao đó. Sau cơn mê, mổ xong tôi tỉnh dậy. Cười một mình. Ngu ơi là ngu. Đáng đời ơi là đáng đời. Rồi tôi lạ lẫm nhìn nắng chiếu qua khung cửa. Lạ lẫm nghe tiếng chim hót. Lạ lẫm thấy lá thông lắc lư trong gió...”.

Đỗ Hồng Ngọc bảo anh viết những cảm nghĩ trong khi nghiền ngẫm Tâm Kinh cũng là để làm một phương thuốc chữa bệnh cho chính mình và chia sẻ cùng vài bạn bè thân hữu “đồng bệnh tương lân”. Và kể từ sau Nghĩ từ trái tim, những tập tản văn y học, tùy bút thiền, bút ký thơ, ký sự nhân vật của Đỗ Hồng Ngọc với văn phong thanh thoát, đầy chất thơ, nhẹ nhàng như gió thoảng liên tiếp được ấn hành rồi tái bản, tái bản.

PHẠM CHU SA
Nguồn: Pháp Luật TPHCM


NHỚ NHÀ THƠ VIỄN PHƯƠNG

Nhà thơ Viễn Phương tên thật là Phan Thanh Viễn, sinh ngày 1-5-1928 ở Tân Châu, An Giang.
Nhớ nhà thơ Viễn Phương

Viễn Phương là một chiến sĩ cách mạng, thơ là một phương tiện hoạt động cách mạng của ông. Đề tài thơ là toàn bộ cuộc chiến đấu cho tự do mà đời ông theo đuổi. Thơ ông, từ lúc còn thanh niên cho đến trọn đời mình, luôn cháy lên ngọn lửa của lý tưởng. Sức lôi cuốn của thơ Viễn Phương trước hết ở lòng yêu nước nồng nhiệt:

Non nước ta hằng sống tự do
Bốn ngàn năm trước đến bây giờ
Đố ai xóa được tình thương ấy

Những câu thơ ấy đã cất lên công khai giữa Sài Gòn năm 1955, cổ vũ ý chí thống nhất đất nước. Sau năm 1956, khi chính quyền Sài Gòn khước từ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, thơ Viễn Phương trở thành vũ khí đấu tranh công khai chống độc tài bán nước giữa Sài Gòn. Ông mượn chuyện xưa tích cũ để lên án chính quyền tàn bạo đương thời.

Bạch Khởi có nghe sông núi thét
Bạo tàn đâu khuất được lòng dân

Những bài viết của Viễn Phương, cả thơ lẫn truyện, đăng trên các báo công khai ở Sài Gòn, đã có sức tập hợp và cổ vũ phong trào đấu tranh yêu nước, chống âm mưu chia cắt đất nước. Năm 1960, chính quyền Sài Gòn đã bắt giam ông. Viễn Phương đã trải qua các nhà tù Phú Lợi, Chí Hòa.

Ra tù, 1962, ông lên chiến khu, chiến đấu ở vùng đất thép Củ Chi, đối mặt với bom đạn ngày đêm khốc liệt nhất của miền nam. Thơ ông quyết liệt, lòng ông quả cảm.

Nhưng thật lạ, trước sự hung bạo của quân thù, chất liệu hiện thực ác liệt của cuộc kháng chiến lại tạo nên phẩm chất trữ tình lãng mạn, giàu mơ mộng cho thơ Viễn Phương. Chính tại Củ Chi, ông viết thơ tình yêu Đám cưới giữa mùa xuân được nhiều người yêu mến.

Viễn Phương ưa khai thác khía cạnh trữ tình của các đề tài anh hùng. Thơ Viễn Phương bao giờ cũng có những câu thấm thía, chất thấm thía nội tâm người trong cuộc. Một đặc điểm dễ thấy: cảm xúc thơ ông thiên về thương yêu tình nghĩa. Giọng thơ nhỏ nhẹ mềm mại. Thơ giống như người, ông vốn thanh nhẹ, lặng thầm. Tên tập thơ cuối cùng, xuất bản khi ông trên giường bệnh, vẫn cứ thầm và nhẹ: Gió lay hương quỳnh. Tình cảm với quê hương An Giang vẫn là nốt đàn sâu lắng của cõi lòng ông:

Trước mặt sông Tiền cuồn cuộn sóng
Sau lưng Bảy Núi mịt mù sương
Quê tôi mùa lũ chìm trong nước
Rau cháo cầm hơi... mấy đoạn trường

Đọc thơ thấy người, cũng là chỗ để nhận ra năng khiếu của người thơ.

Tôi không được thường gặp Viễn Phương, những dịp trò chuyện với ông cũng hiếm. Chỉ là gặp trong các cuộc hội họp giới nhà văn, khi ở Hà Nội, khi ở các tỉnh phía nam, nhưng ấn tượng ông lưu lại trong tâm trí tôi rất sâu đậm.

Nét cười thoảng nhẹ như có chút rụt rè, giọng nói càng nhẹ hơn và gương mặt dáng người thì nhỏ nhắn, khiêm nhường. Ngồi nghe ông, nhìn dáng ông, không thể nghĩ rằng con người đã vượt qua những tra tấn, cực hình ở các nhà tù khét tiếng tàn bạo. Cũng không thể nghĩ rằng ông đã trụ vững và làm thơ ngay trong những chiến trường ác liệt.

Viễn Phương làm thơ để ghi lại lòng mình, ghi lại tình yêu quê hương xứ sở của mình trong trận chiến mà lại như viết biên niên.

Và trong biên niên lịch sử ấy, ta lại thấy lòng ông. Ông đã sống cùng nỗi thăng trầm của cuộc đấu tranh giải phóng miền nam. Đất nước yên tiếng súng. Nhìn những đứa trẻ lam lũ của nông trường An Hạ 1983, mê mải xem văn công, ông chỉ tả như khách quan, mà sao ta nhói lòng:

Hàng trăm em bé ngồi trên đất
tóc khét, lưng trần, da nám đen
Con của đất ngồi trên mặt đất
Tháp Mười xa bát ngát hương sen
Không một mùi thơm trên mái tóc
Chỉ nghe vị mặn của mồ hôi,
Xuyến vàng chuỗi ngọc đều xa lạ
Lấp lánh trời đêm mát sáng ngời.

Viễn Phương có nhiều lúc kín đáo, hàm súc đáng quý như vậy. Ông tự nguyện dệt đời mình vào vui buồn của đất nước. Hình ảnh người dân choán trong tâm trí ông thật lớn lao lại chính là từ những đứa em chân đất ấy.

VŨ QUẦN PHƯƠNG
Nguồn: Nhân Dân


Thứ Năm, 5 tháng 7, 2018

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA VĂN HỌC QUỐC NGỮ NAM BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN 1945

Ngày 15/4/1865 tờ Gia Định báo ra số báo đầu tiên, đánh dấu chữ Quốc ngữ đã ra khỏi nhà thờ Thiên chúa giáo để gia nhập đời sống văn hóa chung, mở đường cho nền văn học mới ra đời.

Trải qua một quá trình dài gần 80 năm, từ một vùng văn học mới phôi thai, văn học quốc ngữ Nam Bộ trở thành một vùng văn học phát triển, có nhiều thành tựu phong phú và giàu bản sắc.

Cuối thế kỷ XIX, các nhà văn chủ yếu là các trí thức xuất thân từ nhà thờ hay có liên hệ mật thiết với nhóm ấy, như: Trương Vĩnh Ký với Trương Minh Ký – con rể ông, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản. Đầu thế kỷ XX lực lượng sáng tác có sự mở rộng, phong phú đa dạng hơn: hai thập niên đầu tiên của thế kỷ XX lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà văn duy tân, như: Nguyễn Thần Hiến, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trương Duy Toản, Đặng Thúc Liêng…. Thập niên hai mươi và ba mươi có sự bổ sung phong phú hơn: có những nhà nho bắt đầu chuyển sang dùng chữ quốc ngữ: Thượng Tân Thị, Lê Sum, Nguyễn An Khương, Trần Phong Sắc, Huyền Mặc Đạo Nhân…; có khá nhiều nhà văn nữ xuất hiện: Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân, Elen Anh Hoa, Nguyễn Thị Manh Manh, Mộng Tuyết…; đông đảo hơn cả là các trí thức Tây học: Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Tân Dân Tử, Biến Ngũ Nhi, Phú Đức, Đông Hồ, Trúc Hà, Lư Khê…; có những nhà văn từ miền Trung, miền Bắc vào như: Nam Kiều Trần Huy Liệu, Bửu Đình, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất… Cuối thập niên ba mươi đến 1945 có thêm nhóm trí thức cách mạng như: Cao Hải Để, Trần Hữu Độ, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Nguyễn, Kiều Thanh Quế…
Mục đích của việc sáng tác, dịch thuật trước hết là để học chữ quốc ngữ và làm quen với văn hóa phương Tây, au đó mới sáng tác để thưởng thức và hiểu biết con người và xã hội. Bên cạnh đó là sáng tác để khơi dậy lòng yêu nước và làm cách mạng.
Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) năm 1883, tuổi 46

Quá trình sáng tác đi từ dịch thuật và mô phỏng, sau đó mới chuyển viết sáng tạo. Văn thể chuyển từ thơ, văn vần sang văn xuôi là chính.

Qua quá trình đó, văn học Nam Bộ đã có những giá trị và đặc điểm gì, có vị trí thế nào trong quá trình hiện đại hóa dân tộc.

1.       Văn học Nam Bộ tiên phong trên con đường hiện đại hóa

Từ cuối thế kỷ XIX ở Sài Gòn đã xuất hiện một thế hệ trí thức mới. Có người học trường đạo Penang (Malaysia) như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của; có người ở Trường Lycée Alger (Algieria) như: Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương). Họ trở thành những nhà văn tiên phong trong việc xây dựng văn học Quốc ngữ.

Dịch văn học: Với các tập Chuyện Phan Sa diễn ra quốc ngữ (Bản in Nhà hàng C.Guilland et Martinon, S.1884), Truyện ngụ ngôn của Pháp (1884-1885), Phú bần diễn ca (S.Nhà hàng C.Guilland et Martinon, in lần đầu 1885), Tê Lê Mặc phiêu lưu ký (đăng báo 1885, in sách 1887, dịch từ Telémarque phiêu lưu ký / Aventures de Telémaque của Fénelon), Francinet (đăng Gia Định báo từ số 36, năm 21, ngày 5.9.1885)…Trương Minh Ký trở thành dịch giả tiên phong trong việc dịch văn học phương Tây và văn học Pháp của nước ta. Sau đó là bản dịch Truyện Robinson do Trần Thái Nguyên dịch đăng trên Gia Định báo ngày 24/4/1886 , Tiền căn báo hậu của Trần Chánh Chiếu dịch từ Le Comte de Monte Cristo của A.Dumas, xuất bản năm 1907…

Ký: Ký sự bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên là quyển Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất hợi (1876) phụ đề tiếng Pháp: Voyage au Tonkin en 1876, Bản in Nhà hàng C. Guilland et Martinon, Sài Gòn, 1881. Sau đó là 2 thiên du ký bằng thơ của Trương Minh Ký: Chư quấc thại hội (Commerciale Rey, Curiole & Cie xuất bản, Sài Gòn, 1891), cuốn ký sự bằng thơ song thất lục bát ghi lại chuyện đi dự Hội đấu xảo Paris 1889; Như Tây nhựt trình (khởi đăng trên Gia Định báo từ 10.04.1888 đến 16.04.1890, sau đó Imp.Ruy et Curiol xuất bản, 1889), cuốn ký sự bằng thơ song thất lục bát dài 2000 câu ghi về một chuyến đi Pháp.

Tiểu thuyết, truyện ngắn: Cuộc thi “Quốc văn thí cuộc” do Trần Chánh Chiếu, chủ bút khởi xướng trên báo Nông cổ mín đàm năm 1906 có thể coi như cuộc thi sáng tác tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Giải thưởng được công bố một năm sau trên tờ báo ấy, số 280, ngày 5/3/1907, giải nhất, giải duy nhất dành cho Lương Hoa Truyện của Pierre Eugène Nguyễn Khánh Nhương, tác phẩm duy nhất dự giải. Nhưng tác phẩm này sẽ mở ra một mùa sai quả sẽ rộ lên vài năm sau đó. Đó là: Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Thiên Trung, cuốn tiểu thuyết mở đầu cho khuynh hướng hiện thực phê phán; Lâm Kim Liên tự truyện, của Trần Chánh Chiếu, 1910). Phan Yên ngoại sử – Tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy Toản, cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng quốc ngữ đầu tiên; Chơn cáo tự sự (1910) của Michel Tinh; Hà Hương phong nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mưu, cuốn tiểu thuyết tâm lý – xã hội đầu tiên… Vài năm sau nữa sẽ xuất hiện kiện tướng của tiểu thuyết Nam Bộ: Hồ Biểu Chánh với hàng loạt tác phẩm phóng tác và sáng tác: Ai làm được(1919), Cay đắng mùi đời (1923), Cháu tàu Kim Quy (1923), Ngọn cỏ gió đùa (1926)…

Nếu so với các nước khác trong khu vực văn hóa chữ Hán, với thành tựu của văn học Nam Bộ, thì nền văn học mới của Việt Nam ra đời rất sớm, tương đương với Nhật Bản, sớm hơn nhiều Trung Quốc và Triều Tiên/ Hàn Quốc:

Về báo chí, báo Việt Nam là sớm nhất (1865), kế đến là Nhật Bản (1870 tờ Yokohama mainichi shimbun / Nhật báo Yokohama). Trung, Hàn muộn hơn nhiều.

Về văn học dịch: Nhật Bản sớm nhất: 1878 bản dịch Tám mươi ngày vòng quanh thế giới của Jules Verne do Kawajima Chùnosuke dịch, 5 năm sau là Việt Nam (1881 đến 1886 Chuyện Phan Sa diễn ra quốc ngữ); 15 năm sau mới đến Trung Quốc (năm 1896 bản dịch đầu tiên: Cha và con của nhà văn Nga Ivan Turgenev mới ra đời).

Về ký sự: du ký sớm nhất là thuộc về Nhật Bản: 1866 Tây dương sự tình của Fukuzawa Yukichi. Kế đến là Việt Nam: du ký trong quốc ngữ trong nước là của Trương Vĩnh Ký 1876 (Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất hợi), du ký quốc ngữ về nước ngoài là Như Tây nhựt trình - de Saigon à Paris của Trương Minh Ký (1889). Trung Quốc thì chậm hơn nhiều - phải 10 năm sau mới có Hạ Uy Di du ký của Lương Khải Siêu (hoàn thành năm 1899).

Về tiểu thuyết: tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nasm và Nhật Bản ra đời gần như cùng một năm: Truyện thầy Lazaro Phiền tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Quản xuất bản năm 1887, cũng năm ấy tiểu thuyết Phù vân (Ukigumo) của Futabatei Shimei cũng ra đời. Nhưng Trung Quốc và Hàn Quốc phải trên 30 năm sau mới có những tiểu thuyết đầu tiên của Lỗ Tấn (Nhật ký người điên, 1918), của Lee Kwang-su (Vô tình, Nỗi bi ai của cậu bé, tiểu thuyết 1917).

Tất cả các hiện tượng tiên phong của văn học Việt Nam nói trên đều là thành quả của văn học Nam Bộ.

1.       2.Văn học Nam Bộ đậm đà tinh thần yêu nước và thống nhất dân tộc

Thế kỷ XX ở Nam Bộ mở ra bằng phong trào duy tân mạnh mẽ. Nguyễn Thần Hiến người Hà Tiên, sau cuộc gặp gỡ với Phan Bội Châu vào năm 1904 đã trở thành nhân vật tích cực của phong trào Đông du. Ông từng làm Tổng Ủy viên sự vụ khi lưu lạc sang Xiêm, phụ trách Nam Kỳ trong ban lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội (1912), cuối cùng bị bắt, bị giam trong Hỏa Lò và chết trong tù ngục. Trần Chánh Chiếu từ điền chủ giàu có ức vạn ở Rạch Giá, có quốc tịch Pháp với tên gọi là Gillbert Chiếu, sau trở thành nhân vật lãnh đạo phong trào Minh Tân Nam Kỳ. Ông lập hệ thống Minh Tân khách sạn, hãng xà bông Canard (Con vịt)… Với tư cách là chủ bút Lục tân tân văn, ông đã biến tờ báo này thành cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng duy tân và ông bị bắt, bị bỏ tù từ ngay trong chức vụ đó. Cùng tham gia phong trào Minh tân Nam Kỳ còn có Trương Duy Toản, nhà văn, nhà báo, soạn giả cải lương. Sau các ông một chút, có nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, chủ bút tờ báo nữ giới đầu tiên Nữ giới chung, Phan Thị Bạch Vân chủ bút tờ tạp chí Tinh thần phụ nữ vừa đấu tranh cho nữ quyền, vừa hoạt động yêu nước. Nhà xuất bản Nữ lưu thư quán Gò Công của bà là sách phụ nữ sớm nhất và lớn nhất trong cả nước, quy tụ nhiều nhà văn Nam Trung Bắc. Phan Thị Bạch Vân bị ra tòa “về tội phá rối cuộc trị an trong xứ bằng văn chương tư tưởng” (Phụ nữ tân văn số 39, 13.2.1930, tr.25). Nguyễn Văn Vinh người Bến Tre, bị 5 năm tù treo vì hoạt động chống Pháp, mà tác phẩm Tam Yên di hận của ông một trong những bằng chứng để chính quyền buộc tội ông. Bửu Đình, tác giả của Mảnh trăng thu, Cậu Tám Lọ, Một thiên tuyệt bút Trường hận…cũng bị tù và đày ra Côn Đảo vì những hoạt động yêu nước. Đã có đến hàng trăm quyển tiểu thuyết của các nhà văn Nam Bộ bị chính quyền thực dân Pháp cấm lưu hành, như các tác phẩm của Nguyễn Kim Đính, Dương Quang Nhiều, Phú Đức, Cao Chánh, Ngọc Sơn (Phi Long), Sơn Vương, Lưu Thoại Khải (Việt Đông)…

Tinh thần yêu nước cũng làm nảy sinh ra trào lưu sáng tác tiểu thuyết lịch sử từ giữa thập niên 1920 trở đi, nhất là tiểu thuyết viết về lịch sử dân tộc. Không kể Trương Duy Toản, Tân Dân Tử, hai nhà văn chuyên viết về lịch sử Nam Bộ thời Nguyễn Ánh([1]) thì có thể thấy một số tác giả dưới đây viết về đề tài lịch sử dân tộc Lý Trần Lê:

Hồ Biểu Chánh có: Nam cực tinh huy, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1924, viết về Ngô Quyền; Nặng gánh cang thường, Càng Long, 1930 viết về lịch sử thời Lê Thánh Tông.

Nguyễn Chánh Sắt có: Việt Nam Lê Thái Tổ, tiểu thuyết lịch sử, 4 tập, Đức Lưu Phương xuất bản, SG, 1929

Việt Đông có: Vì nước bạc tình (Triệu Võ Vương đánh Thục), lịch sử tiểu thuyết, Phạm Đình Khương xuất bản, SG, 1935

Phạm Minh Kiên là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử dân tộc nhiều nhất – 6 tác phẩm. Đó là: Vì nước hoa rơi (Nhà in Xưa nay, SG, 1926), Việt Nam anh kiệt - Vì nghĩa liều mình (Impr. Duy Xuân, Sađec, 1926), Việt Nam Lý trung hưng (Việt Nam Lý Thường Kiệt) (Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1929), Lê triều Lý thị (Impr. Nguyễn Văn Viết, SG, 1931), Tiền Lê vận mạt (Tín đức thư xã, SG, 1932), Trần Hưng Đạo (Tín đức thư xã, SG, 1933).

Khi viết về lịch sử dân tộc, các nhà văn ấy có ý thức rất rõ về công việc của mình là nhằm phổ biến quốc sử vào dân chúng, qua đó hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Trong lời Tựa cho tiểu thuyết Lê triều Lý thị của mình, Phạm Minh Kiên viết: “Sự tích ly kỳ của ông Lý Công Uẩn chẳng khác nào Triệu Khuông Dẫn bên Tàu: mà Triệu Khuông Dẫn người ta đã có đem ra thêu thùa bày vẽ, sắp đặt nên truyện nên tuồng rất dài để bia danh nên giá; còn Lý Công Uẩn nhà ta thì chôn chặt ở trong hòm quốc sử”.

Trong Lời tựa tiểu thuyết Việt Nam Lê Thái Tổ của mình, Nguyễn Chánh Sắt nhắc đến lịch sử Đinh, Lê, Lý, Trần và mục đích sáng tác của mình: “Nước Việt Nam ta từ ngày lập quốc nhẫn xuống Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê cho đến bổn triều, trải bốn ngàn năm, biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt, dọc trời ngang bể, oanh oanh liệt liệt mà đối phó với nước ngoài (…), sánh với các nước bên cõi Á Đông này thì dân tộc Việt Nam ta cũng được vẻ vang trong lịch sử (…). Nay ký giả viết bộ tiểu thuyết này đây là rút ra trong quốc sử mà phô diễn ra, gồm đủ văn chương và luân lý, có ý biểu dương những công lao sự nghiệp của một đấng vĩ nhân Nam Việt là Lê Thái Tổ cùng những trang hào kiệt danh tướng đương thời”.
          
Ngay như việc sáng tác văn học bằng tiếng mẹ đẻ, để từ đó bồi đắp văn hóa nước nhà cũng là biểu hiện của tinh thần yêu nước sâu sắc. Còn nhớ trên báo đầu thập niên 1930 có đăng bài của ông Hồ Duy Kiên, nghị viên quản hạt, trong bài báo ấy ông cho rằng tiếng Việt là patois - chỉ là thổ ngữ, đầy những bất hợp lý và lạc hậu. Ông chủ trương dùng tiếng Pháp, một thứ ngôn ngữ chặt chẽ, khoa học, thay cho tiếng mẹ đẻ trong hành chính, cũng như trong giáo dục, báo chí. Bài báo ấy bị Phan Khôi phản đối kịch liệt trên Phụ nữ tân văn. Như vậy các nhà văn Nam Bộ viết văn viết báo bằng tiếng Việt cũng là tránh cho tiếng Việt chỉ là “thổ ngữ” mà trở thành ngôn ngữ văn học, tinh tế và phong phú, sâu sắc.

3. Văn học Nam Bộ giàu tính đạo lý

Trọng đạo lý là một truyền thống trong văn học Nam Bộ được mở ra từ Võ Trường Toản (thế kỷ XVIII), được vun đắp bởi Gia Định Tam Gia (Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh, Trịnh Hoài Đức), Phan Thanh Giản và thành tựu bởi Nguyễn Đình Chiểu và thế hệ các nhà văn cùng thời với ông: Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị… Văn học quốc ngữ Nam Bộ vẫn tiếp tục truyền thống đó. Hồ Biểu Chánh là nhà văn xã hội lớn nhất Nam Bộ. Tác phẩm của ông với những Chúa Tàu Kim Quy, Ngọn cỏ gió đùa, Nặng gánh cang thường, Cay đắng mùi đời, Chút phận linh đinh, Cha con nghĩa nặng…dù mang đậm hơi thở của cuộc sống hiện thực, nhưng cũng là những câu chuyện thấm đẫm đạo lý với những hiếu hạnh, tiết nghĩa, với những ước mơ đạo lý cổ truyền: “Ở hiền gặp lành”, “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” (Lưới trời lồng lộng/ Thưa nhưng khó thoát), “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo/ Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì” (Thiện ác cuối cùng rồi sẽ báo/ Chỉ là sớm muộn đến mà thôi)…    

Không riêng gì Hồ Biểu Chánh, các nhà văn khác khi phản ánh đời sống xã hội Nam Kỳ đang trên con đường đô thị hóa tư bản chủ nghĩa, thường đứng từ lập trường đạo lý cổ truyền để phê phán.
Nguyễn Thành Long với: Lỗi bước phong tình (Chuyện cô Ba Jeannette), (tiểu thuyết, 4 tập, Imprimerie de l’Ouest, Cần thơ, 1922); Sổ đoạn trường “của cô Lâm Kim Lang tự thuật” (tiểu thuyết, 4 tập, Imp.Đông Pháp, Nguyễn Kim Đính, SG, 1924).

Sơn Vương với: Bạc trắng lòng đen (đoản thiên tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1930); Phản bạn vì tình (đoản thiên tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG,1930); Làm nhơn được vợ (Vô Song Nữ (tức Sơn Vương), tiểu thuyết, SG, Nhà in Đức Lưu Phương, 1931); Ai bạc tình? (đoản tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1931); Anh bạc tình (đoản thiên tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1931)…

Việt Đông với: Lỗi hẹn quên thề (tiểu thuyết, Nhà in Đức Lưu Phương, SG); Nghĩa tào khương (In lần thứ 1. - Chợ Lớn : Impr. Phạm Đình Khương, 1935); Rể thảo là trai (Ellen Anh Hoa và Việt Đông, S. : Impr. Bảo Tồn, 1935); Vợ hiền của tôi (In lần thứ 1. - S. : Impr. Bảo Tồn, 1937)...

Nguyễn Bửu Mọc với: Chút phận cam go (Tâm lý tiểu thuyết, 3 cuốn, Impr.J.Viết, năm ?), Chút phận cô đơn (tiểu thuyết, Lục tỉnh tân văn 1931),Kén rể chọn dâu (2 tập, tiểu thuyết, Imp.J.Nguyễn Văn Viết, SG, 1931); Cô giáo Yến Hoa lụy vì tình (tiểu thuyết, Imp.J.Nguyễn Văn Viết, SG, 1931); Kẻ oan người ưng (tiểu thuyết, Imp.J.Nguyễn Văn Viết, SG, 1932); Hổ thầm (tiểu thuyết, Imp.J. Viết, SG, 1932); Chị em bạn dâu (tiểu thuyết, Imp.J.Viết, SG, 1933)…

Và hàng loạt các nhà văn khác như: Cẩm Tâm, Đào Thanh Phước, Ellen Anh Hoa, Gabriel Võ Lộ…Cảm hứng đạo lý làm nền cho các tác phẩm phản ánh hiện thực tạo ra khuynh hướng xã hội-đạo lý khá đặc biệt của văn học quốc ngữ Nam Bộ.

4. Văn học Nam Bộ có tính chất đại chúng và phong cách bình dân

Nền văn học mới theo mô hình phương Tây được sinh ra trong các đô thị tư bản chủ nghĩa, về bản chất đã có tính đại chúng, thị trường và hướng tới độc giả bình dân. Tuy nhiên do tính chất đô thị hóa sớm và sâu sắc, do điều kiện kinh tế tương đối dễ dàng và còn do chịu sự chi phối bởi truyền thống mà tính đại chúng, thị trường và phong cách bình dân trong văn học Nam Bộ được chú ý nhiều hơn ở các vùng khác của đất nước.

Báo chí ra đời sớm, lại được hưởng quy chế có phần tự do hơn Trung Kỳ và Bắc Kỳ, nên báo chí Nam Kỳ phát triển rất mạnh. Vào cuối thế kỷ XIX, trong khi các vùng khác chưa biết báo chí là gì thì ở Sài Gòn đã có 3 tờ báo và 1 tờ tạp chí: Gia Định báo (ra đời năm năm 1865), Nam Kỳ nhựt trình (le Journal de Cochinchine, 1885), Phan Yên Báo của Diệp Văn Cương (ra đời năm 1898) và Miscellanées / Thông loại khoá trình của Trương Vĩnh Ký (1888). Đến đầu thế kỷ XX hàng loạt các tờ báo lớn ra đời: Nông cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907), Công luận báo (1916), Nữ giới chung (1918), Nam Kỳ kinh tế báo (1920), Đông Pháp thời báo (1923), Trung lập báo (1924), Thần chung (1929), Đuốc nhà Nam (1928), Phụ nữ tân văn (1929)… Sài Gòn thực sự trở thành “Kinh đô báo chí” của cả nước. Báo chí đã tạo ra một tầng lớp đọc mới: anh công chức, ông tiểu chủ, chị tiểu thương, các bạn học sinh sinh viên, kể cả bác tài xế, anh đạp xích lô… mỗi người một tờ báo đọc khi rảnh rỗi, rồi từ báo mà đến sách. Người vùng khác đến sẽ rất ngạc nhiên ở Sài Gòn tầng lớp lao động thành thị cũng đọc báo, thậm chí nhiều tờ báo vào buổi sáng hay những lúc chờ khách, trong khi đó ở các vùng khác, đối tượng này hình như bị các nhà báo, nhà văn bỏ quên.

Độc giả đã quyết định sáng tác. Rất nhiều các nhà văn bắt đầu sự nghiệp văn học từ báo chí: người ta đăng truyện trên báo bằng hình thức feuilleton trước khi đưa cho các nhà xuất bản in thành sách, như: Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Bửu Mọc, Phú Đức, Nam Đình… Người ta dùng tiểu thuyết để thu hút độc giả, rồi từ đó tạo ra thị trường sách văn học. Nhiều hình thức xuất bản, in ấn ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của độc giả. Sách được tách ra thành từng tập mỏng, thường dày khoảng 36 trang vì vừa một “tay giấy” (một tờ giấy in typo khổ to, gấp lại thành 18 tờ, in 2 mặt thành 36 trang). Số lượng sách in lớn – từ 2000 đến 5000 bản in lần đầu. Giá sách rẻ - chỉ khoảng 3 xu. Có những nhà văn được độc giả mến mộ đã in truyện của mình hàng tuần ra cố định vào một ngày như Lưu Thoại Khải với Việt Đông văn tập ra ngày thứ Sáu.

Chữ quốc ngữ, báo chí đã tạo ra độc giả mới, từ lớp độc giả này người ta đã quy định nền văn học mới đáp ứng yêu cầu của mình.

Trước hết là ngôn ngữ: ngôn ngữ phải như lời nói thường. Ngay từ đầu các nhà văn Quốc ngữ đã chủ trương dùng câu văn xuôi tiếng Việt, đó là "tiếng An Nam ròng" như Trương Vĩnh Ký nói (Ý sách (lời tựa) Chuyện đời xưa, Imprimerie de Quy Nhơn, 1914, tr.3), “lấy tiếng thường mọi người hằng nói” như Nguyễn Trọng Quản chủ trương (Tựa Truyện thầy Lazaro Phiền, Sài Gòn, J. Linage, Libraire – Editeur, 1887). Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Nam Kỳ chính là lời ăn tiếng nói hàng ngày của con người nơi đây. Giai đoạn đầu, nhiều tác phẩm còn viết bằng thứ ngôn ngữ nặng nề, vụng về, và in ấn sai chính tả nhiều. Bên cạnh đó một số tác giả đã vượt lên, viết bằng thứ ngôn ngữ trong sáng, có giá trị văn học cao. Đó là Trần Chánh Chiếu, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Phan Thị Bạch Vân, Phú Đức, Phan Huấn Chương, Phi Vân…

Tính chất đại chúng còn thể hiện ở sự phát triển mạnh mẽ một số thể loại, thể tài văn học có sức hút cao. Đó là tiểu thuyết tình ái với Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Việt Đông, Cẩm Tâm…; Tiểu thuyết lịch sử với Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử…; Tiểu thuyết nghĩa hiệp với Nguyễn Chánh Sắt, Phạm Minh Kiên...; Tiểu thuyết trinh thám với Biến Ngũ Nhi, Phú Đức…; Tiểu thuyết vụ án với Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Phi Long…

Tính đại chúng, bình dân của văn học Nam Kỳ còn thể hiện ở loại tiểu thuyết chú ý khai thác cốt truyện ly kỳ, giàu hành động. Nhiều nhà văn chú ý ở kể chuyện và đối thoại mà ít chú trọng đến phân tích tâm lý. Nhân vật trong tác phẩm của những nhà văn đó thường trải qua nhiều gian truân, lưu lạc nhiều nơi, gặp nhiều cảnh ngộ éo le, cuối cùng thì kết thúc có hậu. Xã hội được nhìn qua lăng kính đẳng cấp (giàu nghèo), nhân vật được nhìn qua lăng kính đạo đức, lý tưởng xã hội chủ yếu là ở hiền gặp lành, ở ác thì bị trừng phạt. Đó là cách nhìn của người bình dân. Chỉ có một số nhà văn, một số tác phẩm nhìn nhận vấn đề xã hội sâu sắc hơn và phản ánh vào tác phẩm một thứ hiện thực trần trụi hơn.

Kết luận

Văn học quốc ngữ Nam Bộ được sinh ra từ đô thị hiện đại hóa sớm nhất là Sài Gòn, và mấy chục năm sau đó đều chủ yếu diễn ra ở thành phố này. Sinh ra từ thành phố thuộc địa của một dân tộc bị mất nước, nên nó không thể phát triển tự do. Mặc dầu vậy nó vẫn tìm cách tồn tại để xây dựng nền văn học mới bằng ngôn ngữ dân tộc và có tính chất đại chúng. Trong mấy chục năm từ cuối thế kỷ XIX đến thập niên 1930, văn học quốc ngữ Nam Bộ đã đạt được những thành tựu rực rỡ với hàng mấy chục tác giả và hàng trăm tác phẩm. Văn học quốc ngữ Nam Bộ là bộ phận tiên phong của văn học dân tộc, bên cạnh những tính chất chung, nó cũng có những đặc điểm riêng làm phong phú thêm cho văn học dân tộc.

PGS.TS ĐOÀN LÊ GIANG
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 12 năm 2016

Chú thích:

[1] Trương Duy Toản viết Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân, Tân Dân Tử viết: Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc, Hoàng Tử Cảnh như Tây.



Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2018

TẾ HANH: ĐỜI TÔI THỰC HAY MỘNG, ĐỜI TÔI BUỒN HAY VUI

Trong các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Tế Hanh có dáng vẻ của một thi sĩ hơn cả, không phải chỉ bởi “đôi mắt nồng nàn lạ” (Hoài Thanh-Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam) mà còn là, hay chính là, bởi vẻ buồn ngơ ngác của ông, không phải chỉ trên vẻ mặt mà cả trong cách hành xử, ứng đối của ông với mọi người, mọi sự.
Nhà thơ Tế Hanh và bút tích của ông

Quan lộ của ông hanh thông. Những việc, những địa vị nhiều người thèm muốn, cạy cục chạy vạy lại đến với ông hoàn toàn tự nhiên.

Có lẽ, một phần do uy tín văn chương của ông, đức độ của ông, phần khác, do ông không âm mưu, không phe phái, không khiến bất cứ ai phải dè chừng. Ông là một trong những ủy viên Ban chấp hành “chuyên nghiệp”, có lúc là Ủy viên thường vụ, có lúc là Trưởng ban Đối ngoại, có lúc tham gia lãnh đạo báo Văn nghệ, Nhà xuất bản Văn học… Tôi không biết, không hình dung được, con người “dư một ít lời thơ”, “dư thương sớm, sẵn ngơ ngẩn chiều”, con người “Gặp em câu cuối cùng chưa nói/ buổi sớm qua rồi, sắp hết trưa” ấy đã hoàn tất những công việc quan trọng đó như thế nào. Có lẽ, một cách cũng …: “Vừa thực lại vừa mộng/Vừa gần lại vừa xa” mà thôi. (Mùa thu Yanta).

Tế Hanh rất hiền. Rất thật thà. Rất giàu yêu thương. Nhiều bạn văn chương như Quách Tạo, Chế Lan Viên, Khương Hữu Dụng, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Đình, Tịnh Hà, Hà Minh Đức, Phạm Hổ, Nguyễn Đình Thi, Võ Văn Trực, Mã Giang Lân, Vũ Quần Phương… nhận được lời đề tặng trước các bài thơ của ông. Trong số bạn văn nghệ, hình như ông gần gũi, thân thiết hơn với Huy Cận, Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên. Giữa họ có sự khăng khít của mối tình bè bạn từ nhiều năm tháng của cuộc đời. Bài thơ ông viết sau khi Xuân Diệu mất thấm thía chân tình:

Mọi khi đến nhà anh/ Tôi gọi to: Diệu ơi/ Nghe anh trả lời:/ Hanh đó hả// Hôm nay đến nhà anh/ Tôi gọi thầm: Diệu ơi/ Và chỉ nghe tiếng tôi: Diệu ơi. Cái tiếng vọng thiệt thà, âm thầm mà da diết này chính là Tế Hanh, là thơ Tế Hanh. Nhưng ông thân với Chế Lan Viên hơn cả. Chế Lan Viên là nhà thơ sắc sảo nhất của làng thơ Việt. Tôi có cảm giác Chế Lan Viên cần sự hồn hậu ở bạn và Tế Hanh thì “nương tựa” vào sự mạnh mẽ, quyết đoán của Chế Lan Viên. Tôi được một chị bạn làm việc tại văn phòng Hội Nhà văn kể lại câu chuyện sau: Một hôm, có cuộc họp gay cấn về một vấn đề nào đó của Đảng đoàn Hội. Giữa chừng, Chế Lan Viên có điện thoại, ông phải xuống văn phòng để nghe (hồi đó chưa có di động mà máy cố định cũng rất ít). Chế Lan Viên đang nói chuyện thì thấy Tế Hanh chạy từ tầng trên xuống, giọng lo lắng: Hoan ơi, nhanh lên, họ phản công rồi. Chế Lan Viên vội vã theo chân bạn trở lại cuộc họp.

Có vẻ như những cuộc họp kiểu đó, những gay gắt, những đối đầu đều không chút thích hợp với Tế Hanh. Ông không muốn tham dự nhưng lại không thể né tránh. Những khi nghe ông thầm thì các câu chuyện tưởng là thâm cung bí sử của giới lãnh đạo nhà nước, giới lãnh đạo văn nghệ mà hầu như ai ai cũng đã biết, mới thấy hết sự mơ màng thi sĩ của ông. Những lúc như vậy, tôi có cảm giác ông đang bước lạc vào một thế giới xa lạ và lại nhớ tới nhận xét “người rụt rè, ngượng nghịu như một chàng rể mới” của Hoài Thanh.

***

Nhưng Hoài Thanh cũng từng viết về con người rụt rè, ngượng nghịu ấy: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm”. Vâng, Tế Hanh là một người tinh lắm trong cõi Thơ của mình. Hoài Thanh cũng viết: “Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người có sẵn một tâm hồn tha thiết.” Vâng, Tế Hanh có một tâm hồn tha thiết với những nơi chốn, những tình cảnh, những con người ông yêu mến, xót thương. Chế Lan Viên đã viết rất hay, rất chính xác về cái tạng của Tế Hanh, về bầu khí nuôi dưỡng thơ Tế Hanh: “Dù anh viết khá hay vể biển, biển trong bão dữ, nghĩ đến anh, tôi vẫn nghĩ đến cái êm đềm của những dòng sông. Chim anh viết hay, không phải hải âu mà là chim én. Anh có thể tả mùa hè rực rỡ nhưng hình như anh xúc động nhất mùa thu... Nếu vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm vào các trái hồng lẫn trái xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó sẽ hì hục tìm thơ trong bộ rễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh phúc”(Tế Hanh hay Thơ và Cách mạng - Tuyển tập Tế Hanh, NXB Văn học, 1987). Nhưng dường như chưa thỏa, vài lần khác trong bài viết, Chế Lan Viên nhấn lại ý trên: “Và giữa bao nhiêu cái rộn ràng ấy, thì cái lõi, cái thực chất Tế Hanh, người tình nhân (Tôi nhấn mạnh), vẫn còn lại đó” (s đ d). Sở dĩ tôi trích Chế Lan Viên nhiều như vậy, một phần bởi ông là người bạn tri âm tri kỷ của Tế Hanh, ông là người yêu và hiểu Tế Hanh, yêu và hiểu thơ Tế Hanh hơn bất cứ ai. Phần khác, tôi có cùng cảm nhận như ông khi đọc Tế Hanh, khi gặp Tế Hanh, ngoại trừ việc ông cho rằng, nếu cách mạng không đến, có khi Tế Hanh: “thành nhà thơ trừu tượng cũng nên” (s đ d). Chính Tế Hanh đã chẳng từng khẳng định: Tôi muốn viết những dòng thơ dễ hiểu/ Như những lời mộc mạc trong ca dao” đó thôi. Có thể, những lời đó được viết trong một cảnh ngộ cụ thể nào đó, một trạng thái tình cảm nào đó nhưng từ trong bản chất, thơ Tế Hanh thuộc dòng thơ tình cảm, hơn thế, trực cảm. Những câu thơ hay của Tế Hanh như món quà bất ngờ trời đất ban tặng, như một bông hoa quý hiếm chợt hiện ra trên đường, ngay trước mắt và trong tầm tay.

Trong bài thơ Viết sinh nhật 60, Tế Hanh đã rất thành thật khi nói rằng: Khi tôi hai mươi tuổi người ta đọc thơ tôi/ Khi tôi ba mươi tuổi, người ta quên thơ tôi/Khi tôi bốn mươi tuổi, người ta lại đọc thơ tôi/ Khi tôi năm mươi tuổi, người ta còn đọc thơ tôi.

Thực ra thì khó có một thời điểm dứt khoát, rạch ròi đến vậy. Ta chỉ có thể nói đến một khoảng thời gian nào đó mà thôi. Khi Tế Hanh ở độ tuổi đôi mươi, ông có Quê hương, Lời con đường quê, Những ngày nghỉ học, Phơi phới, Dễ thương, Vườn cũ, Hoàng hôn… những bài thơ sau hơn 70 năm vẫn còn in dấu trong tâm tưởng người đọc. Những câu thơ như Tôi, con đường nhỏ chạy lang thang/ Kéo nỗi buồn không chạy khắp làng” (Lời con đường quê); “Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt/Lòng buồn đau xót nỗi chia xa/ Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu/ Ngàn đời không đủ sức đi mau/Có chi vương vấn trong hơi máy/ Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau… Lẽo đẽo tôi về theo bước họ/ Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương (Những ngày nghỉ học); Cảm giác êm êm khẽ động vừa/ Lan từ bóng lá ủ ê đưa/ Âm thầm cửa hé trông xa vắng/ Như lúc đầu thu những buổi trưa (Dễ thương);Nhà người yêu mến ngang qua đấy/ Vắng mặt nên lòng thấy biệt ly” (Có những con đường); Nắng nhớ rưng rưng chớp lệ mờ/ Mây buồn đôi mảnh vẩn lơ thơ/ Cỏ cây im lặng như từ thưở/ Đôi lứa xa nhau vẫn đợi chờ (Vườn cũ); Lẻ loi cho đến cả bên chân/ Cái bóng trung trinh cũng chẳng quầng (Hoàng hôn)… đã lặm vào, đã ẩn sâu trong tâm hồn nhiều thế hệ yêu văn chương Việt Nam.

Khi Tế Hanh ở độ tuổi 40- 50 người đọc thường nhắc đến Nhớ con sông quê hương, Chiêm bao, Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Bão, Vườn xưa, Cha ngồi ở giữa, Mặt quê hương, Mặt mùa xuân, Gặp xuân ở ngoại thành, Chăn con, Tiếng sóng, Gửi miền Bắc, Rét nàng Bân, Điệu quê hương, Mùa thu Yanta, Phạm Thái, Tình yêu của sách, Cái nhìn, Kinh nghiệm làm thơ, Tặng, Sóng, Hà Nội vắng em… của ông. Đây là khoảng thời gian hồi sinh của Tế Hanh, sau thời gian “người ta quên thơ tôi” (trong thực tế, thời gian ở độ tuổi 30, Tế Hanh viết rất ít hay có thể nói, ông gần như không viết được. Và không chỉ riêng Tế Hanh. Nhiều nhà thơ của phong trào Thơ Mới như Huy Cận, Xuân diệu, Chế Lan Viên đều hăng hái tham gia cách mạng tháng 8 và kháng chiến giải phóng dân tộc nhưng cũng viết ít và không để lại dấu ấn. Và, không chỉ các nhà thơ. Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng này là một công việc đòi hỏi nhiều công phu và xin bàn vào dịp khác).

Bài thơ tình ở Hàng Châu được viết trong một chuyến thăm Trung Quốc, vào những ngày hòa bình đầu tiên sau cuộc kháng chiến 9 năm. Cảnh trí thanh bình, “bốn bề êm ái”, trăng “vời vợi thâu đêm” và Mùa thu đã đi qua còn gửi lại/ một ít vàng trong nắng trong cây/ Một ít buồn trong gió trong mây/ Một ít vui trên môi người thiếu nữ… chính là bầu khí, là đất sống của thơ Tế Hanh. Một ít buồn, một ít nhớ nhung, một ít xót xa, thương cảm, một ít day dứt: Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa/ Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa và Những ngày buồn nghĩ đến thấy vui vui/ Những ngày vui sao lại thấy bùi ngùi… là Tế Hanh, nhà thơ tình cảm, nhà thơ của mùa thu, của ánh trăng, của dòng sông êm, của cánh lá xanh, của ánh vàng sót lại sau thu, của “hoa bắt đầu thưa thớt cuối đường xuân” của “sợi gió đến se cùng sợi liễu”… Cố nhiên, Tế Hanh lúc này không còn là cậu học trò trốn học “tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương” nữa. Nỗi nhớ của ông đã có địa chỉ: nhớ mẹ, nhớ Vườn xưa, Nhớ miền Bắc, ông đã lắng nghe “Điệu quê hương”, lắng nghe “Tiếng sóng”, cái tiếng sóng “đã bao lần vang động giữa thơ tôi”, ông đã nhìn thấy một dòng Hiền Lương: “Nước chảy xuôi dòng bỗng chảy ngang” bởi nỗi đau chia cắt đôi bờ… Và, ông đã yêu:

“Ta đã yêu em/ Như yêu sự sống/ Ngày hiện trong đêm/ Thực hòa với mộng”, ông nhìn thấy quê hương thương yêu, trìu mến qua khuôn mặt người con gái: “mặt em như tấm gương/ Anh nhìn thấy quê hương… Ơi miền Nam yêu dấu/ Trên mặt em yêu dấu/ Ơi tháng năm nhớ thương/ Mặt em là quê hương”. Ông hân hoan cùng cảnh trí: “Tôi từ nội thành ra ngoại thành/ Vừa gặp mùa xuân đi ngược lại”… Và, trong tâm hồn hiền hậu của Tế Hanh đã có một cơn bão: Cơn bão nghiêng đêm/ Cây gãy cành bay lá/ Ta nắm tay em/ Cùng qua đường cho khỏi ngã// Cơn bão tạnh lâu rồi/ Hàng cây xanh thắm lại/ Nhưng em đã xa xôi/ và cơn bão lòng ta thổi mãi”… Cơn bão, chính là một chỉ dấu sự thay đổi của Tế Hanh trong giai đoạn này.

Trong vài ba mươi năm Tế Hanh đã xuất bản hàng chục tập thơ: Gửi miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương, Khúc ca mới, Đi suốt bài ca, Câu chuyện quê hương, Theo nhịp tháng ngày, Giữa những ngày xuân, Con đường và Dòng sông. Đây là giai đoạn Tế Hanh viết nhiều và có nhiều bài thơ hay. Tuy nhiên, như Tế Hanh từng viết, một cách khiêm tốn: “Đem bày tỏ nỗi lòng/ Trong câu thơ cảm khái/ Có đôi khi thành công/Và nhiều khi thất bại”, ông chỉ thực sự thành công ở những bài thơ tình cảm, hợp tạng của mình.

Trong một bài viết về Tế Hanh, Thanh Thảo cho rằng: “Thơ Tế Hanh có lẽ gần nhất với âm nhạc đồng quê, gần nhất với những khúc ca quê mà người ở đầu sông hay cuối bãi vẫn thầm hát cho chính mình. Không hề cố gắng, không tỉa tót hay triết luận, thơ Tế Hanh đến ngay người đọc theo con đường thẳng, như cách của một người bạn thật thà, chân thành và đôn hậu, thuyết phục ta bằng sự hồn nhiên bẩm sinh, bằng tiếng nói nguyên thủy của con người khi yêu thương, bằng sự dễ dàng còn lại sau mọi phức tạp đã qua (Từ Hoa niên tới mãi mãi -Tưởng nhớ nhà thơ Tế Hanh, NXB Hội Nhà văn, 2009). Thanh Thảo cũng cho rằng, dù đọc rất nhiều thơ nước ngoài, am hiểu thơ hiện đại phương Tây, yêu thích Aragon, Eluard, Rene Char, Saint-John-Perse…và dịch nhiều thơ, Tế Hanh “vẫn rất mộc mạc, thật hồn nhiên và với ông, kỹ thuật thơ, dù là kỹ thuật tân kỳ, vẫn không khiến ông quan tâm bằng chính cảm xúc và sự hồn nhiên, đôn hậu (s đ d.). Nhận xét này của Thanh Thảo làm tôi nhớ tới những lần được nghe Tế Hanh trò chuyện, nhận xét về thơ Ta, thơ Tây. Tế Hanh cũng là người “tinh lắm” trong việc thẩm định thơ.
Nhà thơ Việt Phương kể với tôi, vào năm 1963 ông đem mấy bài thơ tình nhờ Tế Hanh đọc. Ít lâu sau, Tế Hanh nói với Việt Phương: “Phương viết những bài nghĩ về tình yêu chứ không phải những bài thơ tình”. Đến hôm nay Việt Phương vẫn còn nhớ lời nhận xét ấy hẳn vì nó vừa chân tình vừa xác đáng. Lại nhớ, trong bài Kinh nghiệm làm thơ, Tế Hanh có một đoạn thơ so sánh thâm thúy giữa việc làm thơ/ bài thơ và tình yêu/ người yêu: “Mỗi lần làm thơ tôi lại như bắt đầu/ Hơn mười năm làm thơ, tôi chưa rút ra kinh nghiệm/ Như một người đang yêu, tôi chỉ biết/ Tôi yêu. Tình yêu có kinh nghiệm gì đâu” và “Một bài thơ hay như bóng dáng người yêu/ Càng lâu càng mơ, càng xa càng nhớ”.

Tế Hanh tự hỏi: Tôi phải làm thế nào/ Khi tôi bảy, tám mươi tuổi người ta vẫn còn đọc thơ tôi.
Có lẽ không ít người nghĩ đến điều đó nhưng chỉ duy nhất Tế Hanh thổ lộ trước chúng ta. Sự chân thành này nuôi sống thơ Tế Hanh. Hàng trăm năm sau người đọc vẫn sẽ nhớ đến những dòng thơ chân tình tha thiết, những nỗi buồn thương của Tế Hanh. Cái ánh ngọc dịu dàng ấy sẽ mãi lặng thầm tỏa sáng trong tâm hồn chúng ta. “Ta sẽ giã từ đời. Thơ vẫn ở/ Trong mùa xuân vĩnh viễn góp vui chung”.

* * *

Các bác, các chú Khương Hữu Dụng, Yến Lan, Trinh Đường, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn Bổng, Tế Hanh là bạn của ba tôi từ hồi còn ở Văn Nghệ Liên khu 5. Khi tập kết ra Bắc, mối quan hệ này vẫn tiếp nối, thân tình, gần gũi. Ba tôi chuyên ngành Sân khấu, con của các bác các chú lại ít ai theo nghiệp cha. Vì vậy, tôi được các bác các chú để tâm dìu dắt. Bác Khương Hữu Dụng, chú Trinh Đường và chú Tế Hanh thường gặp gỡ, trò chuyện với tôi về Thơ, như với một người đồng nghiệp trẻ. Em trai của chú Tế Hanh, nhạc sĩ Thế Bảo là bạn thân của nhà tôi từ ngày nhỏ ở quê Bình Sơn, Quảng Ngãi. Mối quan hệ nhiều riềng mối này khiến chú cháu thân nhau hơn. Có lần chú đến nhà tôi ở khu tập thể Đại học Tổng hợp, phố Lò Đúc tặng tập Thơ thiếu nhi cho các con tôi. Tiếc là tập thơ đã bị thất lạc, trong tủ sách của chúng tôi chỉ còn lại Tuyển tập Tế Hanh in năm 1987 với lời đề tặng: Tặng Ý Nhi, gửi Nguyễn Lộc của chú. Năm 1974, sau một thời gian làm thơ, có thơ in nơi này nơi khác, tôi được chú Tế Hanh nhắn chọn thơ đưa tới nhà xuất bản Văn học- nơi chú đang làm việc. Sau này, thơ tôi và Lâm Thị Mỹ Dạ được in chung trong tập Trái tim - Nỗi nhớ. Nếu không có lời nhắn của chú, hẳn tôi không dám đem thơ đến một nhà xuất bản lớn như vậy. Tôi hiểu, ngoài sự quan tâm đến thơ trẻ nói chung, chú còn quan tâm đến đứa cháu cùng tên với người con gái đầu lòng, do hoàn cảnh chiến tranh, chú chưa được gặp. Sau ngày thống nhất đất nước, chú vào Đà Nẵng. Vốn rụt rè, chú nhờ ba tôi đưa đến thăm gia đình cô Phụng và Ý Nhi. Ba tôi kể, suốt cuộc gặp gỡ, chú rất xúc động, gần như không nói được điều gì. Dịp khác, chú cùng vợ chồng Ý Nhi đến thăm ba mẹ tôi. Ý Nhi có đôi mắt đẹp giống chú.

Sau 1975, tôi về làm việc tại Nhà xuất bản Tác Phẩm mới, cùng ở trong số nhà 65 Nguyễn Du của Hội Nhà văn. Nhà chú ở Nguyễn Thượng Hiền, cùng khối nhà với cơ quan nên chú thường đi bộ đến Hội. Thỉnh thoảng chú lại ghé lên Nhà xuất bản, khi thì trò chuyện với Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, khi thì trò chuyện với Xuân Quỳnh, Lê Minh Khuê, khi ghé vào phòng giám đốc, gặp Vũ Tú Nam, Nguyễn Kiên và thường ghé vào Phòng biên tập Thơ của tôi.

Câu chuyện của chú chỉ xoay quanh chuyện văn chương, mặc dù ở Hội Nhà văn lúc ấy có khối chuyện để người ta thì thầm to nhỏ. Có lần, chú đến chơi gặp lúc Nhà xuất bản đang họp (NXB thời kỳ này tập hợp được một số anh chị em xuất sắc trong các lĩnh vực. Ai cũng lo làm việc, chẳng màng chuyện địa vị, chức tước…nên không khí rất vui). Tế Hanh kéo ghế ngồi cạnh Xuân Quỳnh và tôi - 2 tên đến trễ, ngồi bên ngoài, đang mải mê tán chuyện. Như mọi khi, chú chỉ ghé chơi, chẳng để tâm đến việc người ta đang bàn luận và biết vậy, mọi người vẫn tiếp tục bàn soạn công việc, tranh cãi, thảo luận, không ngần ngại. Tế Hanh là vậy, thực thà, hiền hậu, mơ màng. Có lúc yêu một ai đó, Tế Hanh cũng chỉ biết làm thơ: “Em biết không giữa anh và em/ Không nói được nhiều hơn là nói được”, cũng chỉ biết: “Cùng đi một quãng nói bằng lặng im”, cũng chỉ có thể Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em”. Mà nếu muốn tặng quà thì cũng chỉ có thể tặng em: “Mây nổi trên ngàn/ Trăng phơi đầu bến, biển vang cuối bờ… Tặng em thế kỷ chúng ta/ Nỗi vui nỗi khổ đều qua vội vàng”. Chẳng may, em bỏ ta mà đi thì đành tự an ủi: “Mất người yêu ta còn lại tình yêu”.

...
Nhưng chú đọc thơ thì thật tinh ý, thật nhạy cảm. Năm 1981, sau chuyến đi Tiệp Khắc, tôi in hai bài thơ trên báo Văn Nghệ. Gặp tôi trước cổng Hội Nhà văn, chú bảo: Hai bài đều khá nhưng chú thích bài Một buổi chiều ở Praha hơn. Chú bảo, chú cũng có viết về Praha nhưng đó là một Praha khác. Nghĩ một chút, chú nói thêm:

Mà cháu cũng khác rồi. Mãi sau này, khi đã qua một thời gian viết và chuẩn bị cho xuất bản Người đàn bà ngồi đan, tôi mới hiểu hết ý của chú. Quả thật, Một buổi chiều ở Praha là bài thơ mở đầu cho một giai đoạn khác của thơ tôi. Nhà xuất bản nhờ chú đọc giám định tập Người đàn bà ngồi đan.Chú gặp tôi, bàn bạc kỹ cách chọn bài và đề nghị rút bài Nguyễn Du, 1813 ra khỏi tập. Tôi tiếc lắm nhưng vẫn làm theo vì biết chú lo cho tôi. Quả nhiên, khi bài thơ in trên Tạp chí Sông Hương, có người đã gọi bài thơ là, Ý Nhi, 1983, có ý cho rằng tôi có tâm trạng không tích cực… Khi tập thơ được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn, với tư cách ủy viên Hội đồng Thơ, chú đã có bài viết nhận xét, đăng trên báo Văn nghệ, có tiêu đề Sự hình thành một bản lĩnh thơ. Chú cho rằng: “sự phản ảnh thực tại ở đây là tâm trạng của nhà thơ… tất cả là độc thoại…những cảm xúc nội tâm ấy được nâng lên trong một lối diễn tả mới mẻ. Ý Nhi thuộc vào lớp những nhà thơ đã đi xa cách diễn tả sẵn có từ phong trào thơ mới”.

Hồi chú Tế Hanh bị đau mắt, tôi thường ghé qua nhà thăm cô chú. Chú buồn lắm vì đi lại khó khăn, và nhất là vì không được đọc sách. Tôi nhớ, ít nhất chú có 3 bài thơ liên quan đến sách: Tình yêu của sách, Câu chuyện đọc sách, Cái tủ sách của cha tôi. Chú từng viết: Có tập thơ dính đầy bụi bặm/ Thời gian toan phủ một màu quên/ Có tập bị chuột ăn, gián gặm/ Tôi tưởng chừng da thịt tôi rên… Chỉ có sách: một niềm chung thủy/ Sách chẳng bao giờ nỡ bỏ ta… Vậy mà, oái oăm thay, đôi mắt đẹp của chú cứ ngày một mờ đi: Mắt anh không được như xưa/ Nhìn đêm bỡ ngỡ, nhìn trưa bàng hoàng… Mắt em ngày trước hồ trong/ Anh nhìn đôi lúc ngỡ vòng sương rơi/ Nói sao hết được em ơi/ Anh không thể bắt cuộc đời đứng yên.

Không thể đọc sách, không thể đi xa, chú thường đi quanh hồ Thiền Quang, cái hồ rất đẹp chỉ cách nhà chú vài trăm mét. Nếu như ngày trước Tôi đi quanh hồ hàng nghìn cây số/ Bước tôi đi đo thử bước thời gian/ Trong đời tôi những vui buồn sướng khổ/ Hồ biết không, hỡi hồ Thiền Quang… Thì sau này: Đi dò dẫm bên hồ từng bước/ Tôi thấy hồ như một khối mơ hồ/ Tôi biết hồ nhờ nghe qua hơi nước/ Đi bên hồ như bước giữa hư vô… Trên đường đến nơi làm việc, tôi thường nhìn thấy Tế Hanh bước chậm rãi quanh hồ, dáng phân vân, nghĩ ngợi. Hình ảnh đó đã gợi cho tôi viết bài thơ Nhà thơ và cái hồ nhỏ. Tôi muốn dùng bài thơ để kết thúc bài viết về Tế Hanh, người từng đặt câu hỏi: Đời tôi thực hay mộng/ Đời tôi buồn hay vui.

NHÀ THƠ VÀ CÁI HỒ NHỎ

Khi đời đã trụi trần, đối diện với mình đây
(Mùa thu-E. Evtusenko)

Mặt hồ quen từ buổi thiếu thời
chợt sáng lên như mảnh gương
trong mùa đông của tuổi sáu mươi
và cái ánh mới mẻ ấy
vừa đẩy ông ra xa
vừa vẫy gọi ông
tìm đến soi nhìn.

Những cuốn sách mang tên ông
những phần thưởng
những diễn đàn
những bài viết ngợi khen
những chào mời vồ vập
những bức ảnh in to và rõ nét
những chương trình phát thanh và vô tuyến truyền hình

Phải chăng
đó là cuộc đời ông

Giọt nước mắt ràn rụa qua gương mặt
hạnh phúc
nụ cười cay đắng trước trò đùa nghiệt ngã của số phận
cái giá của tự do
mặt trái của quyền lực
sự nhân nhượng của con người trước cái ác
ranh giới giữa cái đẹp và sự phù phiếm
bao ý nghĩ từng giày vò ông
và như một chứng bệnh
chúng không thể chữa khỏi bằng thứ vinh quang ông có được

Phải chăng
đó là cuộc đời ông

Lòng đố kỵ giấu kín dưới từ ngữ đẹp đẽ
sự phản trắc được giải thích bằng những lý lẽ sắc sảo
ham muốn tầm thường
được che đậy bằng câu chuyện bông đùa
và nỗi sợ hãi
hầu như vô nguyên cớ
suốt đời đè nặng ông bằng sức nặng vô hình
suốt đờ trói buộc ông bằng dây nhợ vô hình

Phải chăng
đó là cuộc đời ông

Trong những chiều
Nhà thơ thường đi quanh cái hồ quen
vẻ như khách lạ.

4/1987
Ý NHI

Nguồn: Tiền Phong


NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU