Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

TRUYỆN KIỀU, PHÒNG THỬ NGHIỆM NHỮNG CÁCH ĐỌC

Lịch sử văn học, thực chất, là lịch sử của những cách đọc. Bởi thế, với tư cách là một tác phẩm văn học, Truyện Kiều không chỉ là 3254 câu lục bát do Nguyễn Du viết, mà còn bao gồm cả những gì đương thời và hậu thế viết về cái văn bản ấy.

Người đọc, bằng kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mỹ của mình, lấp đầy những khoảng trống/ trắng/ lặng, đáp trả những thách đố của văn bản, giả nhời những câu hỏi ẩn hiện của tác giả. Rồi lại có những người đọc những văn bản bậc hai ấy. Truyện Kiều, cứ như vậy, như được tiếp sức bởi hết những đợt sóng chữ này đến những đợt sóng chữ khác, nối dài, đi sâu và mở rộng cuộc sống của nó. Tác phẩm càng lớn, càng không cạn kiệt thông tin, thì càng được đọc nhiều, đọc bền, và quan trọng hơn, đọc mới.

Đối sánh kinh nghiệm với tác giả, mỗi người đọc, dường như, đều có một tác phẩm của mình và chomình. Truyện Kiều trong sự hình dung của anh và của tôi là không giống nhau. Nhưng không vì thế mà có bao nhiêu người đọc Truyện Kiều thì có bấy nhiêu cách đọc Truyện Kiều. Mỗi một cách đọc đều xuất phát từ một lý thuyết văn học và do đó, một phương pháp phê bình văn học. Tuy nhiên, chỉ có những siêu người đọc thì mới tìm ra được cách đọc mới, còn những độc giả thông thường chỉ là người đọc theo, mà đôi khi không tự biết, vì nó đã được xã hội hóa và đi vào tự động. Đến lúc ấy, để tránh nguy cơ nhàm chán, người ta lại phải đi tìm một cách đọc mới khác.

Cách đọc mới này, để thử thách tính hiệu quả của nó nhằm thuyết phục người theo, phải được đưa vào phòng thử nghiệm. Phòng thử nghiệm, đó là những tác phẩm lớn, chịu được thử thách của thời gian để trở thành cổ điển, như thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Công Trứ, Truyện Kiều… Tác phẩm lớn đã đành là không bao giờ cạn kiệt thông tin, nhưng, quan trọng hơn nó đã được những cách đọc trước khai phá, nên dễ nhận ra thành tựu của cách đọc sau qua một sự so sánh tối thiểu. Như vậy, mỗi một thử nghiệm cách đọc là một mũi tên bắn trúng hai đích: vừa khẳng định một phương pháp mới, lại vừa khám phá ra một chiều kích thẩm mỹ mới của tác phẩm. Hay nói khác, càng khám phá bao nhiêu thì càng khẳng định bấy nhiêu; hai là một không thể tách rời.

Với ý nghĩa đó, Truyện Kiều, từ khi ra đời đến nay, đã trở thành viên đá triết học, hoặc chiếc gậy điểm kim thạch của bao nhiêu cách đọc. Ở thời phê điểm trung đại chỉ có các ý kiến về Truyện Kiều nằm trong các bài luận, tựa, vịnh và tổng vịnh. Nếu người thơ viết để ký thác tâm sự, trình bày ý chí, thì người phê điểmviết chủ yếu cũng để ký thác tâm sự mình, bày tỏ sự đồng cảm với người. Thơ (bài, tập, truyện) chưa được coi như một thực - thể - chữ có thể tồn tại độc lập (tương đối, dĩ nhiên), mà chỉ là một mảnh gương phản chiếu lại phần nào chân dung tinh thần tác giả. Chỉ khi bước vào thời hiện đại có phê bình - như một bộ môn của khoa học văn học hẳn hoi, thì mới có cách đọc như một lý thuyết văn học. Đã có nhiều cách đọc Truyện Kiều, nhưng ở đây tôi chỉ nói đến một vài cách đọc tiêu biểu mang tính hệ hình và, cũng quan trọng không kém, là mang lại những khám phá nghệ thuật xuất sắc.

*

Trước hết là cách đọc/ phê bình tiểu sử học. Cách đọc này chủ yếu dựa trên quan niệm văn là người. Bởi vậy, nghiên cứu Nguyễn Du cũng là nghiên cứu Truyện Kiều, ngược lại nghiên cứu Truyện Kiều cũng là nghiên cứu Nguyễn Du. Truyền thống Đông Á xưa nay vốn là văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Ngày xưa, Mộng Liên Đường Chủ Nhân viết: “Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như khóc Thúy Kiều, việc tuy khác mà lòng thì là một”. Thời nay, René Crayssac cũng viết: “Cảnh ngộ của cô Kiều với cảnh ngộ của tiên sinh (tức Nguyễn Du - ĐLT) hình như cũng là một hội một thuyền đâu xa”. Thi nhân xưa sáng tác chủ yếu để ký thác vào đấy những nỗi lòng, cảnh ngộ của mình. Và, tất cả những điều đó, ở Nguyễn Du, được Đào Duy Anh khái quát lại thành một từ tâm sự, hẹp hơn tâm sự Nguyễn Du. Một kết tinh những trải nghiệm, dằn vặt, u uất, là động lực bên trong của sáng tạo nghệ thuật.

Năm 1943, trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều(1), Đào Duy Anh đã nghiên cứu kỹ về dòng họ, gia thế, thời thế, quê quán Nguyễn Du, thời điểm viết Truyện Kiều, để “dựng” nên một tiểu sử/ thân thế nhà thơ phù hợp với “lý thuyết tâm sự”. Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình khoa bảng. Cha, anh đều là quan lớn đầu triều của nhà Lê - Trịnh. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, nhà thơ sa vào cảnh “Kìa những kẻ màn loan trướng huệ/ Những tưởng mình cung quế hằng nga/ Một phen thay đổi sơn hà/ Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu” (Văn chiêu hồn). Rồi khi Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, ông theo không kịp. Ở lại chống Tây Sơn, nhưng âm mưu chống Tây Sơn cũng bất thành. Về sau, ông đành phải ra làm quan với nhà Nguyễn. Tuy được thăng tiến rất nhanh, nhưng Nguyễn Du vẫn giữ thái độ lừng khừng. Đặc biệt lúc hấp hối, chốc chốc ông lại sai người nhà sờ xem mình đã lạnh đến đâu rồi và sau cùng nói “được” và mất. Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng đến chết Nguyễn Du vẫn ôm một nỗi cô trung với nhà Lê. Tâm sự này của ông cùng một tâm sự với Thúy Kiều: yêu một người mà phải trao thân gửi phận cho người khác. Bởi thế, Nguyễn Du phóng/ sáng tác ra Truyện Kiều để trút tâm sự, cái tâm sự hoài Lê ấy, giải tỏa và thanh minh, mong rằng hậu thế ba trăm năm sau sẽ có người hiểu/ khóc mình: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.

Thế là tâm sự hoài Lê trở thành một từ - chìa khóa không chỉ giải thích được nhiều điều trong Truyện Kiềuvà các sáng tác khác của Nguyễn Du, mà còn mở sang cả văn thơ của các tác giả khác với tư cách là các di thần của nhà Lê, thậm chí lan sang cả con cháu họ, như trường hợp như Bà Huyện Thanh Quan chẳng hạn. Cách đọc này được hưởng ứng nồng nhiệt, một mặt vì nó phù hợp ở một mức độ nhất định với cách đọc truyền thống, với quan niệm trung đại về văn chương, mặt khác nó là sản phẩm của mỹ học lãng mạn, đề cao chủ thể sáng tạo, coi mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm là quan hệ nhân quả, nên biết nhân/ tác giả sẽ loại suy ra quả/ tác phẩm.

Nhưng dần dần người ta cũng thấy được, nếu tâm sự tác giả ở đây, mà tác giả chỉ là tác giả tiểu sử, thì phần nhiều chỉ giải thích được những cạnh khía chính trị - xã hội của tác phẩm, mà không khám phá được đặc thù nghệ thuật của nó. Ví như, biết bao người có tâm sự hoài Lê, nhưng sao chỉ có Nguyễn Du viết nên Truyện Kiều? Hoặc cái gì làm nên sự đặc sắc của nghệ thuật Truyện Kiều thì chìa khóa tâm sự hoài Lê không giải đáp nổi. Để trả lời câu hỏi này, người ta phải đi tìm những cách đọc khác. Trước hết cần phải mở rộng khái niệm tác giả. Tác giả mở rộng với tư cách là một nguyên nhân. Từ đây có cách đọc theo trường phái văn hóa - lịch sử của H. Taine: tác phẩm được coi như là sản phẩm của một trạng thái văn minh với ba khởi nguyên của nó (hoặc để đánh giá nó) là chủng tộc, thời điểm và môi trường. Rồi đến E. Zola, người khởi xướng trường phái tự nhiên chủ nghĩa, thì ba khởi nguyên ấy hội tụ thành một:khí chất của tác giả. Khí chất, theo ông, là cửa sổ để nhà văn nhìn ra thế giới và do đó, theo tôi, cũng là cửa sổ để người đọc nhìn vào thế giới của nhà văn.

Người đầu tiên và duy nhất mang cách đọc này thực hành ở Truyện Kiều là Trương Tửu trong tác phẩmNguyễn Du và Truyện Kiều(2) (1942). Khởi nguyên thời điểm được ông gọi là thời đại (Nguyễn Du), chủng tộc thành giòng họ, môi trường thành quê hương nội và ngoại. Nguyễn Du thuộc giòng giống nho sĩ - thư/ quan lại có tài thơ văn. Nước Nam bấy giờ có năm cây bút tài giỏi nhất, An Nam ngũ tuyệt, thì nhà Nguyễn Du đã chiếm mất ba, trong đó có cá nhân ông. Hồng lĩnh Lam giang quê ông là một cảnh tượng hùng vĩ, nơi núi rừng, đồng bằng và biển cả chỉ một cái quay đầu là thu gọn vào trong tầm mắt. Nhưng đấy cũng là nơi khắc nghiệt: đất đai cằn cỗi, gió Lào khô nóng và bão tố lũ lụt. Hơn nữa, trong lịch sử, đây lại là miền biên viễn, nơi con người luôn phải đối mặt với chiến tranh, nhưng cũng là nơi tìm đến của những kẻ thành tích bất hảo, hoặc những người yêu thích tự do. Điều này làm nên tính cách Nghệcứng cỏi, ham hiểu biết, giàu ý chí ở Nguyễn Du. Nhưng ở thi nhân còn được bổ sung một nết đất khác là Kinh Bắc quê mẹ: mềm mại, trọng tình cảm và giàu óc tưởng tượng. Tuy vậy, quê hương và giòng họ là những yếu tố tĩnh, nó chỉ được đánh thức và trở nên sống động và tác động, cả ở cạnh khía tích cực lẫn tiêu cực, bởi một yếu tố động là thời đại. Thời đại Nguyễn Du là thời đại nội chiến liên miên, Nho giáo, thứ tôn giáo độc tôn và của nhà nước, trên đà suy tàn. Và cũng vì chiến tranh nên xuất hiện hai tầng lớp mới chưa từng có trong xã hội Việt Nam bấy giờ là quan binh và thương nhân. Họ lũng loạn tầng lớp quan/ thư lại bằng cách vừa đối lập với nó vừa trở thành nó, để phục hưng trở lại Phật giáo, Đạo giáo, văn hóa dân gian (lễ hội), nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là cho ra đời tư tưởng thị dân. Đây là điều kiện cần cho sự lóe rạng của dân chủ, dù chỉ là thứ dân chủ đám đông.

Tất cả những khởi nguyên trên đã tạo ra khí chất, mà không hiểu sao Trương Tửu gọi là cá tính, của Nguyễn Du. Sự khác nhau giữa cá tính và tâm sự, theo Trương Tửu, là ở chỗ tâm sự thuộc về “cái phần sống hữu thức của con người”, còn cá tính là cái phần sống tiềm thức của người ta. Tiềm thức cũng là tư tưởng, nguyện vọng, tình cảm, ham muốn bị dồn nén xuống cõi vô thức, nhưng nó luôn tác động trở lại đời sống hữu thức ngoài sự nhận biết, sự kiểm soát của chúng ta. Cá tính Nguyễn Du là một tâm tính bất ổn “đi không yên ổn, ngồi không vững vàng”, một tình cảm thái quá, thường hay khóc mướn thương vay, mà tâm bệnh học gọi là hysterie (bệnh lo âu, ủy hoàng). Bệnh lo âu cũng dẫn Nguyễn Du đến hoang tưởng, thấy những điều mình tưởng tượng ra đều là thật. Nhưng, tâm bệnh này, từ góc độ người sáng tạo, lại trở thành lợi điểm. Nguyễn Du trở thành một nhà thơ có óc tưởng tượng phi thường. Đây là lý doTruyện Kiều trở thành một sản phẩm tuyệt vời của trí tưởng tượng, trong đó nhân vật không có thực, con ma Đạm Tiên, lại trở nên sống động, chân thực nhất. Ngoài ra, với tư cách là con cháu của một tầng lớp đang suy tàn, Nguyễn Du yêu thích sự tàn lụi, thậm chí nhìn thấy cái đẹp của sự lụi tàn. Không phải ngẫu nhiên mà trong Truyện Kiều nhiều buồn khổ, nhớ nhà, chia ly, đặc biệt là những trốn chạy của Kiều. Mà lần ra đi nào của nàng cũng vào lúc nửa đêm, có ánh trăng và tiếng gà gáy, cũng như cảnh tượng mồ mả. Những tượng trưng của chết chóc, tàn lụi, nhưng lại mang một chất thơ, một vẻ đẹp. Một vẻ đẹp của úa tàn. Như vậy, từ tâm sự đến cá tính (Nguyễn Du), nghiên cứu Truyện Kiều đã đi một bước từ nội dung xã hội sang đặc trưng nghệ thuật, từ cách đọc tiểu sử học sang cách đọc văn hóa - lịch sử, thậm chí cách đọc phân tâm học.

Việc mở rộng con người tiểu sử, hay cụ thể hơn tâm sự Nguyễn Du, sau 1945 còn đi theo một hướng khác. Người ta thừa nhận Nguyễn Du có tâm sự, nhưng không phải tâm sự hoài Lê, bởi Nguyễn Du gắn với Trịnh chứ không gắn với Lê. Còn thái độ của ông với Tây Sơn cũng dần dần thay đổi, nên mới xây dựng nhân vật Từ Hải như là ảnh xạ của Quang Trung. Và việc ông theo nhà Nguyễn là thực lòng, cái thái độ lừng khừng khi làm quan chỉ là một phép ứng xử mang tính chất tự vệ của văn hóa quan trường… Tâm sự Nguyễn Du, bởi thế, là nỗi lòng của ông trước xã hội, là những điều trông thấy của một “nhà thơ có con mắt rất hiện thực” (Trương Chính). Từ đó, cụ thể hơn, tâm sự Nguyễn Du thể hiện sự uất ức của thi nhân với giai cấp phong kiến mà vào thời đó người ta thường đồng nhất với thống trị thối nát. Và, cách hiểu tâm sự ấy giờ đây không chỉ bó hẹp ở nhân vật Thúy Kiều mà mở rộng sang tất cả các nhân vật khác, nhất là cái hiện thực xã hội được phản ánh trong tác phẩm. Đây chính là tiền đề cho cách đọc Truyện Kiều như là một phản ánh xã hội thời Nguyễn Du và, do đó, Truyện Kiều là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, hay chí ít cũng là bước chuyển từ cổ điển sang hiện thực.

Tác phẩm tiêu biểu cho cách đọc phản ánh hiện thực này là Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du(3) (1972) của Lê Đình Kỵ. Là một người say mê các phương pháp sáng tác (dù bị phê phán kịch liệt) và chịu ảnh hưởng của nguyên lý văn học phản ánh hiện thực, Lê Đình Kỵ đã chứng minh rằngTruyện Kiều đã từ chủ nghĩa cổ điển với lối viết ước lệ, phi cá biệt hóa chuyển sang chủ nghĩa hiện thực với lối viết tả thực, cá biệt hóa. Do dó, Truyện Kiều đã phản ảnh được tình hình xã hội mà Nguyễn Du sống. Từ đó, Lê Đình Kỵ cho rằng có một xã hội Truyện Kiều với đầy đủ các vấn đề của nó. Đây là điều mới mẻ mà các truyện nôm cùng thời không làm được. Nhưng điều nhà nghiên cứu chú trọng hơn là các nhân vật mang tính hiện thực xã hội như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, Bạc Hạnh, Bạc Bà,… Đây là những sở cứ để Lê Đình Kỵ kết luận về chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du. Và dường như ông tin rằng nếu đặt Truyện Kiều vào chủ nghĩa hiện thực thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn khi để nó nằm trong chủ nghĩa cổ điển. Chỗ này là một sai lầm chết người của nhà nghiên cứu tài ba Lê Đình Kỵ, bởi tư tưởng văn học thì có sự tiến bộ, tức giai đoạn sau có thể hơn giai đoạn trước, nhưng sáng tác văn học ở những đỉnh cao của nó thì không có hơn kém, chỉ có khác mà thôi. Truyện Kiều hay, không vì nó đã thuộc về phạm trù chủ nghĩa hiện thực, mà là cái hay tự nó của một nghệ thuật đỉnh cao.

Trên đây là những cách đọc ngoại quan, tức từ bên ngoài nhìn vào văn bản, lấy yếu tố bên ngoài, cụ thể là tác giả tiểu sử và tác giả mở rộng (văn hóa - lịch sử, hiện thực xã hội, phân tâm học tiểu sử…), để giải thích văn bản. Còn cách giải thích văn bản từ văn bản, tức cách đọc nội quan được bắt đầu bằng phân tâm học văn bản ở các công trình của Đàm Quang Thiện, Lê Tuyên. Trên kia, trong phần nói về cách đọc văn hóa - lịch sử của Trương Tửu, tôi cũng có nhắc đến cái nhìn phân tâm học của ông vào Truyện Kiều. Nhưng phân tâm học kiểu Trương Tửu thì, rút cục, vẫn xuất phát từ tác giả. Trương Tửu đã khởi từ phân tích tâm bệnh chủ thể sáng tạo Nguyễn Du để cắt nghĩa về Truyện Kiều. Phân tâm học của Trương Tửu đem vào đọc Kiều, do vậy, vẫn là một phân tâm học tiểu sử, cách đọc ngoại quan đi từ tác giả đến tác phẩm. Phản ứng lại cách đọc của Trương Tửu, và phần nào là cả Đào Duy Anh, đó là lý do để tác giả Đàm Quang Thiện thực hiện công trình Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều(4) theo cách đọc phân tâm học văn bản, cách đọc nội quan.

Tài tử điện ảnh, bác sĩ, nhà phê bình văn học Đàm Quang Thiện tiến hành công trình Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều bằng một thái độ phản ứng rất gay gắt với các quan điểm phân tâm học “sinh lý và bệnh lý” của Trương Tửu khi lý giải Truyện Kiều. Khác với Trương Tửu, và khác cả với phần lớn những nhà nghiên cứu trước đấy, chủ trương lý giải Truyện Kiều từ các căn nguyên bên ngoài tác phẩm nhưtiểu sử, hoàn cảnh xã hội, văn hóa - lịch sử, Đàm Quang Thiện cắt nghĩa Kiều bằng chính các dữ kiện mà văn bản Truyện Kiều cung cấp, từ cái nhìn chủ đạo phân tâm học. Phương pháp đọc Truyện Kiều của Đàm Quang Thiện, ngày nay, ta gọi đích xác cách đọc phân tâm học văn bản.

Ngay từ mở đầu công trình, Đàm Quang Thiện đã quả quyết đời Kiều, và toàn bộ diễn biến Truyện Kiềubị chi phối và quy định bởi ý niệm “bạc mệnh”. Công trình của ông, do vậy, là một làm sáng, cắt nghĩa xoay quanh từ khóa hạt nhân trung tâm là ý niệm “bạc mệnh”, hay khác đi, còn gọi là mặc cảm bạc mệnh (complexe du pire destin). Không quan tâm đến các dữ kiện ngoài văn bản, tác giả đưa mọi lý giải về ý niệm bạc mệnh trong Truyện Kiều từ các dữ liệu được/trong văn bản cung cấp. Kiều trước nhất, tiên thiên của nàng là một người đa cảm, do được kế thừa sinh học (gènes) từ cha (Vương ông) và mẹ (Vương bà) đều là những người trọng tình cảm. Nhưng đa cảm chưa phải yếu tố quyết định, mà nó chỉ là một yếu tố thuận lợi để phức cảm bạc mệnh triển nở về sau. Ý niệm “bạc mệnh” đến với Kiều trước nhất ở lời tiên đoán tiền định của ông thầy coi tướng: “Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” ngay khi thuở nàng Kiều “năm hãy còn thơ”. Đàm Quang Thiện vận dụng các thuyết phân tâm học để nhấn mạnh ý nghĩa niềm tin “bạc mệnh” ấy sẽ neo đậu, và đeo bám tâm sự Kiều suốt đời như một “đá tảng ném vào lòng cuộc đời” ngăn dòng sông tâm thức nàng “anh hoa phát tiết ra ngoài”.

Ý niệm bạc mệnh ấy, đeo bám Kiều, đến mức Đàm Quang Thiện nói là “thấm nhuần vào não chất, tâm cơ”, khiến con người tài học này soạn thành “một thiên Bạc Mệnh lại càng não nhân”. Lời ca, khúc nhạc như đứt từng khúc ruột. Kiều gọi đó là thiên “Bạc mệnh” ai oán như một tiền định. Và đỉnh điểm của ý niệm bạc mệnh đến trong một biến cố định mệnh, đẩy hẳn đời Kiều vào “bạc mệnh” là lần viếng mả Đạm Tiên. Khác với mọi người, khác với hai em Vân và Quan, chỉ riêng Kiều là khóc như mưa gió thảm sầu, một cách khác lạ, khi nghe chuyện Đạm Tiên: “Anh hoa phát tiết ra ngoài/ Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa/ Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay! thác xuống làm ma không chồng!”. Kiều khóc cho người mà như khóc cho mình. Ý niệm bạc mệnh đã vận vào thẳm sâu vô thức tâm hồn Kiều. Lần chạm mặt định mệnh với Đạm Tiên, con ma bạc mệnh này, như Đàm Quang Thiện bình luận: “đưa Vương Thúy Kiều vào một quỹ đạo “bạc mệnh” chính xác hơn, cụ thể hơn, thực tế hơn, và cũng tàn nhẫn, bỉ ổi hơn”.

Truyện Kiều cứ thế, là một triển diễn phức cảm bạc mệnh của nàng Kiều. Phức cảm bạc mệnh đã ăn sâu vào giấc mơ, mà giấc mơ là thế giới của vô thức. Ý niệm bạc mệnh như đá tảng neo đậu kết cấu nên tòa vô thức đời Kiều, và Truyện Kiều. Sử dụng lý thuyết hệ tâm thần của phân tâm học, Đàm Quang Thiện bằng ngôn ngữ của ông đã chứng minh mặc cảm bạc mệnh: “dù có khuynh hướng bị đẩy lùi nhưng không bao giờ chịu nằm im trong Bản ngã. Trái lại, chúng luôn luôn tìm cách hiện ra ở Cá ngã. Chúng lợi dụng mọi trường hợp nghỉ ngơi hoặc lơ đãng của Thượng ngã, trong việc kiểm duyệt, để ra khỏi Bản ngã và hiện ra ở Cá ngã”. Đàm Quang Thiện chú thích: Bản ngã (Es) tương đương với Vô thức (Inconscient), Cá ngã (Ich) tương đương với Hữu thức (Conscient) và Thượng ngã (Uber-Ich) là Cá ngã lý tưởng, tương đương với Lương tâm [ngày nay, ta thường dịch là Siêu thức (Sur-conscient)]. Và mặc cảm bạc mệnh chìm sâu, dồn nén dưới tầng vô thức đã quy định toàn bộ cuộc đời Thúy Kiều. Kiều dù nhiều lúc cố gắng chiến đấu, vật lộn với mặc cảm bạc mệnh để mong thoát ra, nhưng như quy luật phân tâm học: “khi Hữu thức và Vô thức xung đột với nhau thì bao giờ Hữu thức cũng thua, Vô thức cũng thắng”. Vì thế, mặc cảm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều bao giờ cũng thắng thế trong những tình huống xung đột. Và mặc cảm bạc mệnh, mà các hình thức phong phú của nó sẽ hiện lên trong các khúc, đoạn đời Kiều dưới nhiều hình thức như mặc cảm đoạn trường, mặc cảm Tiền Đường... Và cái mà có nhà phê bình trước kia, siêu hình mà gọi là thuyết định mệnh trong đời Kiều, giờ đây, với Đàm Quang Thiện, ông thấy rằng không có định mệnh chi hết mà chỉ có một mặc cảm bạc mệnh chi phối và dẫn đưa toàn bộ đời Kiều. Tất cả bí mật đời Kiều nằm ở mặc cảm bạc mệnh. Và mặc cảm ấy khi từ vô thức, được hữu thức hóa qua quá trình chuyển đổi nội tâm tự thân Kiều do cơ duyên ngẫu nhiên giác ngộ đạo Phật bởi Tam Hợp Đạo Cô đã chấm dứt mặc cảm bạc mệnh, chấm dứt 15 năm lưu lạc đời Kiều. Đàm Quang Thiện như đã viết ở phần kết quyển sách, chứng minh Nguyễn Du viết Truyện Kiều, không vì gì khác như thuyết thiên mệnh Khổng giáo, thuyết nhân quả Phật giáo, tâm sự phù Lê... và càng không phải là chứng minh Kiều như một con bệnh ẩn ức tính dục. Ông viết Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều, để thấy Truyện Kiều là một phân tích tâm lý thiên tài. Truyện Kiều cho thấy sức mạnh chi phối của các mặc cảm tâm lý trong đời con người là vô cùng to lớn. Công trình của Đàm Quang Thiện dù nhiều chỗ còn cho thấy có sự khiên cưỡng trong cách đọc Truyện Kiều từ phân tâm học. Tuy nhiên, hoạt động đọc này của ông đã thay đổi một hệ hình đọc, đọc không sự vào các sự kiện tiểu sử, mà dựa vào các dữ liệu được cung cấp bởi văn bản, mở ra một cách đọc hiện đại về tác phẩm văn học, cách đọc nội quan.

Tuy nhiên, xét từ lịch sử vấn đề, cách đọc nội quan lấy văn bản làm trung tâm của hoạt động đọc xuất hiện sớm nhất thì phải kể đến cách đọc hiện tượng luận về Truyện Kiều của Lê Tuyên. Một người vừa tốt nghiệp tiến sĩ văn chương ở Pháp về dạy Viện Đại học Huế. Là người chịu ảnh hưởng trực tiếp của hiện tượng luận Hussert và Bachelard, Lê Tuyên đã ứng dụng lý thuyết này vào đọc Truyện Kiều trong công trình Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh(5). Xuất phát từ hiện tượng luận hiện sinh kết hợp với sự phân tích thi pháp học sắc sảo và tinh tế, ông đã phát hiện ra một thời gian hiện sinh tồn tại trongTruyện Kiều gồm: 1) Thời gian ngoại tại và sự chuyển vần; 2) Thời gian nội tâm và dòng tâm lý; 3) Thời gian xã hội và sự phối hợp giữa con người và vũ trụ. Cùng với thời gian, một phạm trù khác, như là một cặp đôi với thời gian, của hiện tượng học cũng được Lê Tuyên đề cập đến là tồn tại. Theo ông, tồn tại là một quá trình thu giản hay phóng chiếu ý tưởng tính (intertionnalité) của chủ thể đến ngoại giới. Quan niệm chủ đạo này được Lê Tuyên nhấn mạnh trong một công trình khác của ông: “Như nhiều lần tôi đã quan niệm, cái nhìn của chúng ta là một cái nhìn nội giới, và khi ta phóng chiếu vào hiện tượng là chủ để tìm bản thể của ta”6. Hướng cái nhìn hiện tượng luận hiện sinh vào đọc Truyện Kiều, Lê Tuyên đã phát hiện ra những đặc điểm của tư duy thời gian từ chủ thể hiện sinh trong tác phẩm vĩ đại này.

Như vậy, cách đọc hiện tượng luận của Lê Tuyên, lấy chủ thể văn bản làm ga đi và ga đến của hoạt động diễn giải, đã mở ra, lần đầu tiên trong lịch sử phê bình văn học Việt Nam nói chung và lần đầu tiên trong cách đọc Truyện Kiều nói riêng, một cách đọc mới, tiếp cận tác phẩm từ văn bản, lấy văn bản làm đối tượng trung tâm cho hoạt động diễn giải, mở ra thời kỳ hiện đại cho phê bình văn học Việt Nam. Điều mà khoảng trên dưới hai mươi năm sau, cách đọc nội quan này, lại được tiếp tục, một cách độc lập, bởi các nhà nghiên cứu Phan Ngọc, Trần Đình Sử và một vài người khác.

Năm 1985, trước đổi mới một năm, Phan Ngọc với tác phẩm Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều(7) đã đưa ra một cách đọc mới từ phong cách học. Theo Phan Ngọc, mỗi một ký hiệu ngôn ngữ có hai mặt, mặt thông báo và mặt biểu cảm. Phong cách học chính là một khoa học chỉ nghiên cứu cái mặt biểu cảm của ngôn ngữ. Cụ thể hơn, nó nghiên cứu các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy. Để lựa chọn, ít nhất phải có từ hai phương án trở lên. Vậy nhà nghiên cứu phải làm cái thao tác đối lập để tìm ra các phương án này. Đó là sự đối lập cái âm, cái từ, cái câu, cái kiến trúc ngôn từ, cái thể loại đã có ở văn bản, tức là những cái đã được tác giả lựa chọn, với cái âm, cái từ, cái câu, cái kiến trúc ngôn từ, cái thể loại có thể dùng được mà vắng mặt trong văn bản do tác giả không lựa chọn. Và để xác định được phương án mà tác giả đã lựa chọn là có giá trị biểu cảm tốt nhất, người phê bình phải dùng phương pháp thay thế: lấy một hoặc nhiều phương án bị bỏ qua lần lượt thế vào chỗ phương án được lựa chọn để xác định hiệu quả nghệ thuật. Nếu hiệu quả nghệ thuật kém hơn thì sự lựa chọn của tác giả là đúng, còn không thì cái bỏ qua trở thành cái bỏ lỡ.

Một kiểu lựa chọn có giá trị thẩm mỹ thì, theo Phan Ngọc, trước hết nó phải được chuẩn bị về mặt ngữ cảnh, tức tạo ra một môi trường sống cho nó và của nó. Đánh giá một hiện tượng phong cách học chính là nhận xét xem nó có phù hợp với ngữ cảnh hay không. Ví như từ chuộc (động từ, bỏ tiền ra lấy lại một cái gì đó) trong bài thơ Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương, sở dĩ nó có nghĩa thứ hai, tức trở thành một đồng âm phong cách học (danh từ con chão chuộc, một loại ếch nhái), vì nó đã được chuẩn bị bởi ngữ cảnh gồm có những từ cóc, (nhái) bén, nòng nọc, (chẫu) chàng. Hoặc câu “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” của Nguyễn Du đã được nhà thơ chuẩn bị ngữ cảnh cho nó thật công phu. Trước hết, câu này lấy ý từ câu “Đào hoa y cựu tiếu đông phong” của Thôi Hộ nên nhờ tính liên văn bản này mà ta hiểu ngay. Cái ngơ ngác của Kim Trọng khi trở về vườn Thúy cũng chính là cái ngơ ngác của chàng thi sĩ đời Đường cách đây trên nghìn năm. Tuy nhiên, cây đào của Nguyễn Du còn là cây đào cụ thể, cá biệt từng chứng kiến cuộc gặp đầu tiên của Kim - Kiều và chiếc thoa của Thúy Kiều đã mắc vào đấy. Bởi vậy, ông nói “Hoa đào năm ngoái” chứ không nói “Hoa đào cười với gió đông như xưa” là vì ông muốn chứng minh một sự thực: Kim Trọng ra đi đúng một năm, nay trở về. Hơn nữa, nói hoa đào năm ngoái còn cười vớigió đông năm nay là đã xóa bỏ thời gian vật lý và thay vào đó thời gian tâm lý để khẳng định sự thống nhất của sự vật với con người.

Tuy nhiên, không phải công trình nghệ thuật nào cũng có phong cách, mà chỉ có phong cách khi tác phẩm đạt được tính cấu trúc, tức sự thống nhất hữu cơ của các bộ phận trong một chỉnh thể. Bởi vậy, chỉ biết một bộ phận là có thể suy ra cái toàn thể, như lý thuyết toàn đồ đã chứng minh. Chính vì phong cách là một phạm trù chất lượng, nên trong nghệ thuật có được phong cách là một hiện tượng rất đáng quý. Và, vì thế, không phải tác giả nào cũng có phong cách, thể loại nào cũng có phong cách, và thời nào cũng có phong cách.

Sau khi đã trình bày một cách sáng rõ quan niệm của mình về phong cách và phong cách học, Phan Ngọc đi sâu vào Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Ông đã thực hiện một loạt những đối lập Truyện Kiều với tất cả những gì liên quan đến Truyện Kiều trước đó để tìm ra cái bước đổi mới của Nguyễn Du.

Trước hết, ông đối lập với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để chứng minh rằng tư tưởngtài mệnh tương đố là của riêng Nguyễn Du. Bởi, viết Truyện Kiều, Tố Như đã xóa bỏ cái chủ đề tình và khổ của Thanh Tâm Tài Nhân để thay vào đó triết lý tài mệnh tương đố. Và triết lý này, như ông đã chứng minh rất thuyết phục, không hề là một sáo ngữ mà là một vấn đề nóng bỏng của thời đại, đòi hỏi Nguyễn Du phải trả lời. Cũng đối lập với Kim Vân Kiều truyện, Phan Ngọc đã làm nổi bật phương pháp tự sự của Truyện Kiều bằng các biện pháp như gạt bỏ âm mưu, lập hồ sơ, rút gọn sự việc… Đây là những nhận xét rất đúng, tinh tế của Phan Ngọc. Có điều đây không phải là những sáng tạo hoàn toàn chủ động của Nguyễn Du như Phan Ngọc ca ngợi, mà có phần do sự quy định thể loại khi Tố Như chuyển một cốt truyện từ tiểu thuyết chương hồi bằng văn xuôi sang một truyện thơ.

Ngoài ra, đối lập với các truyện nôm xuất hiện trước, Phan Ngọc đã đi sâu vào những cống hiến mới của Nguyễn Du như bố cục Truyện Kiều theo yêu cầu của kịch, xuất hiện ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, xuất hiện nhân vật “ngồi một mình”, phương pháp phân tích tâm lý tàn nhẫn… để từ đó đi đến kết luận Truyện Kiều là một cuốn tiểu thuyết tâm lý. Là tiểu thuyết tâm lý, nó độc nhất vô nhị, chí ít là ở Việt Nam bấy giờ, và vượt xa tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa để sánh ngang với, kể cả khi đã đi trước về thời gian, tiểu thuyết tâm lý của Stendale. Cũng từ những đối lập và nhờ những đối lập, mà Phan Ngọc đã tìm thấy những đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Du trong kiến trúc câu thơ, trong ngôn ngữ, trong ngữ pháp. Có thể nói, cách đọc phong cách học đã giúp nhà nghiên cứu phát hiện ra những điều chưa từng được nói đến ở các đại gia nghiên cứu trước đó về Truyện Kiều.

Trong Thi pháp Truyện Kiều(8), Trần Đình Sử cũng có những khám phá mới, do một cách đọc mới, cách đọc thi pháp học. Ở đây, trong bài này, tôi chỉ nói đến một phát hiện giàu ý nghĩa của tác giả Thi pháp Truyện Kiều. Đó là chủ nghĩa cảm thương. Đây cũng là một mẫu mực của cách đọc đi từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ hình thức của nội dung đến nội dung của hình thức, từ giọt nước đến biển cả. Nghiên cứu cốt truyện Truyện Kiều, một phạm trù của thi pháp học lịch sử, Trần Đình Sử rút ra mô hình cốt truyện, một khái niệm khái quát hơn, giàu ý nghĩa thao tác hơn. Ông so sánh mô hình cốt truyện củaTruyện Kiều với mô hình cốt truyện của các truyện nôm Việt Nam và truyện tài tử giai nhân Trung Hoa để đi đến kết luận Truyện Kiều có đặc điểm của cốt truyện tiểu thuyết. Rồi theo lý thuyết của Norman Frichman, người đã dựa vào ba tham số khả biến của cốt truyện là số phận, tính cách và tư tưởng để chia thành 14 loại hình tiểu thuyết: loại hành động, loại tình khổ, loại bi kịch, loại cảm thương, loại trừng phạt, loại khâm phục (đối với số phận), loại giáo dục, loại khải thị, loại cảm thụ, loại thất vọng (đối với tư tưởng), Trần Đình Sử xác định xem Truyện Kiều thuộc loại hình tiểu thuyết nào. Ông cho rằng, Truyện Kiều không thuộc loại tiểu thuyết tính cách như tiểu thuyết hiện thực phương Tây, bởi các nhân vật trong thế giới Truyện Kiều bước vào tác phẩm như thế nào thì bước ra tác phẩm vẫn có tính cách như thế. Bởi vậy, đúng hơn Truyện Kiều là một tiểu thuyết số phận gồm đủ cả ba yếu tố - loại hình: tình khổ, cảm thương, bi kịch, trong đó cảm thương là yếu tố chủ đạo.

Tình khổ là đặc điểm của tiểu thuyết tài tử giai nhân. Nguyễn Du có tiếp thu truyện tình khổ trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng nội dung tình khổ ở đây đã chen vào yếu tố cảm thương. “Đúng là một truyện tình khổ và cảm thương nhưng không phải chỉ là một số phận khổ, mà là ý thức sâu sắc về những nỗi đau khổ đó, là nỗi đau trong số phận khổ đó”. Đồng thời, Truyện Kiều cũng đậm chất bi kịch, bởi trong chuỗi bất hạnh của đời Kiều bao giờ cũng có một chút lầm lỡ nào đó của nàng. Nếu Kiều chỉ bị vùi dập thì là đáng thương, nhưng mọi cố gắng khôi phục địa vị làm người của nàng lại chỉ làm cho nàng bị vùi dập tàn nhẫn hơn thì đó là bi kịch. Ở Truyện Kiều cảm thương và bi kịch hòa quyện với nhau tạo nên một sắc thái độc đáo. Nhưng, “khi nào Kiều tỏ ra mạnh mẽ, tính toán, cương liệt thì nàng rơi vào bi kịch sâu hơn. Còn khi nào nàng tỏ ra là một con người cô đơn, yếu đuối, nhỏ nhoi, dại dột, hãi sợ thì nàng lại là đối tượng của sự cảm thương mạnh mẽ. Sự kết hợp hai loại hình làm sâu thêm cho quan niệm bi kịch và cảm hứng cảm thương của tác phẩm”. Tuy kết hợp cả ba loại hình như vậy, nhưng trong suốt Truyện Kiều, nhân vật luôn thấy mình là “chiếc lá lìa rừng”, “E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa”, nên, Trần Đình Sử kết luận, Truyện Kiều chủ yếu nghiêng về truyện thuộc loại hình cảm thương.

Lấy mô hình tiểu thuyết cảm thương của Truyện Kiều, như một khái niệm - chìa khóa, chúng ta có thể tìm hiểu tính chất của văn học cuối Lê đầu Nguyễn (ở đây, Trần Đình Sử trình bày ngược lại, ông lấy cả giai đoạn văn học thời đại Nguyễn Du này để chứng minh cho trường hợp Truyện Kiều). Chúng ta thấy ở trào lưu văn học vẫn được gọi bằng cái tên ít giá trị khái niệm hóa là nhân đạo chủ nghĩa này, cũng có ba xu hướng: hiện thực, cảm thương và lãng mạn. Và, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy được xu hướng cảm thương chủ nghĩa là chủ đạo, quy định tính chất của toàn bộ giai đoạn văn học này.

Trần Đình Sử cũng còn lấy nhiều dẫn chứng ở văn học cuối Minh, khi Nho giáo đã chuyển sang Tâm học. Từ đó, nảy sinh văn học dân chủ, giải phóng cá tính và khuynh hướng chủ nghĩa cảm thương. Điều này có thể thấy rõ trong một loạt tác phẩm như Đào hoa phiến, Trường sinh điện, Liêu trai chí dị và đặc biệt trong Hồng lâu mộng. “Dù là chủ đề tình yêu, chủ đề chính trị, chủ đề sắc không, đều hầu như không có cái gì nói rõ hơn được sự thăng hoa của trào lưu chủ nghĩa cảm thương vốn có cơ sở sâu sắc trong Hồng lâu mộng. Chính chủ nghĩa cảm thương làm cho Hồng lâu mộng tỏa ra những luồng ánh sáng khác lạ”.

Chủ nghĩa cảm thương được dịch từ Sentimentalisme trước đây vẫn gọi là chủ nghĩa tình cảm, theo Trần Đình Sử, là một trào lưu văn học có tính quốc tế. Ở châu Âu nó xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XVIII, khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, làm cho nông dân, thợ thủ công bị phá sản, quan hệ đồng tiền lạnh lùng thống trị xã hội. Chủ nghĩa tình cảm đề cao những giá trị con người phổ biến, đề cao tình cảm tự nhiên, tư tưởng dân chủ, chống lại lý tính lạnh lùng. Từ đó đau xót cho số phận con người, không kể giàu nghèo, sang hèn. Dịch từ Sentimentalisme là chủ nghĩa cảm thương, phải chăng Trần Đình Sử muốn nhấn mạnh sắc thái phương Đông, nơi chưa có chủ nghĩa tư bản và lý tính chưa phát triển thành chủ nghĩa duy lý?

Chủ nghĩa cảm thương, mà đỉnh cao là ở Truyện Kiều, rõ ràng là một nét đậm, một nhịp mạnh trong văn học Việt Nam trung đại. Và ảnh hưởng của nó còn kéo dài đến đầu thế kỷ XX qua Tương Phố, Đông Hồ, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách. Thậm chí, cả Thơ mới cũng giàu giọng điệu cảm thương. Chính chủ nghĩa cảm thương là một nhân tố quan trọng kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực. Cũng như cái cười của người Việt, tôi nghĩ, chủ nghĩa cảm thương, trong gốc rễ sâu xa của nó, bắt nguồn từ tâm thức dân tộc. Trước, từ tâm lý tiểu nông, những người có một thân phận bấp bênh trước một thiên nhiên thất thường và một bộ máy bạo quyền. Sau, từ tâm lý tộc người, một cộng đồng cư dân nhỏ phải sống sát nách một người láng giềng khổng lồ, hay gây sự, nên hay rơi vào thương thân, tủi phận. Bởi vậy, trong văn học cũng như trong đời sống hiện nay, để dấn bước vào tương lai, hòa nhập vào thế giới hiện đại, việc khắc phục chủ nghĩa cảm thương phải được chú trọng.

Còn một cách đọc Truyện Kiều khác của Phạm Công Thiện xuất phát từ Phật giáo. Nhưng, khác với Thích Nhất Hạnh và nhiều người khác nữa, Phật giáo với Phạm Công Thiện không phải là đích đến mà chỉ là ga đi và phần nào góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng của Truyện Kiều. Trọng tâm của công trìnhNguyễn Du đại thi hào dân tộc (1996) (9) vẫn là phân tích ngôn ngữ. Một nhà thơ đọc một nhà thơ thì trước hết chú ý đến ngôn ngữ tác phẩm. Song không phải ngôn ngữ như một công cụ nhằm diễn đạt tư tưởng, mà một ngôn ngữ phát sinh tư tưởng. Hay, như Heidegger, “ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể”. Con người đi, đứng, nằm, ngồi và suy tư đều có ở trong ngôn ngữ. Phạm Công Thiện đã bộc lộ quan niệm đó về ngôn ngữ, khi thi nhân phân tích chữ trong ở câu mở Truyện Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta”. Chữ trong của câu thơ trên, đáng lẽ phải gieo vần trắc, theo luật bb tt bb, thì Nguyễn Du lại đánh vần bằng. Nhưng, chính nhờ sự phá cách này, mà chữ trong giữ được thăng bằng giữa trăm năm chỉ thời gian và cõi người ta chỉ không gian. Như vậy, “chữ trong ở đây có thể chỉ mấy chữ đi trước, mà cũng có thể chỉ mấy chữ đi sau; có thể chỉ không gian và thời gian, và cũng có thể chỉ cái gì làm không gian thành không gian, làm thời gian thành thời gian, làm thời gian thành không gian và làm không gian thành thời gian, và đồng thời nói lên đồng thời tính và giới hạn tính của thời gian nguyên ủy” (tr. 46-47). Chữ trongcó được vai trò đó, theo Phạm Công Thiện, vì ở tiếng Việt nói trong (một cái gì đó) bao giờ cũng có ý nghĩa là trong lòng (một cái gì đó). Và, với sự phân tích chữ lòng chứ không phải chữ tâm, thi nhân chuyển từ triết lý “chữ” sang triết lý “nghĩa”, từ triết học ngôn ngữ sang triết học nhân sinh, hay triết học Phật giáo.

Trước đây, tôi cứ cho rằng, Phật giáo sau Lý - Trần, khi Nho giáo lên ngôi độc tôn, bị “đuổi” về quê sống với chùa làng, nên đã chuyển từ Thiền tông sang Tịnh độ tông, cho gần gũi với tầng lớp bình dân hơn. Bởi thế, Phật giáo Nguyễn Du trong Truyện Kiều, đặc biệt trong Văn tế thập loại chúng sinh, là Phật giáo dân gian. Bi kịch cá nhân và gia đình của ông kéo ông đến với Phật, nhưng cũng chỉ đủ mức độ để ông trở thành một nhà nho phi chính thống, nhà nho tài tử. Hẳn thế, nên các nhà nghiên cứu trước đây như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, sau này như Cao Huy Đỉnh hoặc là đi tìm những chủ đề Phật học trongTruyện Kiều, tức là biến tác phẩm nghệ thuật thành tư liệu cho nghiên cứu Phật giáo, hoặc là lấy tư tưởng Phật giáo làm hệ quy chiếu cho nghiên cứu Truyện Kiều, tức là một thứ Phật giáo ở vành ngoài. Thậm chí gần đây, Thích Nhất Hạnh trong Thả một bè lau(10) còn lấy Truyện Kiều ra để làm tài liệu giảng dạy về kinh nghiệm tu tập cho chúng Phật tử. Phạm Công Thiện, ngược lại, cho thấy “tất cả tư tưởng Phật giáo đã thâm nhập vào từng chữ nghĩa của Truyện Kiều trong tinh thần “phương tiện thiện xảo” cho đại chúng bình dân mà chẳng bỏ quên tinh thần tham quảng ẩn mật thập huyền môn của Phật giáo ngay trong cách chuyển vận ngôn ngữ của nghệ thuật thơ ca và thế lực ẩn tàng của tư tưởng “siêu việt” (tr. 337). Đó là cách tiếp cận, mới và sâu, một tác phẩm nghệ thuật của ông.

Để cắt nghĩa thành tựu nghệ thuật của Truyện Kiều và địa vị đại thi hào dân tộc của Nguyễn Du, Phạm Công Thiện cho rằng Nguyễn Du không chỉ là một nhà Phật học, hay một học giả Thiền tông chỉ biết thuần về phương diện kiến thức, mà chính là một hành giả Thiền tông, tức người đã trải qua một quá trình tu tập có thành tựu. Như vậy, Nguyễn Du không chỉ là một thi sĩ - triết gia như Nguyễn Gia Thiều, Tagore, Holderlin…, mà chính là một thi sĩ - thiền sư, dù một thiền sư - cư sĩ. Trong bài thơ “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài” nhân chuyến đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đã nói đến quá trình tu tập và đốn ngộ của mình:

Ngã độc kim cương thiên biến linh,
Kì trung áo chỉ đa bất minh.
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ,
Chung tri vô tự thị chân kinh.

(Ta đọc Kim Cương hơn nghìn biến
Áo chỉ trong kinh không tỏ nhiều.
Cho đến dưới đài đá phân kinh,
Cuối cùng “vô tự” biết là chân kinh.)

Bỏ ra hàng nghìn lần để ngồi đọc kinh Kim Cương thì không phải là việc làm của nhà nghiên cứu, mà của người hành trì Thiền tông, người có trình độ căn cơ vượt lên trên hệ thống nhân quả, người nắm bắt được thực tướng của các pháp qua kiến thức nhờ vào định thức Duyên khởi, người biết vượt qua ngôn ngữ (công cụ) để thấy kinh không chữ mới là chân kinh. Hơn nữa, trong bài thơ đề động Nhị Thanh ở Lạng Sơn, Nguyễn Du còn viết:

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng
Thử tâm thường định bất ly thiền
(Mọi cảnh đều không sao có tướng
Tâm này thường Định chẳng lìa Thiền)

Tuy nhiên, Nguyễn Du không hoàn toàn là một thiền sư “đạo sĩ”, bởi nếu là một người toàn thành như vậy thì ông không thể sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật theo nghĩa thông thường. Người nghệ sĩ thuần túy thì không cần sáng tác. Còn một Thiền sư - “đạo sĩ” như Nguyễn Du thì luôn luôn trở về với cuộc đời để cứu giúp kẻ lâm nạn bởi vọng tưởng bằng những Truyện Kiều, Văn tế thập đại chúng sinh, thơ chữ Hán, mà không hề biến tác phẩm nghệ thuật thành công cụ truyền giáo. Chính sự cân bằng, đúng hơn sự là một, của/ giữa nhà thơ và thiền giả đã tạo ra một tác phẩm mà trong đó triết học Phật giáo vừa ở bình diện tổng thể vừa nằm trong từng tế bào tác phẩm là từ ngữ. Nhà phê bình, do đó, có thể chuyển từ phân tích văn bản sang khoái lạc văn bản, phạm trù thưởng ngoạn.

*

Cuối cùng, đọc những cách đọc cũng là một cách đọc. Một mặt, cách đọc này cho người ta thấy được một lịch sử tiếp nhận thi phẩm. Mỗi một cách đọc lại lấn biên, thậm chí mở ra một không gian mới. Truyện Kiều, vì thế, là một đa thế giới, những thi giới khi thì tồn tại song song, khi thì lồng ghép, xoắn luyến vào nhau. Mặt khác, đọc những cách đọc còn cho thấy một tiến trình nhận thức Truyện Kiều nói riêng và văn học nói chung. Đây chính là lịch sử của phê bình văn học, đúng hơn lịch sử tư tưởng phê bình văn học, nhìn từ lý thuyết hệ hình.

Trước hết, có thể thấy cách đọc Truyện Kiều của Đào Duy Anh, của Trương Tửu, của Lê Đình Kỵ đều xuất phát từ tác giả tiểu sử hoặc tác giả mở rộng. Đây là phương pháp phê bình ngoại quan, lấy tác giả để giải thích tác phẩm theo nguyên tắc ngoại suy nhân quả. Tôi gọi đó là lối tiếp cận tác phẩm từ tác giả. Lối tiếp cận này so với phê điểm trung đại và phê bình ấn tượng thì nó đã mang tính khoa học, tìm ra những duyên cớ sáng tác và động cơ sáng tạo, đồng thời lý giải được một số những đặc sắc nghệ thuật, như trong trường hợp các sự kiện tiểu sử được Đào Duy Anh và Trương Tửu khái quát hóa lên thành các từ - chìa khóa như tâm sự Nguyễn Du hay cá tính Nguyễn Du. Tuy nhiên, thời đại Nguyễn Du cũng đã lùi xa và bản thân ông cũng ít được ghi chép, nên người ta không biết được nhiều về tác giả Truyện Kiều. Hơn nữa, kể cả khi đã biết chắc chắn một sự kiện nào đó thì việc lý giải nó ở mỗi người cũng mỗi khác, như các sự kiện: thái độ của Nguyễn Du với nhà Tây Sơn, lý do ông ra làm quan với nhà Nguyễn… Nhưng có lẽ, điều đáng nói hơn cả, lối tiếp cận tiểu sử học nhiều khi do quá chú trọng đến nhân thân tác giả, hoặc những hoàn cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội tác động đến tác giả, đã tạo ra sự đảo lộn mục đích - phương tiện: đáng lẽ nghiên cứu tác phẩm thì hóa ra thành nghiên cứu tác giả. Tác phẩm chỉ còn là tài liệu để làm sang và làm sáng tác giả mà thôi. Hoặc trong trường hợp không đến nỗi tệ như vậy, thì lối tiếp cận từ tác giả dễ khiến nhà nghiên cứu chỉ chăm chăm đi tìm nghĩa chủ ý mà tác giả đan cài vào tác phẩm. Nhưng tác phẩm lại không chỉ có nghĩa chủ ý mà còn có nghĩa kiến tạo, tức là nghĩa do văn bản tạo ra. Bởi lẽ, thứ nhất văn bản là một hệ thống ngôn ngữ/ ký hiệu có tính tự trị, tự phát sinh ra tư tưởng;thứ hai tác phẩm không phải chỉ được sáng tác bằng hữu thức, mà chủ yếu còn bằng vô thức của nhà văn, nên tác phẩm bao giờ cũng dài rộng hơn nhà văn, khiến anh ta cũng không biết hết tác phẩm của mình. Đây chính là chỗ cần sự có mặt của những cách đọc mới, những cách đọc từ lối tiếp cận tác phẩm từ văn bản. Tôi gọi đấy là phương pháp phê bình nội quan dựa trên sự phân tích văn bản. Như cách đọcTruyện Kiều từ hiện tượng luận hiện sinh của Lê Tuyên, phân tâm học văn bản của Đàm Quang Thiện, phong cách học của Phan Ngọc, thi pháp học của Trần Đình Sử…

Từ lối tiếp cận tác phẩm từ tác giả đến lối tiếp cận tác phẩm từ văn bản là sự thay đổi hệ hình những cách đọc: từ tiền hiện đại sang hiện đại. Đây là một sự thay đổi lớn, sự thay đổi ở tất cả những ý niệm ngôn ngữ, nghĩa và ý nghĩa… Ví như, từ đây nó quan niệm rằng mấy ngàn câu thơ Truyện Kiều do Nguyễn Du viết ra chưa phải là tác phẩm mà mới chỉ là văn bản. Truyện Kiều như là một tác phẩm chỉ tồn tại khi có người đọc văn bản ấy, tức tác phẩm = văn bản + sự đọc. Từ đây hình thành lối tiếp cận thứ ba,tiếp cận tác phẩm từ người đọc, hoặc các phương pháp phê bình nội - ngoại quan, với những cách đọc mỹ học tiếp nhận, thông diễn học, nữ quyền luận, hậu thực dân/ thuộc địa… Sự chuyển đổi từ lối tiếp cận thứ hai sang lối tiếp cận thứ ba ở Việt Nam còn đang biến diễn, nên chưa có nhiều thành tựu. Riêng ởTruyện Kiều thì người ta có thể thấy đậm nhạt cách đọc hiện tượng học thông diễn từ cái nhìn Phật học của Phạm Công Thiện.

Như vậy, qua việc đọc những cách đọc Truyện Kiều, hay lấy Truyện Kiều làm phòng thử nghiệm những cách đọc, bạn đọc không chỉ thấy lịch sử phát triển của tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, mà còn là lịch sử thám mã những không gian nghệ thuật tác phẩm. Tức một lịch sử văn học thực chất.

(Bài viết này được sự trợ giúp của Quỹ khoa học Công nghệ Quốc gia Nafosted)

Tháng 6.2014
ĐỖ LAI THÚY
Nguồn: SH308/10-14


-----------------------------
1. Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan hải tùng thư xb, Huế, 1943.
2. Trương Tửu, Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nxb. Hàn Thuyên, H., 1942.
3. Lê Đình Kỵ, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb. Khoa học Xã hội, H.,1972.
4. Đàm Quang Thiện, Ý niệm bạc mệnh trong đời Thúy Kiều, Nam Chi Tùng Thư xb, 1965, Sài Gòn.
5. Lê Tuyên, Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh, T/c Đại học, số 9/1959.
6. Lê Tuyên, Thể tánh của thi ca, Seacapt, Hoa Kỳ, 2000.
7. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb. Khoa học xã hội, H., 1985.
8. Trần Đình Sử, Thi pháp Truyện Kiều. Nxb. Giáo dục, 2002.
9. Phạm Công Thiện, Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, Viện Triết lý Việt Nam và Triết học Thế giới xuất bản, California, USA, 1996.
10. Thích Nhất Hạnh, Thả một bè lau, Nxb. Tôn giáo, 2008.  

BỆNH VỚI VĂN NHÂN, HAY CÂU CHUYỆN 'TÁI ÔNG THẤT MÃ'

Đại phàm, đã là con người, chẳng ai tránh được bệnh. Bệnh nặng, bệnh nhẹ, bệnh lâu, bệnh mau, bệnh cấp thời, bệnh mãn tính, bệnh bám ở ngoài da, bệnh ăn tận trong xương cốt tạng phủ, v.v và v.v...

Cả trăm thứ bệnh có tên và không tên luôn rập rình chực sẵn, chờ cơ hội để đột kích và phát tác trong những tấm thân tứ đại. Có bệnh là khổ (thì, trong “danh mục” tám cái khổ của kiếp nhân sinh mà nhà Phật đã liệt kê, “bệnh” chẳng là cái khổ đứng ở hàng thứ ba đó sao). Khổ vì nỗi khó chịu đau đớn thân xác. Khổ vì sự lo âu dày vò trong tâm tưởng. Khổ vì phải tốn tiền thuốc men, mất thời gian chạy chữa. Khổ vì phải phiền lụy tới những người xung quanh. Với vài cái khổ như mới kể sơ sơ ở trên, đủ thấy rằng chẳng ai dại gì mong mình là người có bệnh. Văn nhân ắt cũng không ngoại lệ.

Thế nhưng, nhà văn Dumbadze - tác giả “Quy luật của muôn đời”- lại tuyên bố: trong cuộc đời của một con người, rất cần thiết phải có ít nhất một trận ốm dài, thật nặng, ốm đến liệt giường liệt chiếu, ốm đến thập tử nhất sinh! Vì rằng sau trận ốm như vậy, người ta sẽ có cơ hội nhìn thế giới bằng một cái nhìn khác, với những giá trị khác, mới mẻ hơn. Không phải không có lý: kinh nghiệm cận kề cái chết, nỗi sợ hãi khủng khiếp khi cảm nhận được hơi lạnh từ địa phủ chậm chạp vờn trên thân thể mình, điều đó sẽ khiến người ốm dậy thấy yêu quý cuộc sống gấp bội, anh ta sẽ nâng niu trân trọng, hân hưởng giá trị của từng giây phút sống. Và nếu là như vậy, ít nhất, bệnh tật đã có thêm một lý do để biện minh cho sự cần thiết của nó đối với con người.

Nói chung, ngoài việc con người xuất hiện để nhắc nhở rằng chúng ta dẫu có ngạo mạn về sức mạnh làm chủ thế giới của mình đến đâu chăng nữa, rốt cuộc cũng chỉ là một chủng loài đầy bất toàn do Tạo hóa nặn ra. Với văn nhân thì sao? Người ta có thể dễ dàng dẫn ra vô số ví dụ sáng choang về việc nhà văn, bằng sức mạnh của nghị lực và niềm đam mê to lớn, đã vật lộn, đã chạy đua, và đã chiến thắng bệnh tật ra sao để làm nên các tác phẩm có giá trị. Trong nhiều trường hợp như vậy, thậm chí cần phải nói rằng bệnh là một thứ kích thích tố đối với người viết: tiềm năng sáng tạo trong bản thân anh ta nhờ có sự đe doạ của bệnh mà được xuất lộ và được đẩy đến mức tới hạn. Tuy nhiên, ở đây tôi không định bàn sâu về những nhà văn như những “tấm gương vượt qua số phận”, mà chủ yếu quan tâm đến chuyện: bệnh - cái chẳng ai muốn - có thể “thấm” vào thế giới nghệ thuật của người sáng tác văn học và tạo ra hiệu quả như thế nào trên tác phẩm? Ít nhất, có hai “ca” khá đặc biệt để xem xét.

“Ca” 1: F.Dostoyevsky (1821-1881). Trong một tiểu luận tuyệt vời về văn hào người Nga, Stefan Zweig khẳng định: “Chúng ta đừng quên rằng Dostoyevsky là một con bệnh: tác phẩm bất hủ của ông sinh ra từ tứ chi tàn tạ, từ những dây thần kinh co quắp và run rẩy; cơ thể ông mang vết tích của cơn bệnh trầm trọng nhất, của hình ảnh tồi tệ nhất của cái chết là bệnh động kinh. Dostoyevsky bị động kinh trong suốt ba mươi năm nghề viết văn của mình” (Sách “Ba bậc thầy”, NXB Giáo Dục, Nguyễn Dương Khư dịch). Điều kỳ lạ là, không giống với nhiều con bệnh - nghệ sỹ thiên tài khác, mặc dù bị bệnh động kinh quật cho tơi tả, chưa bao giờ Dostoyevsky lên tiếng than phiền về nỗi thống khổ của mình. Trái lại là đằng khác, ông ca tụng nó bằng những lời nồng nhiệt nhất: “Hỡi người khỏe mạnh, các người không hay biết cái cảm giác mê ly thấm vào người động kinh một giây trước khi lên cơn. Trong kinh Koran, Mahomet kể lại rằng ông đã ở thiên đường trong khoảng thời gian ngắn ngủi khi mà cái hũ bị dốc ngược và nước thoát ra, và tất cả những người hiền minh điên loạn cho rằng ông là một kẻ nói dối và một người lừa đảo. Như thế là không đúng. Ông không nói dối. Chắc chắn là ông đã ở thiên đường trong một cơn động kinh, căn bệnh mà ông đã mắc như tôi. Tôi không biết là giây lát mê ly đó kéo dài bao lâu, nhưng hãy tin tôi, tôi sẽ không nhường nó để có tất cả những niềm vui của cuộc đời” (Sđd). Dostoyevsky thuyết phục người đời tin vào cái cảm giác “mê ly” đặc hữu mà ông - con bệnh động kinh - thường xuyên được trải qua. Nhưng nếu chỉ như vậy, không chắc đã có mấy người tin vào điều đó, vì rất có thể, nó chỉ là sự tự an ủi của nhà văn, sự mỹ hóa nỗi bất hạnh, một kiểu thắng lợi tinh thần nào đó mà thôi.

Thế nhưng, hãy nhìn vào thế giới nhân vật của ông: hình như đúng là Dos. đã thành thực khi bộc lộ niềm biết ơn sâu sắc trước bệnh động kinh. Một nhà văn Pháp đã gọi tiểu thuyết của Dos. là nhà thương của những người bị bệnh thần kinh. Những Kirilov, Satov, rồi Raskolnicov, Ivan Karamazov, v.v... những nhân vật được Dos. đóng dấu ấn bất tử vào lịch sử văn chương nhân loại, những nhân vật ấy, không gì khác, sẽ cho ta hình ảnh rõ rệt của người bị bệnh động kinh trước, trong, và sau khi cơn bệnh “thăm viếng”. Họ đột ngột lao mình từ thái cực này sang thái cực khác, không có giai đoạn chuyển tiếp, không thèm biết đến tính mức độ: từ tội ác sang thú tội, từ coi sinh mạng con người như rơm rác đến trân trọng sự sống của từng mầm cây, từ ác quỷ thoắt cái thành đấng cứu thế nhân từ, từ kẻ tăm tối trở thành triết gia. Họ luôn luôn sống, tư duy và hành động, nếu không trong những cơn sốt, thì cũng như trong những trận co giật cuồng nộ. Một cách uyên bác, đầy tinh tế - sự uyên bác và tinh tế ở đỉnh cao trí tuệ châu Âu đương thời, Stefan Zweig đã lý giải những nhân vật của Dos. từ việc xem xét căn cước dân tộc của họ: họ là người Nga, khởi phát từ một dân tộc bị đẩy từ sự vô thức man rợ ngàn năm vào nền văn minh châu Âu.

Ông viết: “Người Nga của thế kỷ XIX, của thời đại Dostoyevsky, đã đốt cháy cái lều bằng gỗ của quá khứ man rợ của mình và chưa xây được nhà mới... Những vấn đề, mà câu giải đáp đã từ lâu được kết tinh nơi chúng ta (tức người châu Âu - HN) làm rực cháy các giác quan của họ... Họ là những người của sự bắt đầu lại... Họ không có mức độ, họ vượt các giới hạn... Họ tìm kiếm những cảm giác nóng bỏng làm tan tất cả những hợp kim tình cờ gặp phải và ở đó không gì tồn tại trừ sự thông cảm mãnh liệt với vũ trụ”. Có thể nói, Dos là nhà văn sống và nắm bắt hoàn hảo cái sống của dân tộc mình, “những người của sự bắt đầu lại” của thế giới. Nhưng như thế chưa đủ. Với sự trải nghiệm đau đớn và siêu việt của con bệnh động kinh, người luôn phải chịu những cái chết giữa lòng cái sống, Dos còn là nhà văn chứng minh cho/với chúng ta về sự tồn tại của những trạng thái không ngờ giữa sự sống và cái chết, những đối cực không có lằn ranh giới. Đây có lẽ là những yếu tố không hề nhẹ cân trong sự hình thành tính chất kỳ lạ của các nhân vật trong tiểu thuyết Dos. Nói như Stefan Zweig: “Nhờ bệnh tật, ông đã đạt tới tuyệt đỉnh của nghệ thuật, mà theo cách diễn đạt của Stendhal, là tạo ra những cảm xúc chưa từng xuất bản”.

“Ca” 2: Hàn Mặc Tử (1912-1940). Cho đến nay, không thể đếm xuể có bao nhiêu giọt nước mắt khóc thương cho cuộc đời tài hoa nhưng vắn số của Hàn Mặc Tử, bao nhiêu tiếng oán than trước định mệnh phũ phàng đã giáng xuống Hàn bệnh cùi tai ác. Trong số đó, có lẽ Trần Thanh Mại là người đầu tiên nói đến- và cũng là người nhấn mạnh nhất đến - tầm ảnh hưởng của bệnh cùi trên thi nghiệp của Hàn (sách “Hàn Mặc Tử, thân thế và thi văn”, 1941). Là một nhà phê bình văn học theo phương pháp tiểu sử học, chủ trương “lấy đời người để cắt nghĩa tác phẩm”, Trần Thanh Mại cho rằng, cùng với đàn bà và tôn giáo, chính bệnh tật là một nguồn “cảm thụ lực”, là yếu tố góp phần tạo nên những đặc điểm nghệ thuật trong thơ Hàn. Theo ông, với người bị bệnh cùi, vào mỗi kỳ trăng sáng, có thể có những tác động bí mật nào đó khiến vi trùng hoạt động mạnh hơn, người bệnh trở nên đau đớn hơn, và vì thế, trăng đã trở nên một ám ảnh lớn của hồn thơ Hàn Mặc Tử. Quan điểm của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thuý tỏ ra thỏa đáng: “Bệnh phong rõ ràng đã đưa Hàn Mặc Tử và thơ ông rẽ theo một hướng khác. Vốn là một người làm báo, thích hoạt động, ưa giao tiếp, nhìn đời một cách lãng mạn, nay Hàn Mặc Tử phải trốn tránh (vì sợ Sở Vệ sinh hốt đi) trong cô độc và trong cảm giác nhục nhã của kẻ bị Thượng đế trừng phạt. Nhà thơ đã thu toàn bộ thế giới thực tại vào bản thân mình để có thể từ đó mở ra một thế giới khác, rộng lớn đến vô biên. Thế giới của mộng mỵ, tiềm thức và xuất thần” (sách “Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy”, NXB Hội Nhà văn & Cty Nhã Nam, 2011).

Đọc thơ Hàn, không khó để thấy ở thi sĩ một sự phân đôi giữa Xác và Hồn. Xác: phần vật chất trơ ỳ, tăm tối, tật bệnh, bị nguyền rủa. Hồn: phần tinh thần nhẹ nhõm, sáng láng, thơm tho, có thể vươn tới muôn vì tinh tú và toàn thể vũ trụ không cùng. Nỗi mặc cảm về sự tật nguyền bệnh hoạn của Xác được bù đắp bởi niềm khát khao bay bổng của Hồn. Hồn thoát khỏi Xác, đó là motif xuất hiện dày đặc trong thơ Hàn. Như: “Anh đã thoát hồn anh ngoài xác thịt/ Để chập chờn trong ánh sáng mông lung/ Để tìm em đưa hai tay rằng rịt/ Mảnh tình thiêng ngả ngớn giữa không trung” (Sáng láng). Hoặc: “Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng/ Chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây/ Ánh sáng lạ sẽ tan vào hư lãng/ Trời linh thiêng: cao cả gợi nồng say” (Hồn lìa khỏi xác). Một thi giới kỳ lạ như thế này, quả thực là đã vượt ra ngoài, rất xa, những thứ “tầm thường mực thước” (chữ của Chế Lan Viên khi viết về thơ Hàn) đang phổ biến trong Thơ Mới!

“Bệnh trọng thường làm rạn nứt bề mặt hữu thức cho vô thức trào phun. Mà, hình như mọi sáng tạo đều bị thúc đẩy bởi những xung lực của vô thức. Bệnh trọng, nếu không phải là bà đỡ của vô thức như vậy, thì ít nhất cũng là điều kiện để người sáng tạo có một góc nhìn riêng, một cửa sổ riêng quan sát cuộc đời” (Đỗ Lai Thuý, Sđd). Dẫn lại và chia sẻ sự đồng tình với quan điểm này, tôi còn muốn thêm: Ít nhất, với người viết văn, bệnh không phải bao giờ cũng chỉ kéo theo rặt những bi kịch. Nó cũng giống như câu chuyện “Tái ông thất mã” mà người Trung Hoa thường hay kể vậy. 

HOÀI NAM
Theo TINH HOA VIỆT





Thứ Tư, 7 tháng 8, 2019

NHỚ PHAN VŨ - NGHỆ SĨ CỦA NHÂN DÂN

Phan Vũ không chỉ là nhà viết kịch, viết truyện, làm thơ, mà còn là họa sĩ vẽ chân dung và phong cảnh. Việc hội họa của Phan Vũ không nhiều người biết. Cách đây mấy năm, Phan Vũ đưa tranh đi triển lãm ở Pháp. Về nước, Phan Vũ cho tôi biết bà con đến xem rất đông, nhất là Việt kiều.
Vợ chồng nhà thơ Phan Vũ.

Trưa ấy, tôi ghé nhà Phan Vũ theo lời nhắn của một người bạn. Cùng ngồi chơi với Phan Vũ có nhà văn Phạm Gia Thanh - biên tập viên kịch bản Xưởng Phim truyện Hà Nội. Phạm Gia Thanh hỏi tôi sao lại đến giờ này, không đi uống bia à? Tôi bảo: “Vừa từ hàng bia về đây!” “Sao về sớm thế?”. “Hết tiền thì về”. “Thế mai lấy tiền đâu mà uống?” - Tôi nói. “Vừa gặp Cao Nhị bên Báo Văn hóa, Cao Nhị nói: “Ngày mai tới đây viết cho tớ một bài về hành khách đi tàu, tớ sẽ ứng trước cho cậu 20 đồng”.

Phan Vũ liền rút ra 20 đồng đưa cho tôi và bảo: “Đây là tiền để chiều nay cậu uống bia, tớ biết cậu không có bia là người lờ đờ”. Nhận tiền bỏ vào túi, tôi hỏi ngay: “Ông nhắn tôi đến là có việc gì?”. Vũ che miệng húng hắng ho, rồi bảo: “Tớ sẽ nói ngay, việc cũng quan trọng đấy, nhưng trước khi nói, tớ đọc cho cậu nghe cái trường ca vừa làm xong. Trường ca có tên: "Hà Nội phố”. Nói rồi, Phan Vũ lên giọng. Trường ca dài hơn 1000 câu, Phan Vũ đọc một mạch. Tôi bảo:

- Hay lắm! Tớ thích cái điệp khúc “Em ơi! Hà Nội - phố”. Câu này có thể hiểu theo 2 cách: Em là người Hà Nội và Em cũng là Hà Nội phố.

Phan Vũ cười:

- Cách hiểu của cậu hơi lạ so với những người khác, nhưng lại hợp với suy nghĩ của tớ.

Tôi bảo:

- Gửi cho Báo Văn nghệ đăng.

Phan Vũ cười nhạt:

- Chẳng có cái văn bản nào về việc cấm đăng bài của bọn tớ, nhưng tác phẩm của bọn tớ sáng tạo ra gửi đến các báo đều ít khi được in. Thế nhưng báo cho cậu một tin vui là vẫn có nơi họ sử dụng bài viết và kịch nói của tớ. Hai hôm nữa, tức là 8 giờ sáng ngày mốt, thứ Sáu, bên Đài Tiếng nói Việt Nam dựng vở kịch nói của tớ viết về Cụ Hồ và Lê Quảng Ba từ Trung Quốc về nước. Họ đề nghị tớ nhờ cậu làm cố vấn về ngôn ngữ và sự kiện, vì cậu có thâm niên ở Việt Bắc hơn 10 năm, và lại là tác giả của cuốn sách viết về Hoàng Văn Thụ. Xuân Đài nhớ đến đúng giờ giúp mình nhé!

Hai hôm sau, tôi đến đúng giờ ở phòng thu phố Bà Triệu. Anh biên tập viên Phòng Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam đã ngồi sẵn. Các diễn viên vào phòng thu âm diễn kịch chỉ bằng tiếng. Đó là đặc trưng của kịch truyền thanh. Họ diễn đến đâu, anh biên tập ra hiệu dừng lại đến đó và đề nghị tôi có ý kiến. Thực ra ý kiến của tôi cũng không nhiều, lúc này tôi chỉ nhớ 1 chi tiết.

Tôi bảo với họ: “Trong tiếng Tày, “Pác” là mồm, “Pắc” là “cắm”! Các bạn phải gọi là “Pác Pó”, tức là cái miệng hang, còn “Pắc Pó” là sai”. Biên tập viên và Phan Vũ tiếp thu ngay, buộc diễn viên phải diễn lại.

Theo anh biên tập viên, vở kịch của Phan Vũ sẽ phát vào tối thứ Bảy (vào giờ nào thì lúc này tôi quên mất rồi). Chiều hôm đó, tôi đến báo cho ông Nguyễn Chí Kim – Vụ trưởng Vụ Tuyên giáo Ban Dân tộc Trung ương, đề nghị anh báo cho anh Lê Quảng Ba – Trưởng ban Dân tộc (tương đương Bộ trưởng) và toàn thể cán bộ, công nhân viên trong Ban đón nghe. Sáng thứ Hai, ông Kim báo cho tôi biết ông Lê Quảng Ba rất khen kịch của Phan Vũ, hay về nghệ thuật, lại chính xác về sự việc. Tôi rất mừng và đề nghị ông Kim nên cấp cho Phan Vũ một cái giấy khen và ít tiền gọi là để động viên.

Ông Kim cười: “Giấy khen thì dễ rồi, còn tiền theo Xuân Đài bao nhiêu thì vừa?”. Tôi bảo: “Chút ít gọi là động viên thôi ông, khoảng 100 đồng là vừa”. Ông Kim bảo: “Tôi sẽ báo cáo với ông Lê Quảng Ba và xuống phòng tài vụ làm ngay”.

Tôi nhớ thêm kỷ niệm nữa về Phan Vũ hồi đó. Số là có cháu Nguyễn Thu Quyên, nhà ở phố Nguyễn Thái Học, vừa tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội trong một lần tìm gặp tôi, bảo: “Cách đây mấy hôm, chú Phùng Quán - bạn của bố cháu đến chơi, chú đọc thơ cho cả nhà nghe, sau đó chú đọc trường ca "Hà Nội phố" của ông Phan Vũ mà không cần bản thảo cầm tay. Chú Đài ơi, cháu muốn ông Phan Vũ cho cháu 1 bản chép tay thì làm sao ạ? Chú giúp được không?”. “Được! Chú sẽ viết vài dòng giới thiệu cháu với ông Phan Vũ và đề nghị ông ấy chép cho cháu. Ông Phan Vũ là người thoải mái, rất quý mến bạn đọc nên chú tin ông ấy sẽ chép cho cháu”. Tôi viết vài dòng cho Phan Vũ và chỉ số nhà ở phố Hàng Bún cho cháu Quyên.

Mấy hôm sau, cháu Thu Quyên đến gặp tôi, hớn hở khoe bản thảo "Hà Nội phố" do chính tay Phan Vũ chép, và nói: “Trước lúc đi, cháu có nhét vào phong bì một chút tiền và viết mấy dòng: Thơ chú các báo không chịu đăng, cháu là nhân dân, nhân dân yêu chú, đây là số tiền nhuận bút của nhân dân, mong chú không từ chối!”. Cháu nói dối chú Phan Vũ sau khi đưa bì thư: “Trong đây là bài thơ cháu mới làm, lúc nào cháu về chú hãy đọc”. Nói rồi cháu ôm tạm biệt chú và đi ngay.

Tôi gõ đầu cháu Quyên: “Con ranh, khôn thế! Biết cách cư xử của một người Hà Nội gốc!”.

Phan Vũ không chỉ là nhà viết kịch, viết truyện, làm thơ, mà còn là họa sĩ vẽ chân dung và phong cảnh. Việc hội họa của Phan Vũ không nhiều người biết. Cách đây mấy năm, Phan Vũ đưa tranh đi triển lãm ở Pháp. Về nước, Phan Vũ cho tôi biết bà con đến xem rất đông, nhất là Việt kiều.

Từ dạo đó, tôi và Phan Vũ hay gặp nhau ở căng tin Hội Văn nghệ uống bia. Mỗi lần, Phan Vũ lại đọc cho tôi nghe vài bài thơ, tôi thấy thơ Vũ hay, ý ở ngoài lời, ẩn dụ rất kín đáo. Tôi bảo Vũ: “Sao không in một tập thơ?” - “Không nhà xuất bản nào chịu chi tiền in cho mình, muốn in mình phải xuất tiền, mà tiền thì mình không có. Xuân Đài in tập thơ "Tạ tội" chắc cũng phải tự xuất tiền ra…”.

Gần đây Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam cộng tác cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn in tập thơ cho Phan Vũ, tập thơ tên là “Ta còn em” (trong đó có trường ca “Hà Nội phố”). Thế là thơ Phan Vũ đã đến với bạn đọc một cách đàng hoàng.

Chuyện về Phan Vũ nếu kể ra còn rất nhiều…

Tôi chỉ thêm 1 chuyện nhỏ. Cháu Việt Nga (con gái Phan Vũ) nhiều lần gọi tôi lên chơi với bố cháu, bố cháu hay nhắc đến bạn bè cũ. Có lần cháu nhắn tôi xuống Vũng Tàu chơi với bố, hai ông già ngồi trong căn hộ, ngắm biển trò chuyện hẳn thú vị lắm. Tôi bảo cháu: “Bây giờ chú còn mệt, bao giờ khỏe hơn chú sẽ đi”. Vậy là chẳng bao giờ gặp được anh nữa… Hẹn gặp anh nơi anh vừa mới đến, chờ nhé!

XUÂN ĐÀI
Nguồn: VNCA



VĂN NGUYÊN LƯƠNG KHỞI TỪ SÓNG CHỮ SÔNG QUÊ

Là con của một gia đình nông dân nghèo miền Trung, Văn Nguyên Lương vượt khó học hành và trên con đường gập ghềnh trắc trở mưu sinh anh lấy thơ làm điểm tựa giải tỏa nỗi lòng: “Nhóm ngọn lửa vui bằng củi ưu phiền/ Luôn nở nụ cười trong cơn bão tố” (Nốt trầm). Tập thơ Sóng chữ sông quê của anh do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2017 là nỗ lực sáng tạo đáng ghi nhận.
Nhà thơ trẻ Văn Nguyên Lương

Hành nghề giáo dục khoa học tự nhiên nhưng Văn Nguyên Lương lại rất yêu văn chương và có năng khiếu sáng tác thơ. Đó cũng là lẽ thường tình của một người con sinh ra ở vùng đất giàu truyền thống thi ca Quảng Ngãi. Ký ức tuổi thơ, nỗi nhớ quê nhà, kỷ niệm tình đầu cùng nỗi truân chuyên khắc khoải trên hành trình phiêu bạt, sự đồng cảm với những số phận bất hạnh là nguồn cảm hứng cho những tứ thơ đầu tiên của Văn Nguyên Lương, đồng thời cũng phát lộ một con đường thơ mới, tâm huyết, có ý thức sáng tạo với những tín hiệu đáng chờ đợi.

Dần dần bước qua những vần thơ nên vần nên điệu, với vốn văn hóa căn bản của một người chịu khó học và đọc, Văn Nguyên Lương tự tin tạo dựng một không gian thơ riêng mình trên cơ sở tiếp nối có chọn lọc tinh thần thi ca của những người đi trước. Trong bài thơ Nơi tôi sinh ra, anh giới thiệu về mình:

“Tôi mở mắt đón ánh sáng cuộc đời
Phía ngọn núi Đồi say nồng giấc ngủ
Dòng sông Thoa chảy dọc tiếng Quảng thiết tha
Hàng cau vẫy tay ngoài ngõ
Bầy chim sẻ ríu rít rủ nhau về làm tổ
Bóng dừa nghiêng nghiêng rơi tiếng chìa vôi”

Lời thơ gần gũi chân thành mà sâu lắng, tinh tế bằng sự kết hợp, liên tưởng hàng loạt thi ảnh giàu sức gợi cảm. Không thấm đẫm hồn quê, tình quê và khả năng biến hóa ngôn từ thì khó mà viết được những câu thơ sinh động như vậy. Tình yêu quê hương sâu nặng trong thơ anh còn thể hiện qua hình ảnh “ngọn đèn dầu thức thâu đêm” của mẹ, “tiếng bài chòi ngoại hát” thay lời ru, dòng sông trăng “gặp nhau trong nỗi nhớ quê” với chị, tiếng ve khóc cười “giục cánh phượng rơi ngời ánh lửa”, “chùm hoa khế ủ hương” vỡ òa kỷ niệm, “ngồi đếm lá nhớ cố hương” những chiều gió lùa… và từ đó anh đi tìm lại bản thể chính mình, với bao Câu hỏi không lời:

“Ai mang tơ buộc loạn tim mình
Câu hỏi gửi trời xanh, biển thẳm
Thanh âm vút lên lúc trầm lúc bổng
Rơi xuống hố thẳm khôn cùng ...
Ai giải giùm ta,
Câu hỏi không lời...”
Tập thơ Sóng chữ sông quê của Văn Nguyên Lương

Tự hỏi rồi tự âm thầm suy ngẫm, mạnh mẽ vươn lên như “loài cây lớn theo chiều thẳng đứng” giữa bầu trời đôi khi “khô héo niềm tin” vì những điều phi lý, như trong bài Tìm anh viết:

“Vắt kiệt giọt sữa cuối cùng
Mẹ mớm tôi tiếng khóc
Mớm cả tiếng cười trong bão táp mưa sa
Tôi như loài cây lớn theo chiều thẳng đứng
Vươn giữa bầu trời học triết lý đường cong
Học cả những điều phi lý...”

Với một người trẻ thì tình yêu lứa đôi bao giờ cũng chiếm lĩnh tâm hồn. Trong tập thơ đầu tay của Văn Nguyên Lương, thơ tình cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo kể từ khi anh Vấp tình: “Từ độ vấp ánh mắt em/ Anh chơi vơi giữa cuộc đời mộng mị/ Đắp nỗi nhớ lên giấc ngủ/ Gối đầu về phía không em”. Anh ngơ ngác phát hiện ở người yêu “Ánh mắt dài như sợi chỉ/ Khâu nỗi buồn anh hóa kiếp” để rồi:

“Chợt ngày tím biếc bằng lăng
Đỏ bói chùm phượng vĩ
Chú ve non thức tiếng dậy thì
Giục chúng mình hẹn ước”

               (Bức thư tình đầu)

Hẹn ước rồi lỗi hẹn là câu chuyện muôn thuở của tình yêu. Và có khi vì chuyện lận đận áo cơm đành Lỗi hẹn mà phải trả giá: “Ngày anh về/ Đồi chè xanh tàn úa bên đường/ Em tươi cười trong vòng tay người khác”. Cuống cuồng yêu thương, hờn giận, cách xa, nhớ nhung chia tay, trả giá, đau khổ là lẽ thường tình của những lứa đôi trong cuộc đời này. Và chính sự trong sự khổ đau mà thơ tình đã cất lên tiếng nói, dù biết tình yêu muôn đời là nghịch lý “Biết không còn gì/ Sao vẫn vấp/ Tình ơi…” (Vấp tình).

Như nhiều người trẻ yêu văn chương khác, Văn Nguyên Lương đầu tiên đến với thơ như trò chơi giải trí giải tỏa những u uẩn nỗi tình. Nhưng càng dấn thân vào thế giới thi ca kỳ diệu, anh càng phát hiện vẻ đẹp của thơ và năng lực tiềm ẩn chính mình. Bây giờ thì với Văn Nguyên Lương thơ không còn là trò chơi giản đơn như thả diều, bắn bi, nhảy lò cò của tuổi thơ mà là trò chơi “trời cho” đầy đam mê sáng tạo “đất hứa” chữ nghĩa: “Ta đi tìm vùng đất hứa đời ta/ Chở nắng gió bao mùa cày ải/ Sinh sôi.../ Câu thơ ngập nắng vàng tươi” (An nhiên). Anh cũng hy vọng hành trình thơ của mình, mà khởi đầu là Sóng chữ sông quê, sẽ chạm được “bờ vui” tri âm bằng “tay chèo tràn đầy sinh lực” vượt biển đời cam go thử thách với ước mơ “bừng lên hương sắc tình người”: “Chở đôi thúng chữ/ Vượt biển vô thường/ Cơm áo nửa đường rơi/ Từ bến sông mơ ước/ Ngọn nồm ý chí thổi lộng cánh buồm” (Sóng chữ).

Khởi từ Sóng chữ sông quê, hành trình dấn thân và đam mê của Văn Nguyên Lương hy vọng sẽ còn mang lại nhiều mới lạ khi anh hòa nhập vào biển đời thi ca mênh mông và quyến rũ.

PHAN HOÀNG
(Lời tựa tập thơ Sóng chữ sông quê)



Thứ Ba, 6 tháng 8, 2019

TẾ HANH - TÌNH YÊU HÀ NỘI CỦA MỘT HỒN THƠ XỨ QUẢNG

Tế Hanh (1921-2009) là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông nổi danh từ trước năm 1945 với tập thơ Nghẹn ngào (1939) được giải Khuyến khích của Tự lực văn đoàn, sau đó là một trong 46 thi sĩ được Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác thi ca hơn 70 năm của Tế Hanh gồm hơn 20 tập tác phẩm in riêng, 2 tuyển tập thơ cùng nhiều bài thơ dịch và một số tiểu luận phê bình văn học.

Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn bàn riêng về một mảng đề tài đặc biệt trong thơ ông, đó là những bài thơ, câu thơ viết về tình yêu Hà Nội.
Nhà thơ Tế Hanh

Tế Hanh vốn nguyên quán tại làng Đông Yên, phủ Bình Sơn, nay là xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đồng hương với hai thi sĩ lãng mạn nổi tiếng đương thời là Nguyễn Vỹ và Bích Khê. Từ 1936 đến 1945, ông học ở Huế và tham gia các công tác văn hóa, giáo dục của Việt Minh. Từ 1949 cho đến 1954, Tế Hanh ở trong Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc, sống và làm việc ở Hà Nội cho đến cuối đời. Như vậy, cuộc đời Tế Hanh có hơn nửa thế kỷ gắn bó với Thủ đô. Từ nhà ông chỉ bước vài chục bước chân là ra tới hồ Thiền Quang Hà Nội, đó đã trở thành một nguồn cảm hứng dồi dào và liên tục trong thơ ông, từ những bài thơ của thập niên 50 cho đến những bài thơ cuối đời.

Nếu đọc các tác phẩm của Tế Hanh, có thể nhận thấy, một trong những chủ đề, đề tài nổi bật trong thơ ông chính là những thi phẩm thể hiện tình yêu quê hương đất nước, bên cạnh những bài thơ về tình yêu đôi lứa. Trong 4 bài được Hoài Thanh chọn vào Thi nhân Việt Nam đã có tới hai bài về quê hương là Quê hương và Lời con đường quê, trong đó bài thơ Quê hương hiện nay vẫn được đưa vào SGK Ngữ văn lớp 8: Làng tôi vốn làm nghề chài lưới/Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông/Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng/Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Sau này, Tế Hanh còn nổi tiếng với bài thơ Nhớ con sông quê hương (1956): Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre/ Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè/ Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng/ Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng/Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi/ Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi/ Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ/Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ/ Sông của miền Nam nước Việt thân yêu.

Tôi có cảm giác rằng, với một trái tim đôn hậu và tha thiết như Tế Hanh, có lẽ ông cũng đã dành cho Hà Nội một tình yêu như quê hương thứ hai của ông. Hà Nội – Thủ đô của cả nước, trái tim của dân tộc không chỉ mang trong nó những vẻ đẹp đặc trưng mà còn là một biểu tượng về lịch sử và văn hóa. Chính ngay trong năm 1956 (cùng thời điểm ra đời bài thơ Nhớ con sông quê hương), Tế Hanh đã viết Bài thơ tình ở Hàng Châu với nỗi nhớ đắm say Hà Nội. Nỗi nhớ người yêu, người bạn đời của ông đã hòa chung cùng với cái tình của không gian quê hương xứ sở: Bàn tay nào đã dệt nỗi lòng anh?/ Tiếng mùa xuân đem sóng vỗ bên mình/ Vơ vẩn tình chăn chập chờn mộng gối/Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội/Nước Tây Hồ bỗng hóa nước Hồ Tây/Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.

Dường như với chuyến đi xa nào cũng vậy, trái tim thi sĩ luôn thao thức nhớ về Hà Nội thân yêu, nơi có một bóng hình phụ nữ đang ngày đêm trông ngóng, nơi có mùi hoàng lan mùi hoa sữa ngọt ngào trên những con đường quen, nơi có những mặt hồ thơ mộng với từng hàng cây in bóng. Bài thơ Nhớ về Hà Nội hôm nay được viết trong chuyến đi công tác ở Kavkaz tháng 10/1979 là một thi phẩm như vậy: Ở đây rét lắm em ơi/ Con chim én cuối đã rời về Nam/Đêm nghe gió rít quanh thềm/ Nhớ về Hà Nội của em vô chừng/ Cuối thu trăng vẫn sáng trưng/ Hoàng lan hoa sữa thơm lừng không gian/ Hồ Tây, Hoàn Kiếm, Thuyền Quang/Nước thu sóng sánh soi hàng mây bay/Nhớ về Hà Nội hôm nay/Cây me cây sấu có thay lá vàng?/ Con chim én đã về Nam/Giục anh trở lại cầm bàn tay em.

Nếu như bên trên, chúng tôi vừa giới thiệu hai thi phẩm viết về nỗi nhớ Hà Nội khi nhà thơ đang ở những phương trời xa xăm thì trong một bài thơ khác, tình yêu Hà Nội lại được thắp lên ngay chính giữa lòng Thủ đô, gắn với tình yêu đôi lứa, gắn với bóng hình của một người con gái yêu thương nay đã rời xa. Thi sĩ yêu từng góc phố, vườn hoa, từng bóng cây của Hà Nội. Và độc đáo hơn cả là yêu chính sự trống vắng của một bóng hình. Điều này đã mang đến một tứ thơ độc đáo và mới mẻ cho bài lục bát Hà Nội vắng em: Thế là Hà Nội vắng em/ Anh theo các phố đi tìm ngày qua/ Phố này ở cạnh vườn hoa/ Nhớ khi đón gió quen mà chưa thân/ Phố này đêm ấy có trăng/ Cùng đi một quãng nói bằng lặng im/ Phố này anh đến tìm em/ Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây/ Anh theo các phố đó đây/ Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em. Đọc đi đọc lại bài thơ, càng đọc càng thấy yêu thương cái tình bơ vơ ngơ ngác của người thi sĩ. Những tưởng bài thơ sẽ rơi vào bi lụy bởi sự chia cách giữa hai con người, không biết đến ngày nào gặp lại. Nhưng không, chàng thi sĩ đã biến nỗi trống vắng ấy thành thi vị, coi Hà Nội như một nhân chứng đầy hồn vía cho mối tình của mình. Thế nên, tình yêu với một bóng hình không còn gặp lại đã được chuyển vị thành tình yêu Hà Nội, yêu thêm mỗi góc phố hàng cây đã từng in dấu kỷ niệm của hai người.

Những năm tháng cuối đời, tình yêu Hà Nội trong hồn thơ Tế Hanh dường như được dồn về một nơi quen thuộc, thân thương, nơi mà hàng ngày nhà thơ có thể dễ dàng dạo bước. Đó chính là hồ Thiền Quang. Năm tháng qua đi làm tàn phai nhiều thứ. Chàng trai Tế Hanh thuở nào nay đã trở thành một lão niên. Cặp mắt sáng tinh anh ngày xưa bỗng bị mờ dần trong những năm cuối đời. Nhà thơ đã tự bạch về tình yêu với hồ trong chính nỗi niềm đó. Bài thơ chia làm hai đoạn, tương ứng với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc đời: Tôi đi quanh hồ hàng nghìn cây số/ Bước tôi đi đo thử bước thời gian/ Trong đời tôi những vui buồn sướng khổ/ Hồ biết không, hỡi hồ Thiền Quang (…) Đi dò dẫm bên hồ từng bước/ Tôi thấy hồ như một khối mơ hồ/ Tôi biết hồ nhờ nghe qua hơi nước/ Đi bên hồ như bước giữa hư vô (Hồ Thiền Quang). So với những bài thơ viết về Hà Nội ở giai đoạn trước, ta thấy có sự thay đổi đáng kể về sắc thái, giọng điệu, nhịp điệu. Nếu như những bài thơ về Hà Nội ở giai đoạn trung niên sôi nổi, dạt dào, nhịp điệu lôi cuốn, thì cho đến bài thơ về hồ Thiền Quang, nhịp điệu thơ chậm lại, bùi ngùi ngẫm ngợi. Cùng với tình yêu cho Hà Nội vẫn vẹn nguyên, trái tim thi sĩ có thêm những suy tư về thân phận, về kiếp người. Ngôn ngữ thơ vì thế trầm lắng hơn mà cũng da diết, khắc khoải hơn.

Trong số những sáng tác của Tế Hanh có một phần không nhỏ những bài thơ viết cho thiếu nhi. Những bài viết cho thiếu nhi hầu hết có âm hưởng trong trẻo, tươi sáng. Và ở khu vực tác phẩm này, ta cũng thấy thấp thoáng hiện lên bóng dáng một tình yêu Hà Nội. Bài thơ Hai ông cháu và cái hồ được gợi cảm hứng từ chính hồ Bảy Mẫu trong công viên Lênin là một điển hình cho những sáng tác này: Cháu mới lên bốn tuổi/ Chưa biết biển bao giờ/Mẹ bảo: biển rộng lắm/ Nhìn xa chẳng thấy bờ/Ông đi khắp bốn biển/Trở về già mắt mờ/Chỉ còn nhớ mặt nước/Không nhớ rõ bến bờ/Một chiều sương ông cháu/ Dạo công viên Lê nin/Đến trước hồ Bảy Mẫu/Ông cháu cùng đứng nhìn/Mở to đôi mắt bé/Cháu ríu rít: Ơi ông!/Chỉ toàn nước là nước/Biển là đây phải không?/Mắt ông thoáng mây qua/ Như thấy mà không thấy/Ông ôm cháu cười xòa:/-Ừ, biển của cháu đấy/Trước hồ hai ông cháu/ Cả hai đều ngây ngô/Cháu cho hồ là biển/ Ông thấy biển như hồ.

Nhà thơ Tế Hanh đã đi xa tròn 10 năm. Những con phố, những hàng cây, những mặt hồ của Hà Nội không còn được thấy bóng dáng ông chầm chậm dạo bước mỗi ngày như thể muốn ôm ấp nâng niu bao yêu thương trìu mến. Thế nhưng tình yêu Hà Nội ông để lại qua những vần thơ sẽ còn lại mãi trong lòng bao thế hệ người đọc. Cùng với những thi phẩm về Hà Nội, những bài thơ tình nổi tiếng một thời như Vườn xưa, Bão, Con đường vẫn còn lắng đọng trong trái tim bao đôi lứa đã từng yêu đương, từng đắm say những khung trời kỷ niệm… 

ĐỖ ANH VŨ
Nguồn: Tinh Hoa Việt


Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

TIẾNG NƯỚC TA

Tiếng Việt hay như vậy, lý thú như vậy, nhưng thật đáng buồn: nhiều người đã không biết yêu quý nó.

Ngay từ nhỏ tôi đã thuộc lòng lời ca của nhạc sĩ Phạm Duy: "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời... mẹ hiền ru những câu xa vời".  Bao năm qua, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng. Và không như nhiều nước thuộc địa cũ, chúng ta tự hào vì tiếng Việt đã được sử dụng đầy đủ ở mọi trường học, kể cả bậc học đại học và sau đại học. Tiếng Việt đã đủ sức chuyển tải mọi kiến thức cao siêu nhất như các ngành Vật lý nano, Toán học cao cấp, Sinh học phân tử, Hóa học lượng tử. Các bộ từ điển từ phổ thông đến từng chuyên ngành khoa học đã lần lượt được xuất bản.

Rất nhiều tác phẩm văn học, triết học kinh điển của thế giới đã được dịch ra tiếng Việt. Ngược lại, không ít tác phẩm tiếng Việt, kể cả những tác phẩm rất khó như Truyện Kiều, cũng đã được dịch ra tiếng nước ngoài.

Tôi làm khoa học và hiểu rõ giá trị của các thuật ngữ khoa học đã được Việt hóa. Đặc biệt khi so sánh với tiếng Trung Quốc. Họ có dân số đông nhất thế giới, có lịch sử hơn 5.000 năm, nhưng thực sự là thua kém hẳn chúng ta khi phải dịch tên người nước ngoài và nhất là dịch các thuật ngữ hóa học sang chữ Hán. Là một người tự học nhưng chịu khó nghiên cứu nên tôi đã từng phải giúp các bạn trẻ, dù học nhiều năm ở Trung Quốc, khi chuyển tên hóa chất sang các thuật ngữ phổ biến.

Với các hóa chất đơn giản như acid sulfuric (lưu toan), acid chlohydric (diêm toan) thì không khó, nhưng với những hợp chất hữu cơ chẳng hạn như 2-dimethylaminobenzenecarbonal, hầu như các bạn ấy đều "chịu chết". Ngay tên các danh nhân cũng cực kỳ khó hiểu. Có những tên phiên âm gần đúng như Tư Đại Lâm (Stalin) hay Liệt Ninh (Lê Nin) còn dễ, nhưng vô số các tên khác thì đúng là đọc lên chả hiểu là ai. Người Nhật thì khác, họ có cả một thứ chữ Nhật chuyên dùng để phiên âm hóa chất và tên các danh nhân nước ngoài.

Vậy mà buồn thay, với người lớn việc viết sai chính tả còn rất phổ biến. Nhiều cơ quan treo khẩu hiệu còn viết "năng xuất" thay cho "năng suất", "đoạn đường thường sẩy ra tai nạn" thay vì "xảy ra", "bánh trưng" thay vì "bánh chưng", "sử lý nghiêm minh" thay vì "xử lý", và còn vô số ví dụ tức cười khác.

Đặc biệt nghiêm trọng và rất phổ biến là tùy tiện viết hoa. Không chỉ các bảng hiệu mà ngay trên truyền hình nhiều khi người ta cũng tùy tiện viết hoa, chêm tiếng nước ngoài bừa bãi. Chúng ta dạy học sinh là chỉ viết hoa trong hai trường hợp: sau dấu chấm hay là tên riêng. Trong chuyện này, tôi phải xin góp ý thẳng là ngay cả tên các tờ báo và cơ quan lớn đã không gương mẫu. Viết hoa không thể biện minh là để cho nó đẹp hay vì "đã quen rồi". Nếu mình thiếu gương mẫu, làm sao phê phán được sự viết hoa tùy tiện ở chỗ khác?

Câu chuyện viết hoa tùy tiện ta thấy đầy rẫy trên phố phường, trên báo chí, trên mạng... Đã đến lúc cần nghiêm túc chấn chỉnh, nếu không làm sao ta dạy được thế hệ trẻ viết cho đúng, yêu tiếng nước mình?

Gần đây nhất có một chuyện rất đáng đau lòng, đó là phổ điểm môn Ngữ văn trong kỳ thi quốc gia tốt nghiệp trung học phổ thông. Có tất cả 867.937 em tham gia môn thi này. Vậy mà có tới 241.615 em điểm dưới trung bình, chiếm tỷ lệ tới 27,84%. Văn đâu phải là Toán mà phải "cắn bút, rứt tóc"? vậy mà có tới 1.265 em không vượt quá được điểm 1. Thậm chí, có đến 9 bài 0 điểm, 106 bài 0,25 điểm, 443 bài 0,5 điểm, 368 bài 0,75 điểm. Tôi không thể hình dung nổi những con số này. Chẳng nhẽ ngần ấy em không yêu tiếng Việt?

Thế hệ chúng tôi trước đây chưa bao giờ có đến 27,84% bị điểm dưới trung bình khi làm bài kiểm tra hay bài thi môn Văn. Điều đó phản ánh các học sinh ấy hoàn toàn lười đọc sách, lười suy nghĩ và không hề có niềm yêu văn chương. Điều ấy còn phản ánh việc dạy Ngữ văn ở nhiều trường có lẽ chưa đạt yêu cầu cơ bản.

Chúng tôi may mắn được học Văn với thầy Hoàng Như Mai ngay từ khi học lớp 7, lớp 8. Thầy đã thổi vào lòng chúng tôi niềm yêu văn chương, niềm tự hào về tiếng Việt. Vì vậy nên lớp học trò chúng tôi đều đã không phụ công ơn Thầy, mới có được các bạn như Ma Văn Kháng, như Hoàng Tiến và nhiều nhà văn, nhà báo khác. Ngữ văn là môn học chiếm số giờ không nhỏ trong suốt chương trình giáo dục từ cấp I đến hết cấp III. Sách báo văn học trong và ngoài nước chúng ta không thiếu. Đọc sách văn chương làm mỗi người lớn lên về tri thức và nhận thức về cuộc sống, về đạo lý làm người. Tôi đã rất cố gắng góp phần duy trì mục "Đọc giùm bạn" trên một báo điện tử.

Mỗi tuần, tôi tóm tắt những lời hay, ý đẹp của một cuốn sách viết về kỹ năng sống. Tôi đã in được 74 bài và còn tiếp tục viết nữa trước khi in thành sách. Ít nhất tôi cũng hy vọng chuyên mục sẽ giúp các bạn không chịu mua sách và không thích đọc sách.

Nhiệm vụ rèn luyện lời ăn, tiếng nói và chữ viết không thể giao phó hoàn toàn cho các thầy cô giáo. Vai trò của các bậc phụ huynh cũng hết sức quan trọng. Dù nghèo đến đâu các bậc cha mẹ cũng nên tạo cho con em mình một tủ sách nhỏ. Bố mẹ đọc trước và khuyến khích các em đọc sau. Rất nhiều em đến hôm nay vẫn chưa biết đến cuốn Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, trong khi tác phẩm này đã nổi tiếng khắp thế giới. Ngày nay, sách của các tác gỉa như Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã cuốn hút biết bao bạn trẻ, chưa kể vô số tác phẩm danh tiếng nước ngoài cũng đã được dịch sang tiếng Việt.

Viết bài này, tôi chỉ mong sao người lớn đừng viết sai tiếng Việt, đừng dùng chữ hoa một cách tùy tiện, và mong sao các bậc phụ huynh hãy tạo cho con cái mình hứng thú đọc sách. Học giả Phạm Quỳnh đã từng tuyên bố: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn". Tiếng của dân tộc chính là di sản không gì thay thế được.

NGUYỄN LÂN DŨNG
Nguồn: VNEX



Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC CHU VĂN SƠN: SUỐT MỘT ĐỜI ĐI TÌM CÁI ĐẸP

Từ CHLB Nga, Tiến sĩ Toán học Nguyễn Hùng Phong chia sẻ: “Trời phú cho Chu Văn Sơn một khả năng cảm nhận, một con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương”.

Khóa “Kiêu binh”

Vậy là thầy đã đi xa thật rồi. Ánh hồi quang cuối cùng của một thế hệ vàng giảng dạy và nghiên cứu văn học vụt tắt. Học trò của thầy không còn được trò chuyện cùng thầy khi gặp gỡ cafe hay chat cùng thầy trên facebook.
Tiến sĩ Chu Văn Sơn (1962 – 2019).

Có lẽ sẽ phải nhiều năm nữa mới lại có một người thầy giảng văn tài hoa và tinh tế ở trường phổ thông, khiến học trò yêu văn đẹp, mê văn hay như thầy đã làm được.

Thầy đã đi quãng đường 58 mùa xuân, mới thêm 8 nhịp của một phần hai kiếp nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày, vậy là cũng đủ tài hoa trọn một cuộc đời. Một người bạn đồng niên với thầy đã lặng đi khi em báo tin thầy rời cõi tạm. “Có lẽ trời xanh kia muốn giữ mãi hình ảnh trẻ trung của Chu Văn Sơn chứ không muốn có một Chu Văn Sơn lụ khụ”.

Nói xong, anh cố giấu những nỗi xúc động, vờ quay mặt nhìn xa xa... Cái đẹp bao giờ cũng mỏng manh và người tài hoa tuổi thọ hình như chẳng được dài?

Trương Trào chẳng phải có câu: "Tài tử mà lại đẹp, mỹ nhân mà lại biết làm văn ắt là không thọ được. Không phải do tạo hóa đố kỵ mà bởi hạng người đó không chỉ là báu vật của một thời mà là báu vật của muôn đời, nên không thể lưu lại lâu trên cõi thế mà hóa ra nhàm".

Đầu năm Kỷ Hợi này, một người bạn đồng niên, đồng môn của thầy là chị Lại Thái Hưng từ CHLB Đức về, hai chị em trò chuyện, chị lại nhắc đến thầy, đến những kỷ niệm của khóa kiêu binh.

Trong hơi thở của trời xuân rất khẽ, từng kỷ niệm của chị và những mẩu chuyện thầy từng kể cho em nghe cứ đan cài để thành một bức tranh xinh xắn về khóa học có một không hai ấy.

Năm học 1979-1983 của khoa Văn, cái tên hồi đó còn thêm số I đằng sau là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, với nhiều cái đầu tiên. Lần đầu tiên tổ chức thi học sinh giỏi trên quy mô toàn quốc.

Lần đầu tiên có chuyện đội tuyển được vào thẳng Sư phạm. Khóa ấy, như lời thầy kể thì “toàn những tay khá cả”. Đi kèm với đó là kiêu và quậy. Như lời chị Hưng nói, đó là đám “kiêu binh” đã khiến các thầy cô phải điên đầu.

Có những giờ giảng mà nhìn xuống lớp học chỉ lưa thưa vài sinh viên, còn đâu là nghỉ học cứ như bãi khóa. Nguyên nhân cũng bởi nhiều thầy cô dạy “buồn chết đi được”, đấy là sau này lúc vui chuyện thì thầy tỉ tê kể cho em nghe. Nhiều biện pháp đã được Đảng ủy khoa, Ban chủ nhiệm khoa, Liên chi đoàn khoa áp dụng nhưng chẳng ăn thua. Kiêu binh vẫn cứ bỏ tiết.

Chỉ đến khi những giờ giảng của các giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Phan Trọng Luận… thì lạ thay, chẳng ai bảo ai, lớp học lúc nào cũng chật kín.

Sau đó, xuất hiện những bài vè, bài họa thơ chân dung các thầy: “Vừa dạy vừa hát/ Là thầy Thế Cường/ Vừa dạy vừa “lườm”/ Là thầy Trường Phát/ Vừa dạy vừa quát/ Là thầy Hoàng Dung/ Thầy Lưu Đức Trung/ Hiền chi hiền thế…”.

Nhắc đến chuyện làm vè, thì đỉnh cao phải kể “nửa đêm truyền hịch”, “rạng ngày bố cáo” đã làm náo loạn xô chậu và ầm ĩ đèn đuốc trong khu nhà A7 ký túc xá của sinh viên khoa Văn. Nhiều bài hịch, bài cáo, những khoá sau vẫn còn truyền tụng, như “Cáo cử nhân đăng trường ứng thí”, “Cáo tú tài tựu trường”, “Hịch sống vệ sinh”....

Lụy cái đẹp

Hình như trong quãng thời gian vừa tròn một con giáp được làm học trò của thầy, tôi chưa bao giờ gặp thầy vào mùa hè? Có lẽ như thế. Tôi chỉ gặp thầy vào mùa xuân và mùa thu. Tại sao tôi nhớ như vậy, vì hình như thầy cũng không ham la đà bia rượu. Mà bia rượu thì tập trung mùa hè.

Phải rồi, mùa hè, còn là mùa thầy bị “nhốt” để ra đề thi học sinh giỏi và đề thi tuyển sinh quốc gia, đề thi tuyển sinh đại học. Tốt nghiệp, ra trường đi làm tôi mới hiểu vì sao những giờ giảng của thầy luôn được đông đảo học trò đến lớp ngồi nghe như thế.

Có bạn tôi mới đây nhắc lại bài giảng, thầy đã nói sự khác nhau của sinh viên năm 1-2-3-4 là ở chữ R.

Năm nhất thì “Rạo rực”, năm hai “Ríu rít”; năm 3 “Rộn ràng” và năm tư thì “Rệu rã” Cảm giác của chúng tôi thì giờ học của thầy lúc nào cũng đầy đủ và không khí thầy trò rất gần gũi. Gần như giờ thầy lên lớp ai cũng ghi chép rất đầy đủ về cái thế giới nghệ thuật có vườn tình và tình nhân.

Ra trường, đi làm, thầy trò càng có thêm những dịp chia sẻ chuyện của khoa khi những cơn lốc bất ngờ ào qua, tôi càng biết, càng hiểu và càng thêm yêu quý thầy.

Mặc dù tôi không theo nghề dạy học mà đi làm báo nhưng đôi lúc hứng chí tôi vẫn lên lớp cho một số sinh viên chuyên ngành báo chí. Thầy là tấm gương để tôi soi vào làm sao có những giờ giảng mà chẳng cần điểm danh sinh viên vẫn đến lớp đều.

Muốn vậy, người thầy, ngoài kỹ năng sư phạm, còn phải có yếu tố của một nhà khoa học và một người nghệ sĩ. Lý thuyết thì đơn giản như vậy đấy nhưng để thực hành được thì phải rèn luyện kiên trì cộng với một chút của trời cho mà không phải ai cũng có.

Trời đã phú cho thầy con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương, bằng tư duy khoa học và kỹ năng sư phạm, thầy như một khối nam châm có sức hút sinh viên vào các bài giảng, dù chúng có tản mát hay nhẩn nha rong chơi, mải mê chinh chiến và yêu đương ở góc biển chân trời nào cũng đều thấy tiếc nếu không được nghe thầy giảng bài.

Đôi khi, tôi lại vẩn vơ nghĩ, bây giờ công nghệ hiện đại, sinh viên lên lớp có thể quay clip toàn bộ bài giảng, hay livestream bài giảng của thầy, nhưng cái thú vẫn là được trực tiếp ngồi nghe thầy giảng bài rồi đôi khi hỏi cắt ngang một câu vừa nảy ra trong đầu. Dù bị bất ngờ nhưng thầy vẫn trả lời gãy gọn và lại nhập vào làn bài giảng mà không hề lạc hướng.
“Tự tình cùng cái đẹp” – cuốn sách cuối cùng của Tiến sĩ Chu Văn Sơn.

Trong ghi chép của tôi về giờ giảng của thầy có một lát cắt về sinh viên sư phạm. Ngay từ đầu thầy đã muốn kích thích sinh viên sáng tạo bằng cách phá vỡ và vượt lên những nếp tư duy cũ kỹ hằn sâu và ăn sâu thành thói quen vô thức, phản xạ khó bỏ của con người. Thầy cắt nghĩa màu sắc để người ta nhận ra sinh viên sư phạm là gì: là cái chất chân phương, mực thước.

“Điều này yếu tố tích cực của nó là đem lại cho số đông những người trong xã hội, đặc biệt là những người già một cảm giác yên tâm”. Chỉ một câu nhưng thầy dừng lại đôi chỗ, cười thành tiếng như muốn nhấn mạnh đến mấy chữ “người già”, đến “cảm giác yên tâm”.

Bỗng có tiếng một nữ sinh hỏi vọng lên: “Chúng ta là lãng tử”. Thầy trả lời ngay: Chúng ta đừng hiểu lãng tử theo nghĩa phất phơ. Lãng tử, nghĩa gốc của nó là người lãng mạn. Mà lãng mạn không phải là người sống kiểu tài tử, phù phiếm, thậm chí nhom nhem.

Theo tôi, lãng tử là người có một đời sống tinh thần thật sự phóng túng”. Câu trả lời của thầy thuyết phục sinh viên ngay để thầy tiếp tục lái vô-lăng về làn bài giảng.

“Các bậc phụ huynh nhìn thấy chân phương mực thước là yên tâm để họ trao gửi con gái mình cho chúng ta”. Lẽ ra phải là trao gửi “con cái” nhưng thầy nháy mắt đùa vui với mấy cậu sinh viên chúng tôi, “mỳ chính cánh” trong lớp, mà đổi thành “con gái”. Trao gửi con gái cho mấy anh sinh viên văn khoa thì cứ yên tâm.

Thầy cắt nghĩa, thực chất sinh viên sư phạm tự cắt xén mình mà không biết. Điều đáng buồn ở tuổi trẻ sư phạm đó là bị đám đông vô hình cuốn đi.

“Theo tôi nghĩ, khi chúng ta có cá nhân mạnh thì chúng ta sẽ có ý thức cá nhân mạnh. Ý thức cá nhân mạnh tức là luôn luôn khao khát mình được là mình chứ không phải là bản sao của người khác. Mình không phải là cái bóng của người khác, và mình không phải là sự hòa tan vào đám đông. Mình phải là mình. Tất nhiên đừng phủ nhận đám đông, đừng bất chấp đám đông. Tôi nhắc lại: không nên để mình bị hòa tan vào đám đông. Càng không nên là người bị uốn nắn. Chúng ta phải là mình, trước hết là mình”.

Thầy đi xa mãi rồi, một đời tài hoa, một đời luỵ cái đẹp, sẽ chẳng còn cơ hội cho em được đọc những bản thảo thầy gửi qua email như “Ăngkor những đối cực của cái đẹp”, như ngày nào nữa.

Nhớ đến Hoài Thanh

“Đọc Chu Văn Sơn, hoặc một bài viết nghiêm túc đăng báo hay chỉ một note nhỏ trên facebook, tôi luôn thấy thú vị. Thú vị vì ở anh luôn có những phát hiện rất tinh tế, bất ngờ. Anh nhìn thấy, phát hiện ra những cái đẹp mà ít người nhìn thấy. Một ngòi bút thật tài hoa và tinh tế. Trời phú cho Chu Văn Sơn một khả năng cảm nhận, một con mắt nhìn ra cái đẹp của văn chương.

Không hiểu sao, đọc Chu Văn Sơn tôi cứ hay liên tưởng đến Hoài Thanh. Có lẽ vì bởi ở Chu Văn Sơn có những điểm tương đồng với tác giả của "Thi nhân Việt Nam"?

Tiến sĩ Toán học Nguyễn Hùng Phong - CHLB Nga

Tiếng kêu vô nghĩa

“Ở một đoạn khác, thầy giảng về hai mệnh đề. Thứ nhất, chúng ta trưởng thành trong cô đơn. Thứ hai, chúng ta sáng tạo trong cô đơn.

“Cô đơn là khi mà cái tôi đối diện với chính nó. Đối diện với chính nó thì bao giờ cũng trả lời được câu hỏi rất tốt thế này: Mình là ai nhỉ? Mình là ai trong cõi đời này? Mình định trở thành ai? Mình là gì ở trong cõi đời này?”

Vừa lúc đó, ngoài đường Xuân Thủy có tiếng hú dài của ôtô cấp cứu 115 hay cảnh sát 113 dẹp đường, khiến cả lớp cười rộ lên. Còn thầy cũng tếu táo: “Đó, câu trả lời: Mình chỉ là tiếng kêu vô nghĩa”.

Nhật ký của Khải Mông

KIỀU MAI SƠN
Nguồn: ANTGCT


NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU