Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

NHÀ VĂN VĂN LÊ: VIẾT VỀ CHIẾN TRANH LÀ ĐỂ CỦNG CỐ ĐẠO ĐỨC VÀ LẼ PHẢI

“Nếu những người còn sống không làm được những điều như đã hứa, thì mọi sự hy sinh đều trở nên vô nghĩa. Có một thực tế đau buồn là trong mười người hy sinh, thì có tới chín người là con em nông dân. Nhưng sau gần bốn mươi năm chiến tranh đi qua, nông dân vẫn là người khổ nhất”- nhà văn Văn Lê tâm sự.
Nhà văn Văn Lê

Đã hẹn trước, sáng ngày kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập ngành Điện ảnh và Nhiếp ảnh Cách mạng, Văn Lê cùng đạo diễn Đào Bá Sơn (hai tác giả của bộ phim Long thành cầm giả ca) đón tôi trước sảnh Nhà hát lớn Hà Nội để đưa tặng tập tiểu thuyết Mùa hè giá buốtvừa được tái bản nhân được tặng Giải nhất Giải thưởng Văn học nghệ thuật Tp. Hồ Chí Minh 2006-2011. Cầm cuốn sách gần 600 trang, nặng hơn một kg, lòng tôi thật phân vân. Có chút công chuyện, phải vào phương Nam, tôi đành mang theo. Không ngờ cuốn tiểu thuyết đầy sức lôi cuốn, chỉ vài ngày đã đọc xong. Gấp trang sách cuối, trong đêm yên tĩnh, trên vùng đất từng xảy ra chiến sự tròn 45 năm trước (1968-2013), giờ đã không còn dấu vết những bom đạn, tranh chấp từng tấc đất, máu xương trộn lẫn đất bùn mà tác giả đã thể hiện với bút pháp hiện thực nghiêm ngặt. Nhân vật chính của tiểu thuyết là cả một tiểu đoàn quân chính quy tham gia hai đợt Tổng tấn công mùa xuân và mùa hè năm Mậu Thân 1968. Ở chương cuối: Hơn chín phần mười quân số của tiểu đoàn đã ra đi. Toàn thể cán bộ Ban chỉ huy tiểu đoàn không một ai sống sót (tr551). Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Sỹ Việt, một cán bộ đầy triển vọng, một hình mẫu người lính lý tưởng, cùng cô người yêu, vốn là một sinh viên Sài Gòn, với mối tình đẹp nở giữa chiến trận ác liệt đều lần lượt hy sinh. Tính về tiểu thuyết viết về chiến tranh dữ dội, ác liệt, miêu tả trực diện, thẳng băng những mất mát hy sinh, trung thành và phản bội, dũng cảm và hèn nhát, sự sống và cái chết của từng cá nhân, từng tập thể nhỏ cho chiến thắng của đại cục… có lẽ xưa nay, văn học nước ta chưa một tác phẩm nào sánh bằng. Quả thật, viết như thế, trừ phi tác giả Văn Lê, với vốn sống trực tiếp của một người lính trận, khó ai có thể tưởng tượng ra. Nhưng hình như đó cũng là điểm yếu của tác phẩm với tư cách một tiểu thuyết? Chất ký, với những chiến lệ được tái dựng liên tục và dày đặc có thể thành sự đánh đố, khó tiếp nhận với lớp bạn đọc trẻ?

Trong lớp nhà văn thế hệ chống Mỹ, Văn Lê là một tên tuổi ít được giới truyền thông chú ý. Mà có lẽ chính anh cũng muốn né tránh những chốn đông người. Nhưng sức viết, sức sáng tạo, sức làm việc của anh cũng ít người theo kịp. Với 22 cuốn đã in, có 3 tập thơ, 2 tập trường ca, 5 tập truyện và tạp văn, 12 cuốn tiểu thuyết, nhiều cuốn được nhận các giải thưởng lớn. Anh còn là nhà làm phim tài liệu sắc sảo, tác giả hàng chục bộ phim xuất sắc. Là tác giả các phim truyện, trong đó nổi bật là Long Thành cầm giả ca. Kịch bản phim Mỹ nhân, viết về hai người phụ nữ nhan sắc, có số phận cực kỳ nghiệt ngã thời Nguyễn sơ, đang chờ đưa vào sản xuất. Lặng lẽ sống. Lặng lẽ viết. Lặng lẽ tìm về những ký ức chiến trận, mà trong đó còn nhiều, rất nhiều những điều chưa thể công bố, chưa thể công khai kể lại, nhưng lãng quên nó lại là một tội lỗi.

Tôi nhớ, có một nhà văn phía Nam nhận xét, ở đây, anh em sáng tác viết nhiều, sách in cũng nhiều, nhưng ít đọc của nhau, lại càng ít viết về nhau. Mà đội ngũ phê bình hình như cũng ít đọc và ít viết về từng tác phẩm, nên đời sống văn học có vẻ ít sôi động.

Nhân đọc Mùa hè giá buốt, tôi muốn được trò chuyện với nhà văn đa tài và dai sức, một người lao động cần mẫn, nghiêm túc, có năng suất và chất lượng cao, về những vấn đề liên quan đến sáng tác về đề tài chiến tranh và lưc lượng vũ trang hiện nay.

* Vậy là đã 45 năm từ ngày Mùa hè giá buốt kết thúc. Cũng gần 40 năm đất nước độc lập, tự do. Cứ bằng vào hơn 20 tác phẩm đã in, có đủ thể loại thơ, trường ca, truyện ngắn, đặc biệt hơn 10 cuốn tiểu thuyết, có vẻ như nhà văn Văn Lê chưa ra khỏi ám ảnh của cuộc chiến tranh. Trong tiểu thuyết có đoạn đối thoại giữa một người lính có thói quen ghi nhật ký với người tiểu đoàn trưởng:

“Em sợ phải nhớ lại những gì xảy ra trong những ngày qua. Em muốn quên hết mọi thứ… Em cũng không muốn một ai được biết những điều có thật đã xảy ra trong mùa hè này.”
“Mình nghĩ, cậu nên viết… Ít ra, khi đọc những dòng của cậu, người ta có thể sẽ hiểu ra một điều gì đó.”( Tr 513).

Bây giờ là thời điểm yêu cầu gác lại quá khứ, xóa bỏ hận thù, hướng đến tương lai. Liệu văn học nghệ thuật về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang có nên tiếp tục khai thác và khuyến khích? Cách viết, điểm nhìn của nhà văn có gì đổi mới? Riêng anh đã thể hiện những suy nghĩ đó trong các tác phẩm đã viết như thế nào?

Văn Lê: Có người nói với tôi: Chiến tranh đã qua rồi, vết thương đã liền da rồi, khơi lại làm quái gì? Ăn đời ở kiếp gì với nó? Những lời khuyên như vậy không phải là không có lý. Đã có lúc tôi ngừng viết về chiến tranh, không muốn nghĩ về chiến tranh, nhưng thật khốn nạn, càng lẩn trốn, tôi càng thấy trống rỗng, chơi vơi. Dường như đối với tôi, chiến tranh vẫn chưa chấm dứt. Nó cứ lởn vởn ở đâu đó qua những câu chuyện, những bản tin thời sự, qua những di ảnh, những tiếng chuông điện thoại ré lên vào đêm khuya, như điềm báo tai ương, rồi giật mình, hoảng hốt. Nhiều khi tôi mơ thấy bạn bè về. Họ đói khát, tả tơi, nhìn tôi với ánh mắt thật buồn, rồi lặng lẽ bỏ đi, không nói. Không bao giờ nói. Thế rồi tôi lại viết. Viết để tự giải tỏa những uẩn khúc ở ngay trong trong lòng mình. Viết để được nhớ qúa khứ, nhớ về họ, nhắc về họ. Mà ở đời, con người ta chỉ thực sự chết, khi không còn ai nhớ, ai nhắc đến mình nữa. Viết, đã tạo cho tôi có được cảm giác thăng bằng, không còn bơ vơ với hiện tại và không cảm thấy hoang mang với tương lai nữa. Viết cũng giúp cho tôi nhớ lại, chiêm nghiệm lại những gì đã trải qua, để rồi tự điều chỉnh cuộc sống của mình sao cho lương thiện.

Viết về chiến tranh, tôi nghĩ, không phải là để khơi gợi niềm đau, cổ súy hận thù, tôn vinh công trạng mà là để củng cố đạo đức, củng cố lẽ phải của cuộc sống. Tôi đã nhìn thấy những gì mà chiến tranh đem lại. Những làng mạc, thành phố bị tàn phá. Những mảnh đất vô hồn. Những cánh rừng, những dòng sông chết yểu. Tất cả những tan đổ ấy, chúng ta đã thay đổi, tạo dựng lại được. Nhưng sự mất mát những giá trị, sự hoang vu về tâm hồn, sự giá băng trong quan hệ, sự xộc xệch của thể thống thì không phải một sớm một chiều mà xây dựng lại được. Đó mới là sự tàn phá khủng khiếp của chiến tranh. Có thể vì vậy mà những bài học, những kinh nghiệm được rút ra từ chiến tranh giúp cho chúng ta cảm thông, chia sẻ được với những nỗi đau, mất mát của người khác và, cần hơn cả là thấy được cái - đạo - làm - người. Chúng ta không thay đổi được lịch sử. Nhưng tương lai thì có thể. Thay đổi tương lai, tại sao không?

* Là một người lính từng trực tiếp chiến đấu, từng nếm trải những mất mát hy sinh, tôi chia sẻ suy nghĩ này: Một khi đồng đội chết hết mà còn ai đó còn sống sót thì cũng là một cái tội. Sống như thế, nặng nề quá, bất công quá! Thà chết cho có bè có bạn, vui hơn! (Tr 514-515). Chúng ta là những người may mắn được trở về. Mỗi khi đối diện với cuộc sống còn trăm bề khó khăn của đồng đội, đặc biệt là của gia đình những người đồng chí đã hy sinh, với tư cách một nhà văn, một người đã từng hứa hẹn sẽ thay người hy sinh, chăm lo cuộc sống cho những người thân của họ, anh nghĩ chúng ta phải làm gì để giải tỏa tâm thế đó?

Văn Lê: Mục đích của mọi cuộc chiến đấu bao giờ cũng là đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người. Hàng triệu chiến sỹ hy sinh cũng là vì mục đích thiêng liêng đó. Nếu những người còn sống không làm được những điều như đã hứa, thì mọi sự hy sinh đều trở nên vô nghĩa. Có một thực tế đau buồn là trong mười người hy sinh, thì có tới chín người là con em nông dân. Nhưng sau gần bốn mươi năm chiến tranh đi qua, nông dân vẫn là người khổ nhất. Gia đình nào có con cái hy sinh đã khổ, có nhiều người hy sinh cho đất nước lại càng khổ. Đó là một nghịch lý lẽ ra không thể tồn tại, không được tồn tại, nhưng nó vẫn tồn tại. Đó cũng là nỗi đau không chỉ đối với những người lính đã từng sống sót trong chiến tranh, mà còn là nỗi đau của tất cả những ai có lòng tự trọng. Trong mấy chục năm qua, chính quyền các cấp cũng có nhiều cố gắng trong việc nâng cao mức sống cho những gia đình liệt sỹ, những gia đình có công với nước, nhưng chẳng thấm tháp gì. Làm được ngôi nhà gọi là “đền ơn, đáp nghĩa” thì rùm beng đưa đưa tin, gắn bảng tuyên truyền, như thể bắt người ta phải “nhớ ơn” lại. Trời đất! Một dân tộc có Văn sao lại ứng xử với những người hy sinh như vậy?

Tôi nghĩ, những người được nhân dân trả lương, thuê quản lý đất nước cần phải có cách ứng sử đối với các gia đình có thân nhân hy sinh và có công với nước sao cho coi được. Nếu không làm được như thế, chúng ta sẽ phải trả một giá đắt cho tương lai của đất nước mình.

* Tôi biết, mặc dầu liên tục có tác phẩm được xuất bản, nhiều tác phẩm được giải thưởng, được dịch ra tiếng Anh, tiếng Hàn và xuất bản ở nước ngoài, nhưng mấy chục năm qua, công việc chính của anh là ở Hãng phim Giải phóng. Anh có thể nói rõ hơn những việc anh đã làm trong lĩnh vực Điện ảnh? Đây là lĩnh vực do anh lựa chọn hay chỉ vì được phân công?

Văn Lê: Tôi về phục vụ tại Hãng phim Giải phóng là do cơ quan cũ - Tuần báo Văn nghệ - Nơi tôi làm việc trước khi tái ngũ, từ chối nhận lại, do hết biên chế (?) Cực chẳng đã, tôi xin về làm phim. Thực tình, lúc đó, tôi chẳng có hiểu biết gì về điện ảnh. Ăn lương của người ta thì phải ráng mà làm. Có thể làm không hay, nhưng làm phải có trách nhiệm. Tôi luôn nghĩ như thế! Lúc đầu, tôi được phân công làm biên tập, biên kịch phim tài liệu. Ở cương vị mới, biết mình dốt, tôi phải ráng học. Học anh em, bè bạn, học trẻ, học già, học mọi người. Học kỹ thuật. Học đủ thứ. Do nhu cầu tự thân, mà tôi phải cố gắng. Lãnh đạo cơ quan cũng liều, dám chi cả đống tiền cho tôi làm phim. Tôi phải tìm mọi cách để không làm buồn lòng họ. May mà, tôi biết làm và làm cũng được. Thế là yên.

* Có một thực tế không được vui là ở nước ta, giữa văn học và điện ảnh thiếu một sự kết nối chặt chẽ. Trong sự lúng túng của Điện ảnh hiện nay, đó là một nguyên nhân dễ thấy. Là một vài người hiếm hoi, từ cái gốc văn học, sang sử dụng ngôn ngữ điện ảnh để thể hiện cuộc sống của đất nước, anh có cảm nhận gì về thực tế này? Theo anh, để điện ảnh giành lại vị thế một loại hình nghệ thuật có sức phản ánh cuộc sống đất nước sôi động, chiếm được sự chú ý của đông đảo công chúng, thì các nhà văn cần và nên làm gì?

Văn Lê: Điện ảnh là một loại hình tổng hòa của nhiều bộ môn nghệ thuật, ai cũng biết như thế! Nhưng cái gốc, cái cần thiết trước tiên, trước hết phải là kịch bản, rồi mới đến các thủ pháp thực hiện. Không có kịch bản hay, nói theo dân gian là không có bột, đố mà gột nên hồ. Nhưng có bột rồi mà lại rơi vào mấy đạo diễn tay mơ thì cũng bằng không. Hư bột hư đường là chuyện thường thấy. Thế là đồng đổ cho tướng, tướng đổ cho đồng. Thật chẳng ra làm sao. Tôi được biết, vào thập niên tám mươi, chín mươi, ngành điện ảnh sản xuất được nhiều phim hay. Các cơ sở mỗi năm cho ra đời hàng chục bộ phim nhựa các loại. Không khí sáng tác, trao đổi nghệ thuật giữa thành viên trong các đoàn làm phim từ Bắc vào Nam luôn diễn ra sôi nổi, hào hứng. Người làm phim biết của, biết người. Trọng nhau lắm! Ai cũng lặng lẽ làm việc, chăm lo đến công việc. Một bộ phim truyện làm hùng hục cả năm, thậm chí hai năm mới xong. Ít nghĩ đến chuyện tiền. Còn bây giờ, trước tiên là tiền, rồi mới đến các thứ khác. Một bộ phim từ lúc bấm máy đến khi hoàn thành chỉ mất ba bốn tháng. Có mà tài thánh, phim mới hay. Nhiều người làm phim bất cần nội dung. Họ ăn cắp phim Tầu một ít, Hàn một ít, Mỹ một ít, xào xáo rồi đưa lên đĩa. Phim năm cha ba mẹ như thế thì coi sao được. Vậy mà vẫn được lăng xê. Người xem thì phần nhiều cả tin. Cứ nghĩ báo, đài nói là đúng cả. Thế là loạn chuẩn. Người ta ùn ùn đi xem. Xem rồi mới biết bị nỡm. Ai cũng phải chào thua! Trách ai được?

Để có một nền điện ảnh vững vàng, trước tiên phải chú ý đến đào tạo. Phải quan tâm trước tiên, trước nhất đến đội ngũ sáng tác. Có được một ngũ sáng tác tài năng, chân chính, có được sự liên kết chặt chẽ với các nhà văn thì sản phẩm điện ảnh làm ra, ít nhất là xem được. Ở đâu, cơ sở làm phim nào có được sự liên kết, chăm chút chặt chẽ giữa các nhà văn với các thành phần sáng tác, chắc chắn nơi đó, cơ sở đó sẽ cho ra đời những bộ phim có chất lượng về nội dung và nghệ thuật. Nhà văn là những người luôn đưa ra những ý tưởng lạ, mang tính dị biệt. Mà phim lại cần ở sự dị biệt. Những gì dị biệt mới đáng xem!

* Trong Mùa hè giá buốt, có mấy Xá điệu, Văn điệu, Tử Thần điệu của giá đồng làng Thượng Chùa, cùng cách thể hiện của nó trong dịp cúng tế ma chay. Nghe mà bủn rủn cả người. Theo anh, đó là nét văn hóa tâm linh, là sự chắp nối phần hồn người sống và người chết, để không một người chết nào bị lãng quên trên thế gian này. Chỉ riêng về mặt văn chương thôi, đó là những khổ thơ thật ấn tượng, nhiều sức biểu cảm. Nhân đây, anh có thể nói gì về vai trò của văn hóa truyên thống, trong đó có văn hóa tâm linh của người Việt? Chúng ta nên làm gì để những giá trị đó phát huy mặt tích cực trong xây dựng đời sống tinh thần của xã hội hôm nay?

Văn Lê: Tôi nghĩ, chúng ta là người phương Đông, là dân tộc ăn đũa, nên các các phẩm nghệ thuật nói chung phải mang dấu ấn của riêng mình. Nền nghệ thuật ấy phải khác với phương Tây. Thông thường, người ta thích cái hay, cái lạ. Người làm nghệ thuật phải tìm ra, làm ra cái hay, cái lạ đó. Với mấy ngàn năm sáng tạo để tồn tại, các thế hệ tiền phong đã để lại cho chúng không biết bao nhiêu những giá trị văn hóa, tinh thần. Một trong những nét đặc sắc của các giá trị ấy là Văn hóa tâm linh. Và, các làn điệu dân ca chính là con thuyền chuyên chở cái tinh và cái thần của Văn hóa tâm linh ấy. Việc các Xá điệu, Văn điệu, Tử Thần điệu, Xẩm điệu hoặc Lý điệu còn tồn tại đến ngày nay chứng tỏ sức sống bất diệt của nó. Nó chính là bùa ngải làm ngẩn ngơ cả người và thần, làm cầu nối gữa người và thần. Đưa được cái tinh, cái thần của Văn hóa Tâm linh vào nghệ thuật là cần thiết, thậm chí rất cần thiết. Nó không chỉ là cái riêng, là hồn cốt của tổ tiên mà còn là hồn vía của nghệ thuật. Từ cái mỏ của con cò mổ tép, ông cha ta liền chế ra đôi đũa để gắp thức ăn. Đó là sự sáng tạo văn hóa kỳ diệu. Thế là chúng ta cầm được trong tay đôi đũa thần đó. Vấn đề còn lại là xử dụng đôi đũa thần ấy như thế nào? Những nhà làm phim chỉ cần tìm ra cái lý để đưa văn hóa tâm linh vào các tác phẩm mà thôi. Vả lại, bản thân Văn hóa Tâm linh đã là một nghệ thuật rồi.

* Cám ơn nhà văn Văn Lê!

NGÔ THẢO
Theo NVTPHCM


Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

NHÀ THƠ PHAN HOÀNG: ĐỐI THOẠI LÀ MỘT ỨNG XỬ VĂN HOÁ

“Những ngộ nhận, hiểu lầm của một số người do chưa đọc kỹ về sự chia sẻ của tôi trên facebook cũng là chuyện thường tình” - nhà thơ Phan Hoàng chia sẻ.
Nhà thơ Phan Hoàng

Từ một status của nhà thơ Phan Hoàng chia sẻ vui với bạn bè về công việc sáng tác thơ khó khăn của mình đã gây nên những hiểu lầm, ngộ nhận khi có người chưa đọc hoặc đọc không kỹ những điều anh tâm sự.

Một số người khác còn lợi dụng chuyện này để công kích, vu khống anh những điều ngoài văn chương. Nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn, báo Đất Việt đã có cuộc trao đổi với nhà thơ Phan Hoàng.

* Thời gian qua trên facebook “nổi sóng” vì có người cho rằng anh nói thơ trên facebook là thơ rác…

- Tôi không bao giờ nói thơ trên facebook (fb) là rác. Bởi trên fb có nhiều bài thơ, chùm thơ hay đáng đọc của các nhà thơ chuyên nghiệp lẫn không chuyên, trong đó có những bạn thơ thân thiết và quý trọng của tôi.

Đó là sự hiểu lầm, ngộ nhận về một status của tôi, hoặc có người thiếu thiện chí cố tình gán ghép và họ còn lấy ảnh của tôi gắn vào lời lẽ mà tôi không hề nói.

* Vậy sự thật thế nào về “thơ rác”, thưa anh?

- Tôi ít có được thời gian dành cho facebook, thi thoảng mới lên thấy có những bạn thơ quý mình đề nghị đăng thơ đọc chơi. Vì vậy tôi mới viết một status chia sẻ với họ. Tôi nói rằng mình làm thơ rất khó khăn, đôi khi viết một mạch vài chục câu nhưng rồi sửa chữa, xoá dần chỉ giữ lại được vài ba câu, mà sau đó đọc lại nữa thấy dở nên có khi xoá hết.

Thơ viết trên máy vi tính khi thấy dở xoá đi thì nó trở thành rác điện tử chứ gì. Tự mình đã thấy thơ dở, rác điện tử mà còn vô tình đăng lên fb sẽ gây “ô nhiễm môi trường”, thậm chí gây “ngộ độc” tinh thần người khác. Có những bài thơ lúc đầu tôi tâm đắc, đăng lên fb, nhưng sau đó đọc lại tự thấy dở quá nên tôi lặng lẽ rút xuống.

Thực ra những điều tôi chia sẻ chỉ nhằm tự răn mình, cảnh báo mình về sự nghiêm túc, khắt khe, cẩn trọng trong công việc sáng tác lẫn trình làng tác phẩm, cho dù đó là fb. Đây cũng là quan niệm xuyên suốt quá trình cầm bút của tôi, nhất là khi tôi tự biết mình viết chưa hay, chưa để lại dấu ấn gì đáng kể nên còn phải cố gắng.

* Có phải vì sự khắt khe với chính mình nên thấy anh ít đăng thơ, in thơ?

- Đúng vậy. Thơ với tôi là một không gian riêng biệt, một thế giới thiêng liêng của cái đẹp và sự hướng thiện. Ngoài những vần vè cho vui lúc trà dư tửu hậu, còn thơ đích thực thì không thể dễ dãi.
Tôi rất nghiêm túc, thận trọng trong công việc sáng tác. Có lúc 7 đến 10 năm tôi mới in một tập thơ, nhưng rồi đọc lại tự thấy không vừa lòng, thậm chí đôi lúc rất xấu hổ về những bài thơ mình đã viết đã in.

* Người sáng tác biết xấu hổ, khắt khe với chính mình là người cầu tiến. Anh nghĩ gì về những ý kiến không hay nhắm vào anh trên fb vừa qua?

- Những ngộ nhận, hiểu lầm của một số người do chưa đọc kỹ về sự chia sẻ của tôi trên fb cũng là chuyện thường tình. Tôi chỉ tự trách mình đã gây ra sự ngộ nhận đó chứ không trách ai.

Facebook nói riêng và mạng xã hội nói chung là một không gian mở mang tính văn hoá. Người biết dùng fb chuyển tải những thông điệp đúng đắn của mình là người ứng xử có văn hoá.

Tôi là người biết lắng nghe, học hỏi những điều hay, lẽ phải. Tôi cũng cự tuyệt những lời lẽ thô tục, vu khống, quy chụp ác ý nhằm những mục đích ngoài văn chương.

Nhà thơ lớn Lê Đạt từng nói rằng chúng ta nên tập thói quen “đối thoại” chứ không nên “đối thụi”. Đối thoại là một ứng xử có văn hoá. Lịch sử văn chương đã từng có những bài học đau thương vì thiếu đối thoại mà lại lao vào “đối thụi” đầy áp đặt.

* Có nhiều người khi đề cập về anh hay nhắc tới chức danh Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM. Xin hỏi thẳng anh, anh được lương bổng gì nhiều từ chức trách này?

- Với tôi đây chỉ là câu chuyện hội hè cho vui, dù cũng mất khá nhiều thời gian. Tôi không hề nhận bất cứ đồng lương nào từ chức danh Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM, thậm chí có những việc còn bỏ tiền túi hoặc ứng tiền trước.

Một khi hội viên tín nhiệm bầu mình lên, giao trách nhiệm thì mình cố gắng hoàn thành trong khả năng để không phụ lòng. Nhiệm kỳ này mình làm, nhiệm kỳ sau người khác làm, vì công việc chung xây dựng và phát triển hội nghề nghiệp, vậy là vui rồi.

* Không nhận lương ở Hội Nhà văn TPHCM thì thu nhập từ đâu anh sống?

- À, tôi là Trưởng đại diện miền Nam báo Văn Nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, rồi còn cộng tác thường xuyên với nhiều tờ báo và nhà xuất bản. Rất nhiều việc phải làm. Đó mới đích thực là “nồi cơm” của mình, cuộc sống của mình, chứ không phải là công việc hội hè để rồi có những lúc gánh chịu áp lực không đáng vì những chuyện linh tinh ngoài văn chương.

Vừa qua chương trình ra mắt tập tản văn “Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra” của anh được bình chọn là một trong mười sự kiện nổi bật nhất Hội Sách TPHCM lần thứ X. Hình như gần đây anh đi nhiều, viết nhiều nhưng chủ yếu viết báo, viết văn chứ ít làm thơ…

- Tôi vẫn luôn làm thơ và luôn tự xoá. Tôi không thể sống thiếu thơ. Tuy nhiên về mặt xuất bản gần đây thì tôi lại tập trung về ký sự nhân vật và tản văn. Ngoài tập “Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra” thì năm vừa qua NXB Văn hoá văn nghệ còn in tập “Sài Gòn đất thiêng khí tụ” và cả hai đang có kế hoạch tái bản.
Bên cạnh đó tập 2 bộ ký sự nhân vật “Sài Gòn đất lành chim đậu” do NXB Tổng hợp TPHCM ấn hành cũng đã ra mắt. Tôi đang lao vào viết một cuốn sách mới. Ngẫm lại thấy mình làm việc nhiều, mà rong chơi cũng dữ.

* Xin cảm ơn những chia sẻ chân thành của anh và cũng mong qua cuộc trao đổi này bạn đọc sẽ thông cảm hơn những “sóng gió” trên fb vừa qua.

TUYẾT MAI
Nguồn: Đất Việt

NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH: VIẾT VĂN BẰNG SỰ TRẢI NGHIỆM, QUAN SÁT VÀ LÒNG YÊU NGHỀ

Đó là chia sẻ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong buổi giao lưu với sinh viên khoa Văn-Đại học sư phạm Hà Nội sáng 9.12. Nhiều câu hỏi và chia sẻ đã được "tác giả của tuổi thơ” này giải đáp. Buổi giao lưu đã thu hút hàng trăm sinh viên tại Đại học Sư phạm Hà Nội tới tham dự.
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

"Hiệp sĩ của tuổi thơ"

Xuất hiện từ những năm 80 của thế kỷ XX, Nguyễn Nhật Ánh đã bắt đầu đánh dấu tên tuổi của mình trong lòng nhiều lớp thế hệ thiếu nhi bởi lối viết truyện giàu cảm xúc, sự chân thành sâu sắc với lối tư duy đậm tính triết lí, đầy ngỗ nghịch và mang tính đột biến cao.

Tại chương trình giao lưu, nhiều em học sinh, sinh viên thể hiện sự mến mộ của mình với nhà văn đầy tài năng này bằng cách chỉ ra một loạt tác phẩm gây “chấn động” nền văn học thiếu nhi như: Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Tôi là bêtô, Kính vạn hoa, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh…

Nhà văn cho biết, cuộc sống hiện đại đầy biến động với sự du nhập của văn hóa nước ngoài vào Việt Nam, trẻ em được tiếp xúc với nhiều công nghệ hiện đại nên dễ bị lôi kéo vào những con đường khác ngoài văn học. Vì vậy ông tâm niệm: “Các nhà văn phải viết loại sách để đáp ứng được nguyện vọng của các em, đẩy lùi văn hóa độc hại ra khỏi nhà trường.” Với thiên chức là một người “cầm bút” nhà văn đã viết, đang viết và sẽ tiếp tục viết những tác phẩm cho lứa tuổi này.

“Viết sách cho tuổi thơ là vì có trách nhiệm với bạn đọc, khi những tác phẩm của mình đang được lứa tuổi này mong chờ mỗi ngày. Hơn thế nữa đó còn là vì tâm hồn tôi đã gắn liền với tuổi thơ, có nhu cầu viết sách để được trở về lại những “sân ga, bến tàu” của tuổi thơ.” – Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh chia sẻ.

Nhiều chia sẻ thú vị

Có câu hỏi được đặt ra như đâu là bí quyết của sức viết bền bỉ và sự quyến rũ của ngòi bút đến như vậy? Ý tưởng văn chương của nhà văn từ đâu mà có? Hay nhiều câu hỏi khác liên quan đến các tác phẩm khác như câu hỏi về các nhân vật của trong truyện có nguyên mẫu thật hay không? Rồi nhà văn có lên đề cương chi tiết, sắp xếp các nhân vật trong truyện của mình như thế nào mà lại hay như thế?... được các bạn sinh viên gửi tới nhà văn.

Giải đáp những thắc mắc này của các bạn sinh viên, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh tươi cười chia sẻ một cách hết sức chân thành. Ông cho biết kỷ luật lao động, sự cần mẫn và lòng yêu nghề chính là bí quyết để ông có thể cho ra đời những tác phẩm của mình. Không những thế, để tác phẩm của mình được sống động, tự nhiên mà hấp dẫn, nhà văn cần có sự trải nghiệm, ký ức, sự quan sát và óc tưởng tượng.

Ông cho biết thêm, hầu hết các nhân vật trong tác phẩm của mình đều là hư cấu nhưng những tình huống, những chi tiết trong tác phẩm lại là có thật. Cũng có những nhân vật là tổng hợp nhiều tính cách của những người bạn ngoài đời thực để đưa vào tác phẩm. Chính vì thế những tác phẩm của ông, bạn đọc nhìn thấy mình ở trong đó, như được sống ở thời đó vậy.

Những nhân vật trong tác phẩm của mình, ông thường tạo không gian cho chính nhân vật được chủ động quyết định đời sống của mình, xác định đích đến và để cho nhân vật trong truyện phát triển theo hướng tự nhiên chứ không gượng gạo, gò bó giống như con rối bị giật dây. Lối kể chuyện tự nhiên cùng với việc huy động những ký ức, kỷ niệm có thật, sự trải nghiệm tạo nên một sự cuốn hút cho tác phẩm của mình.

Giải thích về những cái kết trong nhiều truyện như: Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Chuyện xứ LangBiang… đều là kết mở. Nhà văn cho biết trong các câu chuyện của mình ông thường để một “khoảng trống về mặt văn bản” để chính bạn đọc cùng tham gia đồng sáng tạo với người viết. Không phải tất cả cái gì trong truyện cũng nói hết để tạo sự liên tưởng, sự kết nối và sự thú vị cho cả người đọc và người viết.

Cũng trong chương trình giao lưu, nhà văn đã dành thời gian để ký tặng sách lưu niệm tới những người đã tham gia, những bạn trẻ hâm mộ sách của ông.

***

Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 7.5.1955 ở xã Bình Quế, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông là nhà văn chuyên viết truyện cho lứa tuổi thiếu nhi. Những tác phẩm của ông bắt đầu xuất hiện rộng rãi vào những năm 80 của thế kỷ XX. Cho đến nay, nhà văn tài ba này đã có khoảng hơn 100 tác phẩm được xuất bản. Ngoài viết văn, ông còn được biết đến là một nhà báo, một người bình luận thể thao, chuyên gia tư vấn tình cảm… Nhiều tác phẩm của ông đã được chuyển thể thành phim như Áo trắng sân trường, Kính vạn hoa, Chú bé rắc rối… và mới đây nhất là Tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh.

VƯƠNG TRẦN
Nguồn: LĐO




Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

SÁCH & NGƯỜI YÊU KIỂU DI LI

Ngay sau khi tập truyện ngắn mới nhất San hô đỏ được phát hành, nhà văn Di Li đã lên đường đến Thái Lan, dự lễ kết nạp hội viên Hội Nhà văn châu Á - Thái Bình Dương.

Đi đi về về, tận hưởng mọi thú vui của cuộc đời, là lẽ sống của Di Li, thế nên, bao giờ, cũng luôn thấy nụ cười trên môi chị.
Nhà văn Di Li

Tình yêu và vật chất song hành

Trong San hô đỏ (Phương Đông & NXB Văn học, 2012), người đọc gặp khá nhiều câu chuyện tình yêu, lẫn trong mười truyện ngắn, vừa đủ làm nên gần 240 trang tương đối dày dặn. Viết chuyện tình, không rõ có phải là thế mạnh của Di Li, so với những truyện kinh dị hay trinh thám hoặc xã hội hay không, chỉ thấy cứ lạnh câm, như thể người viết đơn thuần đứng ngoài quan sát, mà không đi vào nội tâm nhân vật, để thưởng thức mọi chiều sâu cảm giác.

Yêu kiểu Di Li, là không chìm đắm, ngập tràn, rung động, mà là những phán xét đúng sai phải trái nguyên nhân hậu quả được-mất, có-không. Yêu mà tỉnh táo lạ lùng, kiểu thuần túy lí trí điều khiển, còn con tim chết lặng. Ấy thế nên, cũng như những gì viết ra về tình, yêu kiểu Di Li, khó thấy mùi vị cảm tính bản năng trong đó.

Rất rõ ràng, cụ thể và tỉ mỉ, tình yêu luôn có vật chất song hành. Như trong truyện ngắn Giao thừa trắng, cứ mỗi lần làm tình xong, người đàn bà lại được tình nhân tặng cho một hạt kim cương đính vào món nữ trang thời thượng, như thể là một vật đếm giá trị cho bao nhiêu những ân ái. Và rồi, chỉ là những trống rỗng hoang hoải buồn chán khi sự điên cuồng thân xác không lấp được khoảng lạnh băng trong tim yêu.

Với Món quà Giáng Sinh, một truyện ngắn như thể viết vội, bởi ngay từ chi tiết đầu tiên, người đàn ông đưa quà đêm Giáng Sinh, nhớ tới người yêu giữa bao tất bật, đã gật đầu đầy thông cảm chấp nhận chờ chàng về giữa đêm, đã có thể thấy ngay được cái kết cuối cùng, khi chàng đưa cái bánh ga-tô - món quà sau rốt cho một gã giàu để chứng kiến sự bội phản từ người mà anh ta định tặng nhẫn cầu hôn.

Yêu không cảm xúc

Biết Di Li từ những ngày đầu khởi nghiệp, vào giữa năm 2006, cũng là người đầu tiên viết chân dung về chị, sau khi tập truyện ngắn đầu tiên Tầng thứ nhất được Đông A xuất bản.

Lắm lúc thân nhau, nhiều lúc quên nhau, lúc nào đó nhớ ra, gọi, thể nào cũng có mặt, thế nhưng tôi chưa từng nghe Di Li kể chuyện yêu bao giờ. Có lần, Di Li trêu rằng tôi mê văn chương đến kỳ lạ, còn tôi phủ nhận rằng, tôi yêu đàn ông hơn văn, chỉ có thể viết văn khi thất tình. Sau đó, tôi nói với Di Li rằng, chị yêu công việc hơn đàn ông. Đàn ông không có ý nghĩa với chị nhiều bằng sự hân hoan đầy tiết chế khi kết thúc được một truyện ngắn, mà giờ đây, chị thú nhận đã viết chậm đi nhiều, có khi mất đến một tuần, thay vì một tiếng như trước đây 5 năm.

Di Li luôn đẹp thanh nhã và thực sự nổi bật với khuôn mặt trang điểm tươi sáng, mái tóc xoăn nhuộm ánh đỏ bồng bềnh cùng sự để tâm cẩn thận trong phục trang lúc ngồi giữa nhiều đàn ông. Di Li như thể nhẹ nhàng ban phát thanh lịch của mình cho kẻ đại diện phái mạnh mà bỗng dưng trở nên yếu đuối khi bên chị.

Rất dứt khoát giữa “không” và “có”, không ít kẻ ngượng ngập khi trót có lời trêu trọc sàm sỡ nửa mùa, để rồi ấm ức kể với tôi về con người “tim lạnh”. Nhưng với tôi, chị vẫn là thế, dư dả những lần cả nể, nhất là với người cùng giới. Nhờ gì cũng nhận với rất nhiều nhiệt tình, rất thích sắm vai chuyên gia tâm lý. Đôi lần vẫn cười bẽn lẽn đầy hối lỗi nữ tính bởi trót lãng quên nhiều thứ nhưng chắc chắn không sai hẹn bao giờ.

Dĩ nhiên, với một lần vấp ngã theo đúng nghĩa đen, Di Li rất ngượng ngập, rất muốn chui xuống đất để giấu mặt. Sự hoàn hảo về vẻ bên ngoài lẫn đi đứng nói năng cư xử luôn là điều Di Li hướng tới. Chị thà là người đàn bà với trái tim đàn ông mạnh mẽ, chứ không muốn trở thành một thể nữ vô tư hồn nhiên yếu đuối.

Thế nên, văn của Di Li, dù là viết về yêu, thì cứ dửng dưng như không. Nhân vật ít khi bối rối hay bấn loạn, lúc nào cũng biết mình đang làm gì, nghĩ gì, nói gì, để đạt mục đích gì sau đó. Kể cả trong dục tình, sao mà băng giá bởi kiểu chọn lối kể không cảm xúc: “Một tối đẹp trời, họ gặp nhau ở nhà Đặng như thường lệ vào những ngày nghỉ cuối tuần. Lê nấu món cà ri gà và tráng miệng bằng khoai lang tẩm bột rán. Họ tắm trong bồn nước nóng, nghe bản “I will always love you” của Whitney Houston và cuối cùng, cũng như thường lệ, họ cuồng nhiệt trên tấm drap kẻ ca rô xanh quen thuộc.” (Tình yêu là như thế, T. 112).

Câu chữ của Di Li, được gọt xén cắt tỉa chu đáo cẩn thận như từng móng tay của chị mỗi khi ra đường. Hoàn cảnh sống của nhân vật, cũng sang trọng, kể cả khi muốn nói về những nỗi vất vả khổ sở của kẻ bòn mót từng đồng tiền để sống, vẫn ánh lên lấp loáng bụi ánh vàng. Đó cũng là bởi, cách chọn từ miêu tả và kiểu câu “sản xuất từ Di Li” ngắn gọn, súc tích và dĩ nhiên cầu kỳ. Với Di Li, qua những truyện ngắn tình (mà không tình, mà khô khốc) trong San hô đỏ để thấy rốt cuộc, gọi là “yêu” nhưng cũng chỉ là trò chơi mà cả hai người tham gia đều kém cỏi.

Thế nên, sau khi đọc xong truyện ngắn sau cuối Cơn mưa qua nhanh trong tập, bỗng dưng nghĩ tới việc, đàn ông yêu Di Li đã khó, để Di Li yêu lại thì càng khó hơn. Tôi chưa biết góc khuất yêu của Di Li bằng mắt thấy tai nghe, chỉ cảm thấy, muốn yêu kiểu Di Li, người đàn ông dứt khoát phải tử tế (theo thẩm giá riêng của chị) một cách hoàn hảo.

VIỆT QUỲNH
Nguồn: TT&VH



Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

NHÀ VĂN NAM CAO QUA CHUYỆN KỂ CỦA VŨ BẰNG

“Nhắc đến Nam Cao, bây giờ tôi có tiếc điều gì, ấy là tiếc đã không biết Nam Cao sớm hơn một chút...”, đó là lời nhà văn     Vũ Bằng trong cuốn Vũ Bằng - Mười chín chân dung nhà văn cùng thời do tác giả Văn Giá sưu tầm, giới thiệu. Ngay vị trí Nam Cao trong tập sách cũng cho thấy  Vũ Bằng đánh giá Nam Cao rất đúng mực, chỉ đặt sau Vũ Trọng Phụng…
Nhà văn Nam Cao

Phát hiện văn tài Nam Cao một cách tình cờ

Vũ Bằng thuật lại: “Ngay lúc Tiểu thuyết thứ bảy ra khổ lớn, Nam Cao đã có viết mấy truyện gửi về báo, nhưng tòa soạn cũ không đăng, tôi quả quyết không phải là vì vấn đề dìm nhau, đố kỵ nhau, nhưng có nhiều phần chắc chắn là vì vấn đề lười nhác hay không có sự trùng hợp ý kiến giữa người viết truyện và người lựa truyện. Sở dĩ nói như vậy là vì lúc đó Tiểu thuyết thứ bảy “ăn” về độc giả bình dân, đối tượng là đàn bà con gái, thích đọc truyện ướt át, lâm ly một chút, ly kỳ một chút. Chứ những truyện “Tây” quá - nghĩa là khô khan, không có thương nhớ, không “khóc được” - thì không “ăn tiền”".

Bỗng tình cờ Vũ Bằng được giao làm Thư ký tòa soạn khi Ngọc Giao (chủ bút Tiểu thuyết thứ bảy) có ý định muốn đi Nam để kinh doanh với một người bạn nhập cảng sắt cũ. Rồi một buổi chiều xấu trời, không đi chơi tếu được, Vũ Bằng rút một vài bài ra xem thì trong số đó có một truyện của Nam Cao. Chỉ đọc độ nửa trang đầu, ông đã cảm thấy một truyện “đăng được”, và khi đọc xong thì ông bị Nam Cao cám dỗ. Ngay buổi tối hôm đó, Vũ Bằng hì hụi giở hết cả chồng bài cũ ra kiểm thì thấy Nam Cao còn có 2 truyện nữa. Ông đọc luôn một hơi và ngay sáng hôm sau, sửa qua vài chữ, vẽ ma két, đặt truyện của Nam Cao lên trang nhất, kèm một cái sa-pô giới thiệu một văn tài mới...”. 

Đó là câu chuyện Vũ Bằng đã tìm thấy “Đôi lứa xứng đôi”, hay “Cái lò gạch cũ” mà sau này đổi thành truyện “Chí Phèo”.
Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nam Cao

Và hình ảnh đầu đời của một văn tài kiệt xuất

Sau khi đăng được mươi truyện của Nam Cao ở trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy rồi, Vũ Bằng mới biết Nam Cao bằng da bằng thịt. “Anh đi thẳng vào nhà tôi ấp úng tự giới thiệu. Vũ Bằng đã kể về cái cảm giác đầu tiên gặp Nam Cao: “Là một người hiền lành, chân thật và nhũn nhặn...” và “...Lúc đó, Nam Cao độ 23 - 24 tuổi, nhưng nếu bảo là anh 35 - 36 tuổi cũng có thể được vì anh có vẻ già trước tuổi, không ngây thơ, bụ bẫm như Tô Hoài, tuy anh và Tô Hoài là hai bạn thân và cùng một lứa tuổi với nhau... 

Anh có vẻ tính toán từng cử động, thỉnh thoảng lại đưa tay lên vuốt lại mấy cái tóc xõa xuống mang tai. Tội nghiệp, đừng có ai tưởng anh để tóc kiểu hippy, tóc anh dài quá chỉ là vì anh lười cắt, mà nguyên nhân lười là vì không… có tiền. Mùa rét chỉ có trần một bộ màu đen sọc đỏ lợt, giầy không há mõm nhưng lúc nào cũng đầy bùn. Có lẽ tại vì từ nhà anh lên Hà Nội phải đi qua nhiều quãng đường đê lầy lội. 

Ngày một ngày hai, quen biết với Nam Cao hơn, tôi biết anh là một nhà văn nghèo túng còn hơn cả Vũ Trọng Phụng... Nghèo, nhưng nhà văn Nam Cao luôn trọng nhân cách. Trong suốt cả một thời kỳ đi lại thân mật với nhau, anh không cho tôi biết anh có mấy con cả thảy, nhưng anh đã nói như thế này: “Nhà thì nghèo chật, nền nhà thì là đất nện, mưa thì dơ, nắng thì bụi, mà một lũ con oánh nhau chí chóe cả ngày... Không cố viết mà kiếm tiền nuôi chúng thì làm thế nào được hở anh?”.

Bắt đầu viết Tiểu thuyết thứ bảy, Nam Cao được 15 đồng một tháng, sau đó hình như tăng lên được 20 hay 25 đồng. Nam Cao cho như thế là tạm đủ, không thấy phàn nàn bao giờ về tiền nong. Hỏi ra thì trước khi viết báo như thế, tất cả sự sinh sống của gia đình anh dựa trên một giàn trầu. Cứ đến phiên chợ thì bà anh lại hái trầu đem bán. Nhưng bán trầu mà nuôi sống được cả nhà ư? Tôi băn khoăn tự hỏi như thế nhiều lần, nhưng không tài nào biết được Nam Cao đã làm cách nào để sống, dù là sống khổ ở một cái làng hẻo lánh nhất, nghèo khổ nhất tại một miền quê xa xôi nhất thành Nam. Nam Cao không hề cho ai biết sự thật đó...’’.

Vũ Bằng viết về bút pháp nghệ thuật Nam Cao: “...Đặc điểm của Nam Cao theo tôi là ở sự giản dị chân phương. Cũng như người anh, văn anh không cầu kỳ, nhưng “đánh phát nào trúng phát ấy”, đi sâu vào tâm hồn người ta...”.

Một quan niệm hầu như đã quán xuyến toàn bộ đời văn của Nam Cao. Những chuyện buồn tủi, trớ trêu của cuộc đời giáo Thứ (Sống mòn), Điền (Giăng sáng), Hộ (Đời thừa) đều được chắt ra từ   chính cuộc đời của nhà văn. Còn những Thị Nở, Bá Kiến, Binh Chức, Lão Hạc, Dì Hảo, Lang Rận, Trạch Văn Đoành... đều là nguyên mẫu từ cái làng Đại Hoàng khốn khó bên dòng Châu Giang, là quê hương nhà văn.

Tôn vinh một văn tài qua đôi mắt Vũ Bằng

Là người có công phát hiện văn tài Nam Cao, rồi đến khi Nam Cao nổi tiếng, ông một lòng ngưỡng mộ, khao khát được như bạn mình: “Riêng tôi, được biết thêm Nam Cao, tôi rất lấy làm hãnh diện. Mỗi khi có bài của anh gửi về, tôi chưa đọc mà đã tin chắc là hay. Quả nhiên như thế, văn Nam Cao mỗi ngày viết một chắc chắn và sâu sắc hơn lên. Chừng một năm sau, thú thực là tôi đã buồn se sắt một thời gian vì biết rằng Nam Cao còn tiến, và vẫn tiến, chắc chắn tôi không thể nào theo kịp... Thực tình như thế, bởi vì tôi thấy Nam Cao nổi lên dữ quá, văn anh hay quá, nhiều khi đọc xong một truyện của anh, tôi lấy làm “quái lạ” sao người ta lại có thể lẩm cẩm và tài tình như thế? Sao lại có thể chọn lựa những hình ảnh, những danh từ “mả’’ thế? Sao lại có thể tạo nên một truyện giản dị mà lạ lùng đến thế?... Riêng về Nam Cao, theo sự hiểu biết thiển cận của tôi thì quả tôi chưa thấy có một nhà văn nào “dớ dẩn mà ăn người” như thế...”.

Thương tiếc bạn hy sinh trong kháng chiến, Vũ Bằng viết “...Chỉ đau có một điều là những nhà văn cỡ Nam Cao chết đi giữa lúc chiến tranh sôi động thật là một thiệt thòi rất lớn cho riêng phe văn nghệ… Vâng! Nam Cao lỗi lạc như vậy, nhưng cuộc đời khốn khó cùng cực. Chỉ những người dấn thân cho sự nghiệp mới vượt lên hoàn cảnh để sống đẹp, để cống hiến tài năng cho đời. Nam Cao là một người như vậy”.

TÂN LINH
Nguồn: ANTĐ


Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

NHỮNG HẠT NGỌC THƠ HÀN ĐẦU THẾ KỶ XX

Những hạt ngọc thơ Hàn Quốc là tập hợp gồm 140 bài thơ Hàn Quốc hiện đại được cho là hay nhất trong giai đoạn từ những năm 1920 đến giữa thập kỷ 1980 do Jaihiun J. Kim tuyển chọn, biên soạn và dịch ra tiếng Anh, xuất bản năm 1993.
 Nhà nghiên cứu, dịch giả La Mai Thi Gia

Việc làm của chúng tôi là chọn ra một số nhà thơ bắt đầu nổi lên từ đầu thế kỷ XX, tên tuổi của họ có sức ảnh hưởng đến văn học Hàn Quốc hiện đại nói chung cùng một vài tác phẩm tiêu biểu của họ để giới thiệu đến bạn đọc. Chúng tôi lược dịch phần giới thiệu trong tập thơ này cùng phần tiểu sử và thơ của các nhà thơ mà chúng tôi nhận thấy là tiêu biểu nhất cho giai đoạn đầu của thơ hiện đại Hàn Quốc như Hang, Yongun; Chu, Yohan, Yi, Shangwa; Kim, Tonghwan; Park, Yongchol… Bênh cạnh đó chúng tôi cũng đưa thêm vào phần giới thiệu những đoạn trích dẫn ngắn từ những bài thơ mà chúng tôi chọn dịch từ bản tiếng Anh, để làm rõ hơn các nhận xét về phong cách thơ của từng tác giả.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, văn chương Hàn Quốc bắt đầu tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài trong chốn ẩn thân của mình. Trong khi văn học truyền thống được khuyến khích phát triển chủ yếu dưới những tác động của văn chương Trung Quốc thì ngược lại, văn học hiện đại bắt đầu hình thành với ảnh hưởng từ nền văn học phương Tây, điều này vẫn được cho là bước ngoặc lớn trong văn học nước Hàn. Hàn Quốc bắt đầu giao lưu trực tiếp với phương Tây, đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên ánh sáng, sau đó phát triển mạnh mẽ từ từ 1980 đến 1910.

Bị thúc giục bởi làn sóng cải cách chính trị và cải cách hệ thống xã hội của thời đại, văn chương Hàn Quốc đã sẵn sàng dấn thân vào công cuộc hiện đại hóa dưới ngọn cờ của văn học phong cách mới, bắt đầu với sự đổi mới của Nam Son Ch’oe trong thơ và Kwangsu Yi trong văn xuôi, đó là lý do vì sao hai nhân vật quan trọng này được xem là cha đẻ của văn chương Hàn Quốc hiện đại. Họ đóng vai trò như là chất xúc tác trong quá trình hiện đại hóa văn học nước Hàn. Tác phẩm của họ chú trọng nhiều hơn đến chức năng giáo huấn của văn học, họ hướng đến việc tận dụng nghệ thuật như là một phương tiện khai sáng con người và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Văn học Hàn Quốc nói chung và thơ ca nói riêng vào trước những năm cuối cùng của thập kỷ 1910 vẫn chưa thực sự phá vỡ được cái vỏ giáo huấn của mình cho đến khi các trào lưu văn học Phương Tây tràn vào Hàn Quốc gần 1 thế kỷ sau đó.

Xét  một cách chặt chẽ hơn có thể cho rằng thơ ca Hàn Quốc hiện đại thực sự bắt đầu với Yohan Chu và Ok Kim. Không chịu sự chi phối của thói đạo đức giả trong thơ ca kiểu mới và những tình cảm bồng bột của chủ nghĩa lãng mạn nhạt nhẽo, Chu và Kim đã thành công trong việc tạo ra dấu ấn của riêng mình từ những bài thơ được sáng tác theo kiểu truyền thống của những bài balat dân gian, đây là hai nhà thơ hiện đại của Hàn Quốc đã bắt đầu tạo được phong cách của riêng mình.

Sau thành công của Yohan Chu và Ok Kim là thành công của hai nhà thơ Tonghwan Kim và Sowol Kim vào giữa thập kỷ 1920.  Được đánh giá là nhà thơ xuất sắc nhất của giai đoàn này, Sowo Kim đã vượt xa khỏi cái bóng của người mà mình chịu ơn - Ok Kim -  là người thầy và là người cố vấn văn học của ông. Sowo Kim đã khẳng định được tài năng thi ca của mình bằng cách mêu tả kết hợp giữa tình yêu xứ sở với cảm hứng bất tận về con người trong một chuỗi những bài thơ được đánh giá rất cao của ông như Hoa đỗ quyên, Những bông hoa trên núi và Lời cầu khấn. Ông là người đầu tiên của giai đoạn này chú ý đến việc miêu tả thiên nhiên và cũng là người có kiến thức sâu rộng về vấn đề này.  Ông ngắm nhìn thiên nhiên không chỉ như là trung tâm của cái đẹp mà còn như là mạch nguồn gợi ra những cảm hứng về cuộc sống.

Bông hoa nở rộ
Trên đồi núi xa
Xuân rồi đến hạ
Và thu đi qua
Hoa kia vẫn nở
Trên đồi núi xa

(Những bông hoa trên núi - Sowo Kim)

Cùng thời với Sowol Kim có Tonghwan Kim, một nhà thơ luôn hồi tưởng về vẻ đẹp của vùng đất đã bị mất chủ quyền. Tonghwan Kim ra đời ở Kyongsong và học đại học Tokyo ở Nhật, suốt những năm chiến tranh ông bị đưa về phía bắc Hàn Quốc. Khi con sông tuôn trào và Tuyết đang rơi là những bài thơ đáng chú ý của ông trong giai đoạn này.

Và khi sông đã tuôn trào
Thuyền kia sẽ tới cập vào bến thôi
Tình yêu dịu ngọt của tôi
Cũng theo thuyền ấy nàng thời đến đây

(Khi con sông tuôn trào - Tonghwan Kim)

Yongno Pyon và Tongmyong Kim cũng là những nhà thơ mang tâm trạng tiếc nuối quá khứ như Tonghwan Kim và cũng đã viết nên những bài thơ có giá trị. Tuy nhiên hấu hết những bài thơ ra đời trong thời kỳ này đều có hạn chế về đề tài và lĩnh vực thể hiện, đa số đều tập trung nói về tình cảm.  Tongmyong Kim ra đời ở Kangnung và đến học viện Aoyama của Nhật để học thần học. Sự nghiệp của ông trải rộng ở nhiều lĩnh vực như nhà giáo, người biên tập báo chí và là thành viên của quốc hội. Dưới những luật lệ thống trị của Nhật Bản, ông đã bỏ về nông thôn và ở đây ông đã viết trong một nỗi nhớ da diết về vẻ đẹp của đất nước trước khi chúng bị kẻ tàn bạo dày xéo. Tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm Đàn lia của tôi (1930), Cây chuối (1938), Chứng nhân (1955) và Tâm trí tôi(1964)…

Tâm trí tôi là một chiếc lá rơi
Hãy cho chiếc lá tôi nằm lại trong vườn em một khắc
Rồi tôi sẽ từ giã em ra đi trong lặng thầm đơn độc
Khi thêm một lần gió lại thổi lên

(Tâm trí tôi - Tongmyong Kim)

Vào những năm về sau của thập kỷ 1920, Shangwa Yi và Yong’un Han đã mang lại sức vóc mới cho thi ca Hàn Quốc bằng sự hợp nhất vào trong thơ chiều sâu siêu hình và cái nhìn thấu đáo vào ý thức con người. Ra đời ở Taegu, Shangwa Yi học tiếng Pháp tại trường đại học dành cho người nước ngoài ở Tokyo, Nhật Bản. Thơ của ông tiêu biểu  cho xu hướng lãng mạn của thế kỷ 20. Nếu không kể đến việc dấn thân của Yi vào bên trong sự tăm tối hão huyền của nhục thể và nỗi sầu muộn chán chường thì rõ ràng chính Yi là một nhà thơ hiếm hoi đã biết cách thể hiện được rõ ràng những quan niệm của mình:

Trăng khuya còn mỏng mảnh
Trong như là sợi tơ
Gió bắt đầu lay động
Và dường như bất ngờ
Mùa xuân đang rơi xuống
Từ các vì sao đêm

(Mưa mùa xuân - Shangwa Yi)

Sinh ra ở Hongsong, thuộc tỉnh Chungchong, từ nhỏ đã dành trọn đời mình cho đức phật, Yong’un Han là một trong 33 thành viên ký vào bản tuyên ngôn lịch sử công nhận quyền độc lập tự chủ của Hàn Quốc dưới sự kiểm soát thuộc địa của Nhật Bản vào năm 1919. Bản thân là một tu sĩ và cũng là một nhà yêu nước, tên tuổi của Yong’un Han đã trở nên bất tử với một chuỗi những bài thơ tiếng tăm của ông trong tập Sự im lặng của tình yêu (1925), nó là hiện thân của sự phức tạp siêu hình và những nghịch lý trong thân phận con người, theo ông các thể thức của đạo phật cũng chẳng khác gì sự thể hiện của thơ ca. Theo phật giáo bản thể và khách thể có thể được chuyển hóa cho nhau, chỉ cần giữa chúng có tồn tại nghiệp chướng, và cùng với sự lạc mất của mối lương duyên nghiệp chướng thì bản thể và khách thể sẽ cùng diệt vong tại một thời điểm:

Lời thề tình yêu đôi lứa
Tưởng rằng còn mãi muôn đời
Như đóa hoa vàng bất tử
Nay còn là đống tàn tro
Ngọn gió nào mang đi xa
…………
Khi loài người biết yêu nhau
Trong em đã nhiều lo sợ
Sợ rằng ta sẽ chia xa
Vào ngay khi ta gặp gỡ
Cách ngăn đến thật bất ngờ
Tim em thành trăm mảnh vỡ

(Sự im lặng của tình yêu - Yong’un Han)

Vào năm 1910, sau gần 1 thập kỷ đánh mất chính mình, Hàn Quốc bắt đầu đứng lên chống lại những luật lệ thuộc địa hà khắc của Nhật, tuy nhiên phong trào độc lập lại mau chóng bị dập tắt bởi bàn tay tàn bạo của kẻ áp bức. Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc vừa mới nhen nhóm lại gặp ngay cảm giác về sự mất mát và thất vọng quá mạnh mẽ, và điều này lại mau chóng dìm dân tộc vào lại trong thời kỳ đen tối. Trong màn sương ảm đạm ấy, ý nghĩ thịnh hành của thuyết chủ bại đã đem đến lối thoát cho tâm trạng vỡ mộng và chủ nghĩa bi quan. Đồng thời, giữa cơn lốc hỗn loạn và điêu tàn ấy đã nổi lên một nhóm các nhà thơ cộng sản phương đông, những người đã nhận ra rằng nghệ thuật chỉ là phương tiện đấu tranh chống lại kẻ áp bức. Tuy nhiên những tác phẩm của họ cũng đạt phần nào đạt được những tiêu chuẩn nghệ thuật thẩm mỹ. Giữa không khí xã hội đó, nhà thơ Shanghwa Yi đã rất thành công trong việc diễn đạt về nỗi buồn đau của một quốc gia đang bị đàn áp trong bài thơ Có phải mùa xuân về trên vùng đất đã bị mất đi in trong tập Sanghwa và Sowol (1951).

Có phải mùa xuân đã về trên mảnh đất này không?
Mảnh đất không còn là của chúng tôi
Mảnh đất mà người ta chiếm mất?
Đắm mình trong ánh mặt trời, tôi đi như thể trong một giấc mơ
Dọc theo con đường nhỏ xuyên qua bao đồng lúa như mái tóc xõa tung
Nơi mà bầu trời xanh và những cánh đồng xanh đang hòa quyện vào nhau.

Đến trước đầu những năm 1930, trái tim rộng mở quá mức và tính đa cảm ốm yếu đã dần dần lùi xa bởi sự xuất hiện của thuyết duy lí cùng với những tiếng nói mạnh mẽ của các nhà thơ cộng sản phê phán quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Yongnang Kim, Chiyong Chong và Sok-Chong Shin là những nhà thơ trong số các nhà thơ cuối cùng của giai đoạn này.

Yongchol Park thì lại có sở trường ở việc nêu ra lý luận sáng tác hơn là những tác phẩm văn chương thực thụ. Khi đề cập đến bài thơ Tàu đang cập bến Park có vẻ thích thú với danh hiệu của một nhà phê bình giỏi hơn là một nhà thơ hay. Ông chú ý một cách nghiêm  túc đến những thể thức và tính nhạc của ngôn ngữ.

Sinh ở Kanglin, đến học tiếng Anh tại học viện Aoyama Nhật bản, Yongnag Kim thì lại rất thành công trong việc tạo tác giấc mộng – như một bầu khí quyển xuyên qua sự hòa âm giữa cảm giác và âm thanh. Ông quan niệm  một cách nghiêm túc rằng thơ ca là một loại hình nghệ thuật biểu hiện cái đẹp của kinh nghiệm. Từ những bài thơ của ông, ngôn ngữ Hàn Quốc dường như được khoác lên vẻ đẹp mới, tao nhã và tinh tế:

Này tôi ước mộng vời xa
Đã tan thành bụi theo hoa còn gì
Rồi khi hoa đã ra đi
Là khi tôi chẳng còn gì tháng năm

(Đến khi mẫu đơn khai hoa - Yongnag Kim)

Ở một phương diện khác, thơ Chiyong Chong đã khắc nên được bức tranh truyền thống nổi bật kết hợp với những nét vẽ hiện đại của phương Tây. Sinh ra ở Okchon, Chong học văn học Anh ở đại học Tojisha – Nhật Bản. Suốt trong thế chiến thứ 2 ông dạy học tại một trường trung học và sau chiến tranh ông là giáo sư tiếng Anh tại trường đại học nữ Ehwa. Ông bị buộc phải về miền Bắc Hàn Quốc suốt chiến tranh Hàn Quốc (1950 – 1953). Là một trong những nhà thơ gây ảnh hưởng nhất thế kỷ 20, ông mang những hình ảnh hiện đại và mạnh mẽ hòa trộn với tình yêu bản xứ vào trong thơ Hàn. Tác phẩm chính của ông là Tuyển tập thơ (1935), Hồ Paeknok (1941) và Tinh tuyển thơ (1946).

Qua vùng sa mạc gió bay
Trong lò lửa tắt phủ đầy bụi than
Gối đầu lên cuộn rơm vàng
Cha tôi chợp mắt mơ màng giấc trưa

Dầu trong những giấc mơ đêm
Làm sao tôi có thể quên chốn này?

(Vọng cố hương - Chiyong Chong)

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn chương ở Puan, Sokchong Shin theo cha mẹ chuyển đến một ngôi làng hẻo lánh ở vùng nông thôn, nơi đây ông đã trải qua thời thơ ấu không có dấu ấn cai trị của đế quốc Nhật. Gia đình ông trải qua một giai đoạn kiệt quệ, nhưng ông lại có được những nhận thức phong phú về thiên nhiên đang bao bọc xung quanh. Đó là lý do vì sao mà  Sokchong Shin lại được nhắc đến như một nhà thơ đồng quê. Tập thơ đầu tiên Ánh sáng ngọn nến của ông đã đưa ông lên vị trí như là một nhà thơ của nơi thôn dã.

Chỉ cần em gọi
Là tôi về đây
Như dòng suối mát
Lượn theo gió bay
Về xa tít tắp
Chân trời xuân phai

(Chỉ cần em gọi - Sokchong Shin)

Nhìn chung, qua một vài bài thơ hiện đại Hàn Quốc vào những năm đầu thế kỷ XX, có thể thấy rằng chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Hàn Quốc không phải là sự sao chép chính xác từ nguyên mẫu phương Tây. Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, mọi sự so sánh về văn học Hàn Quốc cần phải được đặt trong bối cảnh văn hóa của đất nước. Sự thật là các nhà thơ Hàn Quốc cũng hướng về cái tôi cá nhân và đề cao đời sống cảm xúc riêng tư như những nhà thơ của các nước phương Tây. Tuy nhiên quan niệm lãng mạn về sự hợp nhất giữa con người với tự nhiên lại được các nhà thơ Hàn thêm vào đó một chút dư vị cay đắng xót xa của nỗi ưu tư sầu muộn do tinh thần thời đại tạo nên.

LA MAI THI GIA
Nguồn: NVTPHCM 




Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

SÔNG CÔN MÙA LŨ CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC: SỰ KHÁM PHÁ NHÂN CÁCH VĂN HÓA VIỆT

Bộ trường thiên tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết về người anh hùng áo vải Quang Trung được xuất bản lần đầu tại Hoa kỳ đầu thập  kỷ 80. Năm 1998, Sông Côn mùa lũ được NXB Văn học tái bản lần đầu trong nước gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học Việt Nam. Đài tiếng nói VN đã đọc toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác trong suốt 6 tháng, cuốn hút sự say mê theo dõi của đông đảo độc giả. Từ ấy đến nay, bộ sách của Nguyễn Mộng Giác đã được tái bản trong nước đến lần thứ ba và được Đài TH TP Hồ Chí Minh mua bản quyền để làm phim truyền hình dài tập.
Nhà văn Nguyễn Mộng Giác 

Cái nhìn mới mẻ táo bạo về người anh hùng áo vải

Lịch sử Việt Nam có không ít những nhân vật lớn với tầm vóc tạo dựng thời đại mà cuộc đời của họ tự nó đã là những pho tiểu thuyết. Song rất tiếc, cho đến nay tiểu thuyết lịch sử Việt Nam mới chỉ dừng lại ở sự khai thác có tính chất minh hoạ lịch sử về một vài giai đoạn và một số khía cạnh của những nhân cách văn hoá lớn này. Rất hiếm tác phẩm tái hiện các anh hùng dân tộc một cách toàn diện, từ góc nhìn nhân văn và thế sự, tái tạo lại quá trình hình thành và sự toả rạng của những nhân cách lớn này, trong khuôn khổ một thời đại lịch sử, càng rất hiếm tác phẩm trình bày họ như là những nhân cách văn hoá Việt Nam vừa gần gũi, bình dị, vừa hấp dẫn, cao siêu .

Trong bối cảnh đó, bộ trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ trên 2000 trang của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Việt kiều Mỹ, được NXB Văn học Hà Nội tái bản năm 1998 đã trở thành một sự kiện văn học đáng kể vì đem đến cho người đọc một bức tranh hoành tráng về thời đại Tây Sơn, trên đó nổi bật lên hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung như một nhân cách văn hoá lớn , có sự cuốn hút trí thức đương thời, một nhân cách bắt rễ sâu vào trong từng số phận bé nhỏ của đời sống và vươn tới tầm vóc tạo dựng thời đại.

Người anh hùng Nguyễn Huệ bấy lâu vẫn định hình trong chính sử và dã sử như một người nông dân áo vải cờ đào mà cái ấn tượng về cốt cách nông dân võ biền, mạnh mẽ của ông đã in đậm trong tâm thức số đông như một ấn tượng lịch sử. Người ta đã quen coi Nguyễn Huệ như một hình ảnh tượng trưng cho những người nông dân chân đất, quật cường, dũng mãnh, song dường như cái khí phách anh hùng ấy không thể có chung nguồn mạch với văn hoá Nho giáo nói riêng và tư duy bác học nói chung. Nếu như trong Phẩm tiết, Nguyên Huy Thiệp đã khai thác cái ấn tượng võ biền này để tạo dựng một Quang Trung thế tục, sàm sỡ và cao ngạo đế vương thường gây tranh cãi, thì trong Sông Côn mùa lũ Nguyễn Mộng Giác đã cãi lại định kiến văn hóa này khi trình bày Nguyễn Huệ như một nhân cách trí thức hấp thụ các tinh hoa văn hoá bác học qua một ông đồ là giáo Hiến, tiếp thu các đạo lý từ Nho giáo, và từ nhiều nguồn khác để trở thành nhân vật anh hùng.

Theo dõi quá trình hình thành nhân cách này ta thấy rõ bản lĩnh của Nguyễn Huệ không phải đơn thuần là sự thăng hoa của bản năng giải phóng trong con người nông dân, mà là sự tự khẳng định có ý thức của một nhân cách văn hoá mới trong thời đại ấy. Do đó sức mạnh của người anh hùng Nguyễn Huệ không phải là quyền lực hoang dã của bạo chúa. Chính cốt cách văn hoá, bản chất trí thức này đã tạo cho nhân vật Nguyễn Huệ trong tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác có một sức hấp dẫn lôi cuốn trí thức đương thời.

Nguyễn Mộng Giác đã rất tinh tế và cao tay khi trình bày quá trình vừa hút vừa đẩy của Quang Trung với Nho giáo nói chung và các sĩ phu Bắc Hà nói riêng. Hấp thụ đạo Nho từ thuở ấu thơ, Nguyễn Huệ trong tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác đã vượt lên đạo Nho, tìm thấy trong đời thường và trong lịch sử cái lý lẽ phê phán những hạn chế của đạo Nho và những hủ nho trong đó có giáo Hiến thầy mình. Tuy đánh giá thấp tầm vóc và bản lĩnh văn hoá của những tri thức đương thời, nhiều lúc giận họ, căm thù họ, cảm thấy bất lực trước sự bảo thủ và gàn dở của họ, thậm chí có lúc định giết họ, nhưng Nguyễn Huệ vẫn không nản trí trong việc tìm đến họ, tha thiết lôi họ vào dòng chảy thác lũ của khởi nghĩa nông dân.

Chính cái nhìn mới, cái nhìn giải phóng, cái nhìn tạo dựng thời đại của Nguyễn Huệ toả ra từ nhân cách văn hóa rất Việt Nam của ông đã tạo cho ông một sức hấp dẫn có thể lôi kéo những trí thức lớn đương thời đi theo phong trào Tây Sơn. Thành công lớn của Nguyễn Mộng Giác là đã trình bày thuyết phục và nhuần nhuyễn sức hấp dẫn văn hoá của người anh hùng nông dân Nguyễn Huệ, thách thức những định kiến lịch sử. Đó là một góc nhìn rất mới mẻ và táo bạo của nhà văn với nhân vật lịch sử độc đáo, phức tạp này.

Nội soi nhân cách văn hóa người anh hùng Nguyễn Huệ

Khi trình bày, tái hiện, lý giải các mối quan hệ trí thức nông dân trong lịch sử và giữa các nhân vật lịch sử, các nhà văn xưa nay thường nhìn các sự kiện qua lăng kính của thân phận người trí thức với những bi kịch, éo le và giằng xé của họ trong sự hợp tác với lãnh tụ nhân dân. Chẳng hạn, tiểu thuyết Vạn Xuân (Dix mille printemps) của nhà văn Pháp Yveline Feray và các tác phẩm văn học, sân khấu khác về Nguyễn Trãi đã khai thác bi kịch của người tri thức có công trong bối cảnh hậu chiến thời Lê.

Cách nhìn phổ biến trong các tác phẩm này là trình bày một đối trọng tri thức bạo chúa, văn hoá quyền lực, kẻ sĩ nông dân trong một ý nghĩa nào đó thì đối trọng này là một tương quan có ý nghĩa và thuyết phục. Nhưng dường như văn hoá Việt Nam có độ nhoè, độ dính kết, độ dung hoà giao thoa và cộng sinh giữa cái thái cực đã tạo ra những quan hệ phức tạp, đa tầng và đa sắc hơn giữa những thế lực và những quan điểm trong tiến trình lịch sử. Vì thế, cái nhìn phân tuyến lưỡng cực, đối trọng theo tinh thần duy lý cổ điển phương Tây và cách sử dụng lăng kính tri thức nhìn một xã hội nông dân, một trật tự nông dân sẽ có nguy cơ bất cập.

Nguyễn Mộng Giác có bản lĩnh sáng tạo tránh được công thức có tính định kiến và áp đặt này. Tác giả di chuyển người tri thức từ vị trí đứng ngoài bổ sung, đối trọng và đối lập với người nông dân vào bên trong cấu trúc nhân cách của người anh hùng Nguyễn Huệ, để nội soi người anh hùng này, khám phá những mâu thuẫn, những giằng xé, những gắn kết, những cộng sinh lai tạp trong quá trình lịch sử và tâm lý, tìm ra mã số văn hoá thống nhất trong nhân cách lãnh tụ khởi nghĩa nông dân. Và việc lồng trí thức vào nông dân, lồng con người thế tục vào con người huyền thoại, lồng con người tình nghĩa vào con người quyền lực, lồng cái nhìn nhân bản vào cái nhìn chính trị, lồng dã sử, huyền sử vào chính sử đó là cái cơ chế sáng tạo nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ của Nguyễn Mộng Giác trong Sông Côn mùa lũ.

Ta thấy rõ và cảm thông với sự song tồn, đồng tồn, tương hợp trong con người Nguyễn Huệ một học trò giỏi cuả Nho học và một người phê phán Nho học, một người tôn trọng đạo lý tình nghĩa và một lãnh tụ quyền biến thao lược dám làm những việc cần làm (như dấy binh đánh lại Nguyễn Nhạc anh mình), một người bạn, người tình, người học trò thuỷ chung, ân nghĩa và một bản lĩnh anh hùng dám đạp đổ cả triều đình để dành lấy giang sơn. Sự dung hoà, giao thoa, cộng sinh giữa các mặt đối lập trong nhân cách Nguyễn Huệ phản ánh biện chứng văn hoá hỗn dung của người Việt, làm nên tính cách Việt Nam của nhân vật Quang Trung trong bộ tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Mộng Giác, khiến nhân vật này mang sinh động và đầy tính nhân bản khác hẳn với Nguyễn Huệ trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái và cũng khác về cốt cách văn hoá với Pie đại đế trong tiểu thuyết Nga.

Trên cơ sở cấu trúc nhân cách văn hoá của Nguyễn Huệ, Nguyễn Mộng Giác đã gắn kết các tư liệu lịch sử với chiều sâu nhân bản trong đời sống tâm lý, thế tục của nhân vật được hư cấu một cách tỉ mỉ và sinh động. Ngay từ khi Nguyễn Huệ còn là cậu học trò, Nguyễn Mộng Giác đã để cho người bạn gái của ông là cô An cảm nhận được cái áp lực văn hoá trong nhân cách anh hùng bộc lộ qua từng câu nói đùa, từng ánh mắt giễu cợt và cử chỉ đời thường rất hồn nhiên vô tâm. Khi Nguyễn Huệ trở thành bậc vương tướng, Nguyễn Mộng Giác lại để cho cô An có lúc cảm nhận được sự gần gũi, ấm áp của một người bạn cũ thời thơ ấu và để cho Nguyễn Huệ sống trong trạng thái cô đơn khi quyết định tiến hành nội chiến với chính người anh của mình.

Những nhân cách văn hoá trong đời thường

Nguyên lý văn hoá lưỡng hợp, hỗn dung đặc trưng của dân tộc Việt dường như đã trở thành miếng đất màu mỡ cho tư duy nghệ thuật của người viết tiểu thuyết lịch sử, kết hợp nhuần nhuyễn chính sử, dã sử và huyền sử với tưởng tượng, hư cấu và khai thác chiều sâu tâm lý để sáng tạo ra những nhân vật nhiều chiều chập chờn giữa huyền thoại và giải huyền thoại, giữa đời thường và lịch sử, giữa sứ mệnh và tự do, giữa quyền lực và nhân tính. Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ là một nhân vật tiểu thyết như vậy, một nhân vật mang tính ám ảnh của văn hoá Việt Nam với tất cả những mâu thuẫn, giằng xé giữa con người nhân bản và con người chính trị như nhà lý luận Nguyễn Hữu Lê đã chỉ ra khi bàn về đặc tính đối thoại và giao tiếp của tư duy nghệ thuật.

Nhân vật cô An, người bạn gái của Nguyễn Huệ cũng là một tham số văn hóa gia tăng tính lưỡng hợp, hỗn dung của văn hoá Việt trong thế giới các nhân vật tiểu thuyết của Sông Côn mùa lũ. An dường như là hiện thân của những con người bé nhỏ bị bóng đè trong lịch sử, trong trường hợp cụ thể của An, cô bị bóng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ ám ảnh suốt cuộc đời. Nguyễn Huệ từng gần gũi An như một người yêu trong tâm tưởng, đã gieo vào An những kỷ niệm, những ấn tượng, đã giễu cợt những khao khát trần thế nhỏ bé của cô rồi lại cưu mang cô trong những bối rối của đời thường để cuối cùng cô vừa bị lịch sử cuốn mất người yêu có nhân cách lớn lao và cướp đi cả những hạnh phúc đời thường bé nhỏ.

Một thân phận chung chiêng giữa cái cao cả và cái tầm thường , một người phụ nữ Việt Nam mang nghịch lý của số phận thân nhân vô danh bị giằng xé giữa khát vọng lịch sử văn hoá lớn lao và thực tế thấp hèn, dở dang, tội nghiệp. Những kỷ niệm về Nguyễn Huệ lướt qua cuộc đời An như đưôi sao chổi quệt vào một hành tinh bé nhỏ làm đổ vỡ sâu sắc cuộc đời cô. Trong số phận An có chất chứa cả những điều éo le kỳ thú của số phận nhân dân, cả những đức hạnh, những guằng xé của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử.

Không phải ngẫu nhiên, Nguyễn Mộng Giác kết thúc bộ trường thiên tiểu thuyết bằng hình ảnh cô con gái An lần đầu hành kinh. Cái kết ấy gợi lại hình ảnh người thiếu nữ An xưa kia lúc mới gặp Nguyễn Huệ, trong ngày đầu hành kinh đã hốt hoảng lo âu trước nhịp sống thường tình của người phụ nữ. Và, ta không khỏi suy nghĩ, cái nhịp sống thường tình ấy thực ra từ lâu không còn thường tình nữa, đó là thời điểm đáng báo động mà người phụ nữ phải đơn côi đối diện và đối thoại cùng những biến động kỳ vĩ của lịch sử, những hốt hoảng âu lo ngây thơ kia chính là tiên cảm, là linh giác của đời người phụ nữ luôn luôn sợ hãi lo âu vì bị bóng của những nhân cách siêu việt do chính mình góp phần bé nhỏ tác thành đè nặng suốt đời. Liệu có một người anh hùng nào sẽ đến phủ bóng lên cuộc đời cô gái con An? Những thân phận bình thường được nhấn trở thành một tín hiệu nghệ thuật có sức ám ảnh nâng cảm nhận của người đọc lên tầm suy tư triết học và văn hoá.

Bên cạnh An, những con người bé nhỏ bình thường khác trong Sông Côn mùa lũ như giáo Hiến, Lãng, Chinh, Thọ Hương... cũng có những cái riêng để đi vào lịch sử, tham dự vào nhân cách văn hoá của Nguyễn Huệ ở những mức độ khác nhau. Trong tương quan lịch sử, họ là những “mẫu số chung tầm thường”, một hai trong muôn ngàn, nhưng trong tương quan văn hoá là thế sự, họ cũng in dấu ấn vào nhân cách anh hùng trong một chuỗi những sự kiện, hành vi tưởng như bé nhỏ, thường tình vô nghĩa và bằng cách đó họ góp phần bộc lộ và khám phá những chiều kích nhân bản khác nhau trong nhân cách dân tộc và nhân cách anh hùng dân tộc.

Khác với những cây bút tiểu thuyết thường khai thác hành vi lịch sử của quần chúng như là những lực lượng cơ bắp, Nguyễn Mộng Giác xây dựng những con người bé nhỏ như những nhân cách văn hoá trong đời thường góp phần đan dệt và phản chiếu nhân cách văn hoá của người anh hùng áo vải Quang Trung. Họ đều là những nhân vật nhạy cảm văn hoá, sống thường trực trong tư cách nhân chứng văn hoá trước dòng chảy lạnh lùng và khốc liệt của lịch sử để đón nhận và lưu giữ những ấn tượng sâu sắc từ mỗi sự kiện, mỗi hành vi, mỗi xao động nhỏ trong dòng chảy ào ạt tàn nhẫn ấy.

Trước khi là nạn nhân của sự quên lãng, vô tâm và phản bội thường thấy trong lịch sử, những con người bé nhỏ này ngày ngày là nạn nhân của nhân tính bén nhạy trong mình, để rồi như An và Lãng bị choáng váng ám ảnh mãi bởi một vụ nghĩa quân hành quyết một người vô tội nhằm trấn an người Thượng sau vụ tranh chấp muối, hay như ông giáo Hiến nổi giận đánh con trai là Chinh khi thấy anh xách xâu tai người về như một dấu hiệu của thái độ say sưa bạo lực...

Lịch sử được tái hiện qua biết bao sự kiện hành vi thế sự, mỗi sự kiện nhỏ lại được nhà văn khai thác sâu những vang dội của nó vào thế giới nhân tính, trở thành những tín hiệu tâm linh, văn hóa. Sự kiện lịch sử chỉ như một thứ thẻ căn cước để Nguyễn Mộng Giác đi vào thế giới nhân tính thâm u, khuất khúc, thăm thẳm trong từng nhân vật mà thăm dò những ấn tượng tâm lý, những xáo động nhân bản, những nhức nhối nhân văn, những khắc khoải văn hoá vừa dữ dội vừa tinh tế. Và cái tinh thần văn hoá nhất quán trong những nhân vật này là tinh thần văn hoá Việt nam đầy nhân bản, đầy mặc cảm thân phận, nặng tình, trọng nghĩa, ân oán rạch ròi và ngôn thứ phân minh.

Cái nhìn xuyên suốt bộ trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ là cái nhìn văn hoá, là sự khám phá, lý giải kết nối chuỗi nhân cách văn hoá từ thường nhân đến vĩ nhân làm nên một dòng chảy văn hoá tâm linh nhất quán qua từng trang sách. Dòng chảy văn hóa đó là sự hoà quyện của logic lịch sử, lôgic đời sống và lôgic nghệ thuật trong dung môi văn hoá Việt Nam đầy tính nhân bản, lưỡng hợp hỗn dung. Đó chính là mã số của sức mạnh Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam.

Sông Côn mùa lũ được sáng tác ở Việt Nam từ năm 1977 đến 1981, xuất bản lần đầu ở Hoa Kỳ năm 1990. Có lẽ cách nhìn nghệ thuật vừa táo bạo, trí tuệ, vừa sâu sắc và nhân bản của tác giả Nguyễn Mộng Giác - một cách nhìn tôn vinh văn hoá Việt Nam, gợi ra những vấn đề day dứt, nhức nhối về quan hệ quần chúng và lãnh tụ, cá nhân và lịch sử đã khiến cho bộ trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ được độc giả trong nước đón nhận trân trọng và nồng nhiệt. Bài viết này không có tham vọng giới thiệu toàn diện bộ sách đồ sộ công phu này mà chỉ gợi ý một mã số, một lối vào tác phẩm để bạn đọc tham khảo và tự mình thẩm định.

  ĐỖ MINH TUẤN
Nguồn: VHNA


NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU