Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

NHÀ THƠ “HÓA GIẢI NỖI BUỒN BẰNG SỰ THẤU HIỂU LẼ ĐỜI VÀ QUY LUẬT”…

Nhà thơ Thu Nguyệt sinh năm 1963 tại Cao Lãnh, Đồng Tháp. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện chị công tác ở Báo Tuổi trẻ TP.HCM. Thu Nguyệt viết ở nhiều thể loại, riêng về thơ của chị tập trung nhiều trong các tập: Điều thật (1992), Ngộ (1997), Cõi lạ (2000), Hoa cỏ bên đường (2002),  Theo mùa (2006). 
Nhà thơ Thu Nguyệt

Điểm khác biệt giữa Thu Nguyệt với các nhà thơ nữ cùng thời đó là Thu Nguyệt chọn cho mình một lối đi riêng. Thơ chị dịu dàng, đằm thắm, không đưa ra những phát ngôn gây sốc hay thể hiện một cách mạnh mẽ táo bạo cái tôi cá nhân. Chị cũng không chạy theo trào lưu viết mới theo dấu ấn hiện đại, hậu hiện đại như nhiều người. Chị lặng lẽ viết trên lối thơ truyền thống. Với nhà thơ Thu Nguyệt, chị quan niệm: “Viết theo truyền thống hay hiện đại không quan trọng, cái quan trọng là chuyển tải được gì vào trong thơ và làm sao gây được sự cảm tình đối với độc giả mới là cái đáng quan tâm nhất”.

Thu Nguyệt nhìn cái gì cũng có sự dung hòa, biện chứng, cái gì với chị cũng đều theo quy luật. Chính vì vậy cho nên, dù thấy trong thơ chị có nhiều nỗi buồn nhưng đó là cái buồn man mác, cái buồn vừa phải, không quá bi lụy, sầu thảm hay tuyệt vọng. Nỗi buồn trong trẻo, lấp lánh những tia hi vọng. Chị biết tiết chế nỗi buồn và hóa giải nó… Đọc thơ chị, người đọc nhận thấy: Thu Nguyệt - Nhà thơ “hóa giải nỗi buồn bằng sự thấu hiểu lẽ đời và quy luật”. Chị bình tâm suy xét, nghĩ suy về những điều xảy ra trong đời sống với cái nhìn đầy trách nhiệm, bao dung, tỉnh táo, bản lĩnh và đầy tự tin.

Ta ngồi ngắm mãi bàn tay
Ngửa rồi lại úp, ngắn dài trắng đen…
Biếng lười đếm giọt nhớ quên…
Nhẹ không…
                      lòng cứ hồn nhiên với buồn

                         (Hồn nhiên)

Điều mà Thu Nguyệt quan tâm nhất đó là vấn đề thời gian. Có những điều làm cho nhà thơ trăn trở, day dứt khôn nguôi, tưởng khó có thể lý giải; phải ngược về quá khứ, hướng đến tương lai mới có thể an lòng:

Ta tìm hoài gió trong nhau
Gió tan lại miệt mài đau suốt đời
Ta quên có một bầu trời
Bên ngoài ngọn gió có rồi lại tan

                        (Gió tan)

Từ Đồng Tháp chuyển về Sài Gòn công tác, trong chị không bao giờ quên mảnh đất quê hương nơi đã chôn nhúm rau mình ở đấy. Nơi gắn bó với bao ký ức niềm thương, với ông bà, cha mẹ, người thân, gia đình, hàng xóm, ruộng đồng, bờ bãi, sông nước… Vùng đất Đồng Tháp Mười đã ăn sâu trong từng tế bào, từng huyết mạch của chị. Do vậy, Thu Nguyệt nhớ lắm, nhớ những gì dân dã, chân quê của xứ sở mình. Dù đang sống nơi phồn hoa, phố thị nhưng chị vẫn canh cánh.

Thị thành dù giáp dấu chân 
Nằm mơ vẫn nhớ lời dân miệt đồng 

                       (Bến lở ) 

Cái gốc quê không chỉ là máu thịt mà nó còn hun đúc bởi cái nôi văn hóa của vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Nỗi nhớ quê, nhớ cha lại trào dâng trong chị.

Đồng ruộng quê mình làm bằng dấu chân ba 
Từ đấy cần cù mọc lên ngọn lúa 
Con lớn lên trên cánh đồng ngậm sữa 
Đứng nơi nào cũng trên dấu chân ba 

                          (Dấu chân Ba) 

Để rồi nhà thơ tự giãi bày: Ta ra thành phố xa đồng/ Đốt nhang nhìn khói bay vòng mà thương/ Nhớ cồn cào nước kinh mương/ Vắng mình rải lá xem đường nước trôi/ Đã xa thì lỡ xa rồi/ Buồn! Đem thau nước ra soi bóng mình.

Chính quan điểm sống nó đã tạo nên cốt cách con người thơ và con người trong đời sống thường nhật của nhà thơ Thu Nguyệt. Con người thơ - và con người trong đời sống hòa làm một.

Điểm nổi bật và xuyên suốt trong thơ Thu Nguyệt đó chính là chị hướng đến và tìm đến cõi Thiền. Chùa, Thiền, Thiền sư, tiếng chuông, Chân Như, Bồ Đề, tu hành, tâm, ngộ, duyên, kiếp, bụi, nhang, đèn, phù du, vô thường… là những từ thường được chị sử dụng.

Kiếp phù du, giấc phù hoa
Lấy ai ru đá giùm ta sau này ?!
Thôi thì đá ngủ cho say
Để rồi thức giấc ngày mai một mình

                                 (Ru đá)

Lời thơ nhẹ nhàng, trôi chảy cùng với dòng cảm xúc vô tận tạo nên những ấn tượng, dư ba.

- Giá được làm cỏ dại lan man
Vơ vẩn sống, phất phơ đời bên tháp
Vui với nắng sương, mưa trùm gió đập
Lặng lẽ đâm chồi, ta tự trùng tu

                        (Tháp Chàm)

- Nẻo tu hành cứ chung chiêng
Bước trầy bước trật… ưu phiền lắc lư

                              (Thiền giả)

- Gió nương mái cũ đi nhờ
Hiên nhà dấu nước vẫn chờ giọt mưa

                                  (Vẫn y)

Nỗi buồn trong thơ chị bộc lộ nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau nhưng theo chị tất cả đều có nguyên nhân. Chị quan niệm: cuộc sống con người trên trần thế chỉ là cõi tạm. Chính vì cõi tạm cho nên phải sống đúng nghĩa là con người, sống trọn vẹn, tha thiết với tình yêu và cuộc đời, sẵn sàng đón lấy và chấp nhận những buồn - vui như một sự thật hiển nhiên.

- Bước qua không nỗi chữ ngờ
Vô thường áp sát, bến bờ quá xa!

                                   (An)

- Buồn vui như một cái vòng
Điểm đầu tiên, điểm cuối cùng gặp nhau

                                (Hồn nhiên)

- Bước đi là bỏ lại rồi 
Hành trang khéo giữ một thời cũng phai 
Thạch sùng nát lưỡi ru ai: 
Muốn về chốn cũ phải quay lại mình.

                   (Bước đi là bỏ lại rồi)

- Muốn được an (alt) cũng bó tay
Đời như kiếp chuột cứ xoay vòng vòng…

                           (Keyboard thơ)

- Ta băng qua sự buồn phiền 
Hiểu điều đã mất tự nhiên mãi còn ...  

                         (Sao đổi ngôi)                 
              
Giữa mơ và thực luôn là khoảng cách. Chị nhìn đời bằng con mắt thực tế nhưng cũng ngập tràn cảm xúc trữ tình, man mác.

- Con quỳ trước Phật từ bi/ Sao lòng vẫn nặng nỗi gì đa đoan/ Dám mơ đâu chút Niết Bàn/ Chỉ mong ngày động, tâm an một giờ (An).

- Lẽ đời nắng tắt mưa tuôn
Ta không có bóng vẫn còn có ta
Không cần trái, chẳng cần hoa
Xanh xanh vài chiếc lá là có cây
Lộc non chăm chút tháng ngày
Vậy rồi...
                ta thả lá bay theo mùa.
                      (Theo mùa)

- Cám ơn sự vật vô thường 
Để cho ta có khi buồn khi vui 
Vô thường tất cả, trừ... tôi 
Là chi cũng mãi khi vui khi buồn! 

                      (Vô thường)

- Rủ sạch mình, em bước qua đêm 
Vo viên giấc mơ ném vào ngọn sóng 
Nhón gót đi giữa biển đời sâu rộng 
Xe cát hai hàng giọt nước mắt sau chân.

                  (Huyền thoại dã tràng)

Những bài thơ như: Chùa xa, Ước, Ru đá, Miền không bay… đưa người đọc đến ranh giới giữa thực và ảo, giữa xao động và bình yên. Đó là lúc thi sĩ đã chạm đến cõi Thiền - thâm nhập vào tận cùng mọi ngõ ngách của tâm hồn, kiếm tìm bản thể để hiểu mình, hiểu đời và tự giải thoát cho mình sau bao thăng trầm, nếm trải, bao vận hạn, tai ương…

- Tháng ngày nhẹ hững đi qua
Những điều gần đó rồi xa… thật thường!

                          (Sẽ đến rồi qua)

- Nghe lòng rung một hồi chuông
Tiếng vang như có lại dường như không

                               (Chùa xa)

- Gió lùa theo hướng chữ DUYÊN
Ta bay chung để đến miền không bay”.

Thơ lục bát có lẽ là một sở trường của nhà thơ Thu Nguyệt. Lục bát là một trong những thể thơ đậm chất trữ tình. Nó bắt nguồn từ ca dao, dân ca và thơ lục bát mang cốt cách Việt Nam. Cuộc sống bình dị của người lao động đi vào ca dao thông qua thể thơ lục bát dễ đi vào lòng người đọc và có sức lan tỏa. Từ văn học truyền miệng đến văn học viết, thể thơ này không ngừng được phát triển và đến ngày nay nó vẫn được kế thừa một cách có sáng tạo, có cách tân trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật.
Khảo sát thơ của Thu Nguyệt, ta thấy thơ lục bát chiếm số lượng lớn và nó đã góp phần không nhỏ tạo nên sự thành công của thơ chị. Ở thể thơ này Thu Nguyệt có nhiều bài thơ hay, hàm súc và ý vị, gây được ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc (Lá giả, Theo mùa, Gió tan, Miền không bay, Hồn nhiên…).
Đọc bài Lá giả gợi cho người đọc bao câu hỏi, bao suy ngẫm về con người, cuộc đời. Hóa ra kiếp người cũng chẳng khác chi kiếp lá (lá giả) - là tạm bợ, là tự “cải trang”. Chỉ có cái thật là bụi - những hạt bụi đời đeo bám. Chính vì là giả, cho nên chiếc lá giả kia không thực hiện được điều mà lẽ ra theo quy luật tự nhiên nó phải đạt được. Kết quả là “Cả đời làm một cuộc rơi không thành”…

Tuy nhiên, Thu Nguyệt không phải chỉ có kế thừa ca dao, dân ca. Thơ lục bát Thu Nguyệt vẫn mang hơi thở của thời đại. Nhà thơ đã mang đến cho thơ lục bát một không khí mới, một sắc thái mới: với những cách tân, sáng tạo độc đáo; tạo nên những vần thơ tươi mới, rộn ràng mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Hạt nhân làm nòng cốt cho cái mới của Thu Nguyệt là ở cảm xúc, ở dấu ấn cá nhân.

Cùng với tình yêu, thơ Thu Nguyệt viết về những mối quan hệ khác nhau xung quanh tình yêu, gắn bó và tiếp nối với tình yêu.

Trót sinh con buổi trăng rằm
Cho nên chữ hiếu như trăng khuyết tròn
Lạy ba lạy má đừng buồn
Xưa nay mưa nước từ nguồn đổ xuôi…

(Lời ru)

Đến với thơ Thu Nguyệt, người đọc sẽ tìm thấy một sự đằm thắm, dịu dàng và rất nữ tính. Đó là một thế giới tâm hồn có vẻ như khép kín mà luôn mở rộng, luôn chuyển tiếp, trôi chảy, hướng về ngoại vật, hướng về mọi người. Niềm vui, nỗi buồn được chị nhìn nhận và hóa giải nó trong thơ một cách tự nhiên. Đấy cũng là sức hấp dẫn khiến bao trái tim người đọc cứ mãi say sưa trong vườn thơ của chị

NGUYỄN VĂN HOÀ
Nguồn: Văn Học Quê NhàVHQN



CHẤT VẤN THÓI QUEN CỦA PHAN HOÀNG - NHÌN TỪ CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI

Với quyết tâm “bỏ đi bỏ đi bỏ đi…” những trì trệ ứ đọng, Phan Hoàng đã hình như ý thức rõ hơn mình cần phải làm gì để “đổi dòng băng băng về phía trước”. Và cũng vì thế thơ anh, Chất vấn thói quen đã đến được với cuộc đời nghiệt ngã này bằng tình yêu, niềm hy vọng, giúp làm “thay đổi cảm hứng bầu trời” trong mỗi chúng ta…
Nhà thơ Phan Hoàng

Tôi vốn tự nhận thấy rằng mình không có khả năng thẩm định thơ ca và càng không có khả năng giao cảm với thơ ca đương đại. Những diễn ngôn cầu kỳ quá chú trọng vào ý tưởng mới lạ, câu từ xủng xoảng cố tình làm cho khó hiểu với khao khát khẳng định cá tính của mình bằng đủ mọi cách (dù đôi khi có dị mọ đi chăng nữa) ở một số nhà thơ đương đại làm cho sự mềm mại, hồn nhiên của thơ không còn nữa và càng làm cho tôi càng mất hứng thú với thơ.

Chính vì vậy, trong lần gặp gỡ tại buổi giao lưu giữa Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và sinh viên trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng tôi không mặn mà lắm khi người ta nhắc đến Phan Hoàng và những sáng tác của anh, kể cả khi diễn đàn sôi nổi thảo luận về sự thành công của tập thơ Chất vấn thói quen (tác phẩm đạt giải thưởng Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam) và trường ca Bước gió truyền kỳ.

Thật ra trước đó tôi đã nghe nhắc nhiều đến Phan Hoàng với những bài phỏng vấn nhân vật khá thành công nhưng lại chưa được đọc, về thơ anh tôi lại có ý nghĩ rằng cũng chỉ là motip muốn làm đa dạng hơn cho phong cách của mình thôi vì bài thơ đầu tiên (không biết in ở đâu đó mà tôi từng đọc của anh) là Một ngày và trăm năm với tôi khá nhạt nhẽo… Nhưng tình cờ vì một đồng nghiệp ở khoa nhờ tôi làm quen Phan Hoàng xin giúp bạn ấy tập Chất vấn thói quen và... để rồi khi cầm tập thơ được tặng tò mò đọc lướt xem nó thành công đến mức nào mà diễn đàn sôi nổi thảo luận đến vậy tôi đã như bị thôi miên. Vẫn nhớ bài thơ đầu tiên giở ra tôi bắt gặp là Văn bản dở dang. Mạch thơ tuôn trào cảm xúc và những hình ảnh sống động nhưng trầm lắng, day dứt trong thơ làm tôi có cảm giác bắt gặp cái thổn thức, trăn trở mình từng có:

Vượt lên đau đớn và thăng hoa
tôi tự tại giấc mơ tôi
mưa ban mai lặng lẽ gióng chuông gọi hồn trần thế
những con chữ như chiến binh chuyển dịch văn bản thơ mãi mãi dở dang
văn bản vô ngôn
văn bản tinh huyết
văn bản ma lực
tâm chấn tín hiệu khoái cảm

Phải vật vã với hiện thực cuộc sống, phải vật vã với chữ nghĩa và chắc chắn phải có thái độ sáng tạo nghiêm túc kết hợp với một tư duy sắc sảo Phan Hoàng mới viết được những dòng thơ ma lực đến vậy. Cảm giác anh muốn thay đổi, cảm giác anh muốn được cống hiến và cảm giác anh dằn vặt đến thế nào khi chưa thể tìm ra cái mới lạ đã thể hiện dồn nén ở những câu thơ đầy day dứt, thổn thức này. Cách xếp nhịp thơ dồn dập tựa tâm trạng gấp gáp, khắc khoải như kiểu cố “chạy” hết tốc lực để đuổi theo cảm xúc, để chớp lấy cái ý tưởng vụt qua nếu không nó sẽ tan biến mất. Bài thơ này truyền cho tôi xúc cảm mãnh liệt… như “mưa ban mai… gọi hồn trần thế”. Và…. đêm đó tôi đã nằm đọc ngấu nghiến hết cả tập Chất vấn thói quen.

Quả thật cuộc sống xung quanh chúng ta, đặc biệt là cuộc sống hiện đại này mọi thứ đang dần bị lập trình hóa. Học hành, công việc, quan hệ giao tiếp, lối sống, nếp nghĩ, thậm chí cả yêu đương… cũng bị lập trình. Sống trong sự trì đọng ấy tâm hồn con người sẽ bị đóng băng, khô cứng, già cỗi và vô cảm. Công việc sáng tạo nghệ thuật cũng vậy. Nếu không “khơi những nguồn chưa ai khơi” người nghệ sĩ sẽ bị bức tử. Phan Hoàng đã chuyển tải giúp rất nhiều người trong chúng ta cái cảm giác mệt mỏi, ức chế, trì đọng trọng tâm thức mỗi người vì mãi quẩn quanh không thể thoát ra bởi những lối mòn quen thuộc ấy. Thay đổi ở Phan Hoàng đồng nghĩa với làm mới mình, sáng tạo xóa bỏ lối mòn để hướng đến một cái đích đầy chiều sâu nhân bản. Nhưng trong thơ, anh không nhất định phải làm mới mình bằng tài xiếc chữ vô hồn, nhốn nháo bề ngoài hình thức mà khắc khoải mong muốn thay đổi để đi sâu hơn vào những chiều kích khác nhau của đời sống, vào tận cùng những chia sẻ từng số phận vạn vật, vì vậy diễn ngôn thơ đầy chất tượng hình: cơn hồng thủy, tín hiệu đỉnh khoái, văn bản mộng mị ngủ muộn, văn bản ấu trĩ già cỗi, văn bản hư danh, khủng bố dòng chảy ngôn từ, ám sát khát khao chồi xanh, đe dọa rừng nguyên sinh, văn bản nhựa sống…

Làm sao bùng lên nhiều cơn hồng thuỷ
dâng sóng tín hiệu đỉnh khoái
cuốn phăng những kho văn bản mộng mị ngủ muộn
những kho văn bản ấu trĩ già cỗi
những kho văn bản hư danh giả dối
khủng bố dòng chảy tự do ngôn từ
ám sát khát khao chồi xanh ý tưởng
đe doạ cánh rừng nguyên sinh rực hương thiếu nữ căng tràn văn bản nhựa sống tương lai

                                                                (Văn bản dở dang)

Và ngay cả khi mang những ngôn ngữ giàu chất tượng hình này vào thơ chúng vẫn cho ta nhận biết đó là những thi liệu chân chất, cổ điển, không cầu kỳ, màu mè mà rất đỗi thân quen gần gũi. Phải chăng, cái đặc biệt ở Phan Hoàng là khả năng tái hiện cái cũ thành cái mới, cái quen thành cái lạ từ cách sắp đặt câu chữ của mình. Diễn đạt những cái khá trừu tượng bằng những cái rất cụ thể... Do đó nó giúp cho ngôn ngữ thơ mới, hấp dẫn nhưng không xa lạ với người tiếp nhận.
Tập thơ Chất vấn thói quen của Phan Hoàng

Trong thơ Phan Hoàng còn có cả nỗi khắc khoải, trăn trở của một người con thôn quê giữa thị thành, giữa ồn ào xô bồ cuộc sống thay đổi chóng mặt hàng ngày, giữa truyền thống và hiện đại… (Tôi đang ở đâu?). Phải làm gì để không đánh mất mình, để níu giữ những giá trị tốt đẹp, nhưng cũng sẽ phải làm gì để không lặp lại chính mình, để làm mới mình!? Hình như Phan Hoàng liên tục day dứt về điều này! Phải tìm cái mới vì đó là bản chất của sự sáng tạo! Phan Hoàng đã dốc hết tâm lực, khao khát thực hiện nó, khước từ cái cũ, “chất vất thói quen” và đôi khi cũng đã rất đơn độc trên hành trình nhọc nhằn này, “ngồi uống bóng” mình (Uống bóng) và “nghe lòng trống rỗng hoang mang” (Chữ nghĩa thị trường)… Những lúc như thế có lẽ anh đang tự vấn, đang đối thoại với lòng mình, đang thổn thức với nỗi đau nhân sinh, đang lắng nghe “tiếng thì thầm” của vạn vật để hóa thân mình vào những “câu thơ neo bờ nước mắt” (Tiếng thì thầm). Dự cảm của người nghệ sĩ trước những bất trắc cuộc đời mà nhân sinh đang phải đối mặt làm cho thơ Phan Hoàng đôi khi có những thảng thốt với xúc cảm mãnh liệt cần phải thoát ra khỏi bóng đêm đang bủa vây thân phận, hướng đến một bầu trời bình yên đầy ánh sáng. Phải chăng đó cũng là dự cảm và khao khát muốn từ bỏ kiểu tư duy cũ kỹ như cái bóng đêm nghiệt ngã kia để tìm đến miền sáng tạo với bao điều mới lạ.

                Tôi như nhà vô địch điền kinh
                …. Chạy giữa gầm gừ dã thú đói khát hỏa hoạn
                Chạy giữa ầm ào sóng thần vây bủa vũ khí hạt nhân
                Chạy giữa là đà văn bản mới viết đã cũ
                Chạy giữa nhập nhoạng mặt người mới mở mắt đã gian manh
                Chạy tôi chạy
                Càng chạy càng không chạy
                Càng chạy càng thất thần tiếng muôn triệu sinh linh thảng thốt:
                - Nhanh lên đi!
                Bóng tối đang nuốt chúng ta

                                                (Bóng tối đang nuốt chúng ta)

Đồng cảm với những nỗi đau có thật trong cuộc sống, uất ức với thói quen làm xói mòn dần giá trị tốt đẹp của cuộc sống, chán ngán với sự thờ ơ, giả dối của con người trong cuộc sống hiện đại, Phan Hoàng đã có lúc cảm thấy cổ họng “bỗng dưng có bàn tay vô hình siết chặt” vì những gì đang diễn ra như “một đoạn phim buồn:

Đoạn phim buồn hơn cơn địa chấn
xô nghiêng những bảng vàng
                                thành tích giáo dục hư danh
đóng băng những cái lưỡi robot giáo điều đạo đức giả
còn bao nhiêu gương mặt lẩn khuất tối tăm khuyết tật tâm hồn?

                                                                (Về một đoạn phim buồn)

Như chạm được vào tận cùng những đau khổ nhất mà con người đang phải đối mặt, thơ Phan Hoàng đã khẳng định sự mẫn cảm, lòng yêu thương trắc ẩn cùng trách nhiệm, day dứt thổn thức không yên của một tâm hồn nghệ sĩ chân chính. Day dứt ấy khiến anh không khi nào bình yên, luôn hoài nghi, hoài nghi về cả tư cách nghệ sĩ của chính mình.

Tôi đang ở đâu cây bút mang đầy danh hiệu sứ mệnh?
Tôi đang ở đâu?
Ở đâu?

                (Tôi đang ở đâu)

Và Phan Hoàng đã chọn cách mang tín hiệu tin yêu đến với cuộc sống này. Thổi bùng lên ngọn lửa đam mê, thổi bùng lên những thổn thức mới mẻ, thổi bùng lên ánh sáng ước mơ, và thổi bùng lên khát khao sáng tạo.

Khơi ngọn lửa niềm tin
xua mùa đông giá rét
bừng  ngôi sao ước mơ
tỏa hy vọng những chân trời

                (Nụ tầm xuân 231)

Cũng trong trong tận cùng khát khao sáng tạo ấy Phan Hoàng cũng đã tìm về với bản ngã của chính mình, tìm về với thiên nhiên, tìm về với tuổi thơ, tìm về với bình yên bóng Mẹ. Có lẽ tôi cũng đã từng có những năm tháng gắn bó với đồng quê, với những buổi ngồi thả hồn trên đồng chiều “ngập tràn tiếng gió”, với tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm, thấm hiểu phần nào với những cay đắng nhọc nhằn mà các thế hệ ông bà đã trải qua… nên tôi cảm giác chạm như được vào kí ức của mình qua những câu thơ Phan Hoàng viết (trong Ly hương gió).

Chiều ăn phố sực mùi khoai lang nướng
Gió hú nhớ đồng thơm dậy giấc cố hương

Tìm về lại với tự nhiên trong hành trình sáng tạo là qui luật tất yếu mà Phan Hoàng đã chọn và anh hoàn toàn có lí - để thoát khỏi những “thói quen” cũ kỹ, mệt mỏi, cùng là cách neo giữ chính mình. Tự nhiên luôn là cái vốn có của cuộc sống. Con người hiện đại đã rất tự tin vì làm chủ được cuộc sống này với những phát kiến khoa học mang tầm vóc lớn lao, song họ không nhận ra rằng họ cũng là nạn nhân của những phát kiến của mình. Và rồi khi hàng ngày phải đối mặt với công việc, với công nghệ, với đủ thứ mệt mỏi phải giải quyết con người thèm khát được trở lại với chính mình, với bản thể. Những thèm khát này ở Phan Hoàng thật khắc khoải và quan trọng là diễn tả được tâm trạng mà hình như con người hiện đại đang phải đối mặt:

Gục đầu lên máy vi tính
tôi thèm đứt ruột
được làm ngọn gió không đồng phục
không điện thoại
không internet
bay về mái tranh vách đất
bay về phía vô danh
bay về phía vô thanh
bay về phía vô tắc
hóa con sáo sậu bước thấp bước cao
bập bẹ nói cười… cậc cậc cậc
hóa con mèo mun tủng tẳng tùng tăng
tung tẩy khắp vườn
hóa con cóc hiền triết bó gối ỉm ìm im
lắng nghe
trên những gò hoang hoàng hôn
hoa dại khẽ hương

    (Thèm ngọn gió tự do)

Nhiều điệp từ xuất hiện ở đây như góp phần diễn tả cái khát khao mãnh liệt của con người được trở về tự nhiên, rũ bỏ hết, thoát khỏi hết những trói buộc mệt mỏi để đi tìm “ngọn gió tự do”, để rồi ngọn gió ấy giúp “bay về nguyên thủy ước mơ không mầm mống hận thù tận thế”.

Bản thể là cái quyết định, chi phối con người! Khi đối diện với bản thể và vượt qua được bản thể sẽ là lúc nghệ thuật thăng hoa, sẽ giúp người nghệ sĩ “cởi bỏ mọi trang phục pha lê nứt vỡ/ cởi bỏ mọi tư duy hình thức đa khô đình nát bến cạn/ hòa nhập vào cơ thể đang tốc hành về phía ánh sáng” (Em nóng dần lên)… Với quyết tâm “bỏ đi bỏ đi bỏ đi…” những trì trệ ứ đọng, Phan Hoàng đã hình như ý thức rõ hơn mình cần phải làm gì để “đổi dòng băng băng về phía trước”. Và cũng vì thế thơ anh, Chất vấn thói quen đã đến được với cuộc đời nghiệt ngã này bằng tình yêu, niềm hy vọng, giúp làm “thay đổi cảm hứng bầu trời” trong mỗi chúng ta.

… Sau này, khi tiếp xúc với anh, tôi nhận ra trong đời thường anh dễ tính, hiền lành, nho nhã, tốt bụng và đôi khi có chút bông lơn, song trong lao động nghệ thuật anh lại khá nghiêm túc, kỹ lưỡng và tâm huyết. Với tinh thần và thái độ làm việc như vậy, thời gian tới chắc chắn Phan Hoàng sẽ còn có thêm nhiều sáng tạo mới, thành công hơn để làm “thay đổi tư duy từng ngọn núi con sông”.

Đà Nẵng, ngày 10.10.2016
HOÀNG HƯỜNG
Nguồn: ĐH DUY TÂN-ĐÀ NẴNG




NHÀ THƠ TRẦN HÙNG: THƠ BƯỚC RA TỪ NƠI CHIỀU SÂU ĐỘC THOẠI

Năm 1991, tôi được đọc “Gọi bạn” - tập thơ đầu tay của Trần Hùng gửi tặng. Tới năm 2015, nhân Đại hội đại biểu lần thứ IX, Hội Nhà văn Việt Nam diễn ra tại Hà Nội, Trần Hùng lại tặng tôi hai tập “Vườn khuya” và “Thảm thắc.”
Nhà thơ Trần Hùng

Hai nhăm năm, một phần tư thế kỷ, Trần Hùng đã cho in bốn tập thơ. Đã làm nên bước chuyển tiếp. Đã khơi sâu và đắp dầy một chân dung thi sĩ trong hiện diện, trong “cái Có” thật lung linh, thật nặng sâu và lắng thấm nơi trang thơ anh viết.

Dễ thấy, một vệt đậm suốt dặm dài mải mê khai phá cái vỉa tầng khá phồn thi và lấp lánh cái thế giới mà thi sĩ này đã bám chặt, đã gần như đặt cược vào công cuộc cấy gieo trước mùa màng bội thu hay thất bát thơ mình.

Quả vậy. Trần Hùng đã bước vào cái ngưỡng “ngũ thập tri thiên mệnh.” Từng mặc áo lính. Từng gánh vác trên đôi vai những trọng trách của “viên quan” đầu ngành của một vùng đất, rồi của cả một tỉnh.

Với vị thế ấy. Với diện kiến của người trong cuộc trước không ít nặng nề, phức tạp. Người thơ này từng đi giữa ba dòng Thiên - Địa - Nhân của tháng năm với những đối thoại sôi động của thế sự, những va đập, biến thiên của thế giới bề bộn quanh mình. Những tưởng, thơ Trần Hùng sẽ ắp đầy những vỉa hè, xương xảu. Sẽ nóng bỏng, bộn bề những đại mộng, đại giác. Sẽ quặn thắt, dư vang của những lần mở mắt trước giông bão đời thường.

Song, Trần Hùng với cái kênh riêng mở. Cái kênh có từ sự quan tâm, từ ý thức, quan niệm của thi sĩ. Đó là, cái nhất quán từ “Gọi bạn,” “Mơ quê” đến “Vườn khuya, Thảm thắc”… Đó là, sự chọn lựa cho lối rẽ, cho dòng khơi nơi nguồn mạch kiếm tìm. Đó, phải chăng là cái tạng. Là sở trường? Mà Trần Hùng đã dày công làm nên cái riêng Tôi thế chăng?

Phải nói, xuyên suốt các tập thơ, Trần Hùng từng ngụp lặn trước hiện thực, ngụp lặn trước cái “vô biên độ,” trước bao nhiêu “ái ố hỷ nộ,” để rồi, sau phút giây đó, thi sĩ này lại đẩy mình ra thật xa, tách mình ra thật xa, ngỡ chỉ còn lại riêng mình với hồn mình độc thoại. Bởi vậy, đọc Trần Hùng, ngỡ chỉ còn năng lượng của thế giới hồn mình mà đẻ ra cảnh sự. Đẻ ra liên tưởng. Đẻ ra tâm tình, suy ngẫm… Để rồi, từ gốc rễ ấy lại tiếp tục phát lộ một thế giới khác của những gì được văng xa, được sáng lên sau đấy.

Và, thơ Trần Hùng bơi trong tầng trong xanh, đọng lắng. Bơi trong mạch chìm. Bão trong thơ Trần Hùng là dấu tích sau bão. Hiện thực ở đây không còn gặp ở “cái Thấy,” cái nắm cầm trên tay. Mà, mọi cái bên ngoài nếu có, đều có từ cái nhu cầu của cái sâu xa, cái bên trong tỉnh thức.
Thử đọc :

Phút chốc muốn băng vườn khuya tìm đến
nơi gương mặt người thấm đẫm ánh trăng
nơi gương mặt lá thấm đẫm bóng tối
nơi gương mặt đá lạnh như môi
tôi tìm em trăng mang em đi rồi
                      (Hạ huyền)

Hoặc:

Rồi một ngày
một ngày
một ngày
bước chân hôm qua nắng đã phủ đầy
dấu xuân hôm nào sương đã bay
lá vàng muôn nẻo đã đầy tay
              (Nắng bên sông)

Rõ ràng, những “gương mặt người, mặt lá…” Rồi, “bước chân nắng phủ, lá vàng …” Tất cả hình ảnh kia ngỡ có từ trực giác, đều ảo đi, đều hiện lên từ cõi sâu tâm tưởng nhà thơ mà có cái hữu hình.

Là thế. Trần Hùng, một thi sĩ của những gì thật diết da, thật trong xanh, quặn thắt. Tôi từng chầm chậm đọc và nhiều lần dừng lại để ngắm nhìn người thơ này trong vời xa, trong lặng thầm, ám ảnh. Bởi, luôn gạt đi cái ôm chứa của những gì thuộc thế giới bề mặt, Trần Hùng với con tim luôn đốt mình, luôn mở với đa chiều, đa tầng, đa thanh trước những mối quan tâm, trước tình yêu, tình người, tình đời, trước nhân tình thế thái.

Không to tát, gầm ghì, gai góc, Trần Hùng, nhà thơ của tâm tình, của vía hồn đam mê, thương cảm. Để rồi, chỉ một chút mơ hồ, ngỡ khó cất lên lời. Vậy mà, hồn thơ mong manh kia dễ run rẩy, dễ thấm loang, dễ làm nên xao xuyến là thế:

… Đường tôi về
rừng ngun ngút trăng
đèo ngun ngút trăng
ngày mai Cao bằng mưa
trăng cầm ô màu gì
mặc áo màu gì
màu gì cũng mỏng…
       (Không màu)

Cứ thầm thì như thế trong cảm xúc ngập tràn, Trần Hùng luôn chọn lối hẹp, luôn bám cái lãng đãng, mơ hồ mà tự sự, tái tạo.

Thì, cứ nhìn những lát cắt: Sương hương bay, Ru cát bụi, Cơ may, Cơn mơ, Thảm thắc, Ngoài tôi, đến Ngày về, Cúc xanh, Chứng sinh, Tan tác, bẫy bạn, Lối trăng, Nhớ hoa v.v… Gần như, đấy là nét trội, nét bao trùm mà người viết luôn tựa vào và tạo được hiệu quả, hiệu ứng ở nghệ thuật đi từ cái Hẹp, những mong sẽ mở ra cái Rộng hơn của vệt loang trong suy tư, kiến giải.
Ví như :

Tìm đến em - khu rừng không có nấm
chỉ tràn đầy hương nấm
nơi ấy mắt lá đăm đăm lên trời
nơi thiên đường vầng trán thanh khiết
chạm gân xanh những sợi tóc loạn nhịp
tôi bay…
    (Ong đêm không cánh)

Đấy là phút si mê, lãng mạn, trước bóng dáng người thương. Hay, đây là khi “Gọi bạn”:

Bạn ơi
khi viết bài thơ này
suối âm thầm chảy
lá âm thầm trôi
có một con người
âm thầm nhớ…
Rồi, với Mẹ:
Xa một ngàn cây số
con đang nói cùng mẹ đây
con quỳ xuống tắt đèn
con nhắm mắt cho tối thêm lần nữa
mẹ ơi quay lại với con…
…
ngoài hiên
những bông lửa trên trời đỏ rực
mẹ chợt nhận ra
mình còn nhiều đứa con
chúng ra đi đã lâu mà không về
sao lại như thế nhỉ ?...

Hay, khi xa con, “Nhớ con” trong lễ Tết Trung thu:

… Áp thấp về đêm Hà Nội
cha như ông trăng sau màn trời
con đang làm gì con ơi
… ngoài kia
những ngôi sao đang bò ra từ các góc tối
rủ con cùng chạy chơi
nếu thiếu nến thì con bắt đom đóm bỏ vào
không có đom đóm thì cầm sao ra ngoài ngõ
rồi đèn sẽ sáng lên
và con sẽ tin
cha trở về cho con đêm trung thu khác…

Có lẽ, ở giọng điệu này, nhà thơ cần kiệm lời, cô đúc hơn ở lối tự sự. Ở cái cần gợi trong lối kể. Song, không lấy vần điệu làm sức vang. Mà, lấy cái tung hoành, phóng khoáng ở quá trình vận động của ngôn thi, hình thi, để kiến tạo những câu hay, những câu thơ lấp lánh từ Tâm thi phát sáng. Và, ở đấy, Trần Hùng lần nữa thành công, có khi là cái tinh tế trong cảm nhận, ngắm nhìn trước ngày xuân đang đến:

…Sườn đê ven làng vó sen đẫm nước
mơ mòng những giọt sương cánh gai
dừng lại đi, tỉnh dậy đi, tan ra đi
chim nâu bay rồi
cánh đồng ban mai đã vỡ
mùa xuân…

Đấy là, đứng trước “Ban mai.” Còn, trước “Thời gian”? Đây là câu thơ hay trong chiều sâu ngẫm ngợi :

… những con ve ngày ấy đã già
chúng biến thành nếp nhăn trên cây cổ thụ
chiều nay bên gốc cây nhìn lên
ta lặng người
trước bình thản cây thăm thẳm lên trời

Hoặc:

… trái tim - người là ai
mà như chiếc gầu sòng
thì thụp tát về cánh đồng thân thể
nuôi lên tơi bời ý nghĩ

Hoặc, duy nhất, bài lục bát trong thơ Trần Hùng, câu thơ hay ở phát kiến, lý giải, ở cú tự có thần:

giật mình tuổi cũng đã xa
mà chưa thật rõ là Ta hay Mình

Đi từ thế giới hồn mình, trong mối quan hệ nhiều chiều, nhà thơ sao chối bỏ cái “nhỡn tiền” luôn dồn xoay chóng mặt? Nhưng, thơ Trần Hùng bùng phát và sinh nở sau những gì là ngoại giới đã lặn chìm. Thơ của tiếng lòng đắm say, khao khát. Thơ của những khoảng trống luôn dày vò, ám ảnh từ mộng mị, yêu thương. Thơ của những thi liệu, cảnh huống, tâm trạng, những liên kết rất xa nhưng lại cấu thành điểm hội tụ khi cảm rung đồng hiện:

… rồi sẽ ra sao khi cát bụi cuộc đời này
thêm vào lòng tay tôi, thêm vào lòng tay bạn
thuộc về thân thể tôi, thuộc về thân thể bạn
non tơ rồi sẽ ra sao, cằn trơ rồi sẽ ra sao
lẩn trong cỏ đêm thấy bài thơ cũ
tìm trong bài thơ cũ
thấy chiếc trâm cỏ thi người xưa đánh rơi
và tôi chẳng thể cầm lòng - tôi lặng lẽ
như vì sao xa nhất

Đấy là trạng thái khi tỉnh thức lúc “Ba giờ sáng.” Và, đây là cái cảm, cái linh khi tiếng lòng chợt vọng lên, chợt ngộ ra “Thế rồi một ngày”:

Rồi một ngày ta nằm dưới đất nâu
không toan tính đời thường
…
tiếng chuông nào đã điểm
bao hư danh mãi còn phía trước
vĩ đại bao nhiêu tiết mục cuộc đời
mà bây giờ cũng biến đi đâu rồi
những diễn viên cát bụi của ta ơi…

Thi sĩ Trần Hùng quê Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Tây, nhiều năm sống, làm việc, gắn bó với “Non nước Cao Bằng.” Trong cái duyên của người cầm bút, tôi nhiều lần gặp Trần Hùng ở đất Cao Bằng, ở những cuộc giao lưu, tiếp xúc, ở niềm yêu đầy đặn góc lòng. Trần Hùng đẹp trai, thư sinh, lịch lãm. Với Trần Hùng, sự ăn khớp giữa thơ và người thơ là vẻ êm xanh, đằm thắm, mát lành.

Thơ Trần Hùng là mạch nguồn phù sa chảy tươi nồng, lắng xoáy. Từ tự thức, ý thức, Trần Hùng đã làm nên thơ mình trong nét riêng “Nó là Nó” trong hai chiều nhập hòa “Thế giới ấy và Tôi!”

Vâng. Tôi là tôi! Còn ai đó, có phải là cái “Gu”? Cái hòa đồng? Cái ai thích… Lại là một chuyện khác.

Tôi yêu Trần Hùng, yêu thi sĩ này, lẽ giản đơn là vậy.

Hải Phòng, Tháng 9.2015
KIM CHUÔNG

________________________

Nhà thơ Trần Hùng

Sinh năm 1957 tại Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Tây.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
Nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng
Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ Hội Nhà văn VN khoá IX
Giải thưởng Hội Nhà văn VN năm 2015

Các tập thơ đã in:

- Gọi bạn (1991)
- Mơ quê (1998)
- Vườn khuya (2015)
- Thảm thắc (2015)

Nguồn: NVTPHCM

NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH THI - KẺ SĨ TÀI HOA

"Nguyễn Đình Thi (1924-2003) là một chân dung nghệ sĩ lớn, đa tài, đứng ở một vị trí đặc biệt trong nền văn nghệ cách mạng. Trước Cách mạng Tháng Tám (1940), ông tham gia Tổ Văn hóa Cứu quốc, từng là sĩ quan trong quân đội"
Nhà văn Nguyễn Đình Thi

 Năm 1945, Nguyễn Đình Thi dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào, làm Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 1 và Tổng thư ký Hội Văn hóa Cứu quốc, người đứng đầu Hội Nhà văn hơn 30 năm rồi Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Tác phẩm của Nguyễn Đình Thi gồm nhiều thể loại : + Truyện : Xung kích (tiểu thuyết, 1951), giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam (1951-1952); Bên bờ sông Lô (tập truyện ngắn, 1957); Vào lửa (1966); Mặt trận trên cao (1967); + Vỡ bờ (tập I-1962, tập II-1967; +Thơ: Người chiến sĩ (1958), Bài thơ Hắc Hải (1958); Dòng sông trong xanh(1974); Tia nắng (1985); Đất nước (1948-1955), được phổ nhạc; + Tiểu luận : Mấy vấn đề văn học (1956), Công việc của người viết tiểu thuyết (1964); + Kịch: + Con nai đen , Hoa và Ngần, Giấc mơ, Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Tiếng sóng; Nhạc : Người Hà Nội (1947), Diệt phát xít, Con voi. Và nhiều bài viết về triết học trong lúc còn là sinh viên. Lĩnh vực nào, ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng. Nguyễn Đình Thi được Đảng và Nhà nước trao tặng: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996 về Văn học Nghệ thuật.

 Trong không khí rộn ràng của năm đầu thống nhất đất nước, hội Văn nghệ Giải phóng Thành phố Cần Thơ  (Chủ tịch: Hoài Nam Tử ; Tổng thơ ký: Nguyễn Thanh) có nhiều dịp được tiếp đón các đoàn văn nghệ sĩ cách mạng ở vùng kháng chiến hoặc từ Hà Nội vào. Một lần, vào mùa xuân năm 1976, tại Chùa Khánh Quang - nay là đường Nam Kỳ Khởi nghĩa – trụ trì bởi nhà sư yêu nước thượng tọa Thích Huệ Thành, anh em làm văn nghệ Tây Đô có cơ hội gặp tận mặt một đoàn văn nghệ sĩ thủ đô : nhà văn Nguyễn Đình Thi (1924-2003), nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn (sinh năm 1943), các nhà văn Mai Vui (sinh năm 1926), Bùi Kinh Lăng… Trong buổi nói chuyện với giới văn nghệ địa phương hôm đó, người trưởng đoàn, đã quay lại khúc phim “Hà Nội 12 ngày đêm trận Điện Biên Phủ trên không”. Diễn giả, vóc dáng người cao lớn, với cử chỉ linh động, giọng nói sang sảng, đôi mắt sáng rực, diễn đạt như một nhà hùng biện, khiến cho mọi người im lặng, lắng nghe như đang bị thôi miên bởi từng lời nói và động tác của một kịch sĩ tài danh trên sân khấu. Người nói chuyện đã gây cho anh em nhiều ấn tượng khó quên đó là nhà văn Nguyễn Đình Thi, tác giả bài thơ nổi tiếng “Đất nước” có trong chương trình văn học Lớp 12 từ ngày giải phóng.

Nguyễn Đình Thi sinh ra tại Luang Prabang (Lào), ông ngoại gốc người Hà Tĩnh nhưng bà ngoại gốc Hoa. Quê nội ở Phú Xuyên (Hà Đông), ông cố có gốc xa với người Ấn Độ, chuyên đi tính toán sổ sách giúp các nhà buôn vải. Nhà thơ thường nói với con cháu rằng dòng họ của mình là người dân dã, không có chữ nghĩa. Đến đời cha là viên chức sở Bưu điện Đông Dương có sang làm việc tại Lào. Năm lên sáu tuổi, Nguyễn Đình Thi theo cha mẹ về nước, đi học ở Hà Nội, Hải Phòng rồi cùng gia đình vào Chợ Lón. Từ thuở niên thiếu, Nguyễn Đình Thi đã nổi tiếng thông minh, hát hay, thông thạo tiếng Pháp nhờ cha kèm dạy từ nhỏ. Mới 17 tuổi, Nguyễn Đình Thi đã là một thanh niên vóc người tầm thước, đẹp trai khiến nhiều người đẹp Hà thành thời Tây mê chết mệt. Cha mẹ ngại cậu quý tử sa đà vào chuyện yêu đương nên quyết định cưới sớm cô vợ tên Bùi Nữ Trâm Nguyệt Nga, cháu gái quan tuần phủ lúc bấy giờ, cho con trai lúc chưa tới tuổi 20. Dù đã có vợ, Nguyễn Đình Thi vẫn mang sách đi học bình thường.

Sau khi đỗ Tú tài toàn phần, ông vào học Luật ở Đại học Đông Dương nhưng không bao lâu sau đó lại bị đuổi học vì tham gia phong trào sinh viên bãi khóa. Cha mẹ lại phải tốn tiền chạy vạy cho con được đi học lại. Ông học rất giỏi tất cả các môn, nổi trội hơn hết là môn Triết. Chưa được 20 tuổi, khi còn đang đi học, Nguyễn Đình Thi đã viết nhiều sách về Triết học : Triết học nhập môn (1942), Triết học Kant (1942), Triết học Nietzsche (1942), Triết học Einstein (1942), Siêu hình học (1942) và cùng một số bạn học bí mật nghiên cứu chủ nghĩa Mac. Với kiến thức và tài hoa hiếm thấy ở một trí thức trẻ tuổi mang phong cách nghệ sĩ như thế, nhưng cuộc đời tình cảm của nhà thơ cũng không được phẳng lặng yên bình. Trong thời gian toàn quốc kháng chiến, vợ nhà thơ mất sớm vì bệnh lao khi gia đình tản cư. Nguyễn Đình Thi cũng không may lại bị bệnh lao, được cho đi chữa bệnh ở Trung Quốc. Nơi đây, nhà thơ - lúc bấy giờ đã có 3 người con với người vợ đầu tiên - gặp người vợ thứ hai là bác sĩ Phạm Thị Trường, có lúc làm Viện trưởng bệnh viên Việt - Xô. Nhưng cuộc hôn nhân mới sau này cũng không hưởng được hạnh phúc trọn vẹn trong khi Nguyễn Đình Thi lại có thêm một mối tình không phải là sau cùng - dù ông rất đắm đuối - với nữ diễn viên sân khấu Tuệ Minh (sinh  năm 1938). Lúc cuối đời, Nguyễn Đình Thi thú nhận rằng mối tình lớn nhất trong đời ông là mối tình với nữ phóng viên có nét đẹp thanh tú của báo Nhân đạo (l’Humanité) : một chiến sĩ - nữ nhà thơ cộng sản Pháp : Madeleine Riffaud (sinh năm 1924), từng được trao giải thưởng văn chương Pháp với tập thơ “Con ngựa đỏ”, từng được phong tặng danh hiệu anh hùng và được thưởng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, phần thưởng cao quý nhất của nước Pháp.

Vào năm 1951 tại Berlin, trong Đại hội Liên hoan Thanh niên Thế giới, đôi trai tài gái sắc đã gặp gỡ, cảm nhau, và say mê nhau như cùng bị “sét đánh” và họ bắt đầu yêu nhau say đắm. Nữ nhà thơ Pháp Madeleine Riffaud đã từng sang Việt Nam và đi vào chiến trường sống cùng bộ đội để viết về đời sống của quân giải phóng trong căn cứ rừng rậm ở miền Nam. Bà được gọi với cái tên Việt Nam trìu mến là “Chị Tám” và là em kết nghĩa của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1915-1998). Trong thời gian Madeleine Riffaud về Pháp và Nguyễn Đình Thi ở Việt Nam, những cánh thư mặn nồng tình cảm vẫn liên tục đi về để kết nối họ với nhau. Qua nhà thơ Huy Cận (1919-2005), năm 1951, trong một bức thư Madeleine Riffaud gởi cho Nguyễn Đình Thi có câu hai thơ “Ông tơ ghét bỏ chi nhau/ Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi”. Và có gần 1000 bức thư, bưu thiếp gởi qua lại giữa hai người mà Nguyễn Đình Thi còn cất giữ kỹ cho đến lúc cuối đời. Một trong những bài thơ Nguyễn Đình Thi đã làm và gởi tặng người tình trong mộng Madeleine Riffaud của mình có nhan đề là “Nhớ” viết trên đường hành quân, đề tặng M : “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh/ Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây/ Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh/ Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngà cây/ Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần/ Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước/Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn/ Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt/ Chúng ta yêu nhau, chiến đấu suốt đời/ Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực/ Chúng ta yêu nhau, kiêu hãnh làm người”. Có người còn nói, hình ảnh người con gái hiện lên đẹp hào hùng, đứng trong cảnh khói lửa, quấn chiếc khăn rằn, trong bài thơ “Lá đỏ”- được nhạc sĩ Hoàng Hiệp (1931-2013) phổ thành ca khúc cùng tên  chính là tạc lại từ chân dung của Madeleine Riffaud: “Gặp em trên cao lộng gió/ Rừng lạ ào ào lá đỏ/ Em đứng bên đường như quê hương/Vai áo bạc, quàng súng trường…”. Họ cũng đã gặp nhau và có những ngày tháng đắm say hạnh phúc bên nhau. Nhưng không thể đến hôn nhân vào cái thời còn chiến tranh gian khổ trên đất nước vì hai người với hai quốc tịch dù năm 1955, vợ Nguyễn Đình Thi cũng đã mất ! Và họ đành chấp nhận xa nhau. Nhưng yêu thương chung thủy với người tình, chính Madeleine Riffaud là người đã tìm cách đưa tiểu thuyết, thơ và các tác phẩm khác của Nguyễn Đình Thi rời khỏi lãnh thổ Việt Nam ra thế giới. Với bạn bè văn nghệ sĩ, lúc đầu cuộc kháng chiến, ông cùng bạn thân nhạc sĩ Văn Cao đặt chỉ tiêu thi đua sáng tác nhạc để phục vụ cho kháng chiến. Văn Cao viết “Tiến quân ca” (sau trở thành Quốc ca cho đến hôm nay) thì Nguyễn Đình Thi sáng tác “Diệt phát xít”. Nguyễn Đình Thi được xem là cây cổ thụ trong cấp lãnh đạo văn nghệ cách mạng, một Phó soái chỉ dưới có Tổng soái Tố Hữu. Nhưng Nguyễn Đình Thi cùng một số ít văn nghệ sĩ như Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Hồng chủ trương đổi mới nghệ thuật thi ca, làm thơ không vần, điều này tương phản với quan điểm của khá nhiều nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Xuân Thủy, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ…- và Tố Hữu - nên có lúc những nhà thơ truyền thống có ý muốn cho dời hộ khẩu Nguyễn Đình Thi ra khỏi vương quốc thi ca.

Về nghiệp cầm bút, làng văn cũng được biết rằng Nguyễn Đình Thi từng nói với con trai - nhà thơ Nguyễn Đình Chính - là không muốn con cái sa vào nghiệp văn chương. Riêng ông cũng tự nhận thêm mình đã đi lầm vào con đường văn xuôi. Điều ông tâm đắc nhất, đó là những bài thơ. Thực vậy, dù sự nghiệp văn chương của ông phong phú và đa dạng nhưng ngày nay, nói đến Nguyễn Đình Thi, ai cũng nghĩ đến ông là một nhà thơ chứ ít người biết ông có viết tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, kịch, nhạc mà lĩnh vực nào xem ra cũng có nét đặc biệt đáng trân trọng. Về thơ, ngoài những bài trong 4 tập thơ đã in, bài Đất nước (1948-1955) của Nguyễn Đình Thi được coi là nổi tiếng nhất, được đưa vào chương trình giáo khoa môn Văn lớp 12 cấp Phổ thông Trung học từ sau ngày giải phóng đến nay, và cũng được nhạc sĩ Đăng Hữu Phúc phổ thành bản Giao hưởng – Hợp xướng mang cùng tên Đất nước, biểu diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 1/09/2009. Ngoài ra còn có nhữn tập thơ : Người chiến sĩ (1958), Bài thơ Hắc Hải (1958), Dòng sông trong xanh (1974), Tia nắng (1985). “Đất nước”, có thể là bài thơ hay nhất của Nguyễn Đình Thi đã được phổ vì giá trị khái quát mang tính chính luận của đề tài. Đây là một bài thơ tự do - không bắt buộc phải tuân theo quy định về số chữ, số câu, vần luật như thơ truyền thống, thơ mới hoặc thơ Đường - Thời gian tác giả làm bài thơ bắt đầu từ một năm sau chiến thắng Thu - Đông vang dội của quân dân ta ở Việt Bắc cho tới một năm sau chiến thắng “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu”. Tác giả sáng tác bài thơ trong vòng 7 năm – khoảng thời gian đặc biệt đó, đất nước ta đã trải qua nhiều sự kiện lịch sử quan trọng đủ để nhà thơ nhớ lại diễn biến của tình hình đất nước trong những năm đã qua và đang xảy ra trước mắt để viết nên bài thơ. Mở đầu ‘Đất nước”, Nguyễn Đình Thi mượn xúc cảm từ bối cảnh không gian của niềm vui và tự hào hôm nay về một Đất nước trong vùng tự do: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới” để tác giả nhớ lại bức tranh trong sáng nhưng hoang vắng, thoáng buồn trong lòng người đầy lưu luyến, về một mùa thu đã qua : “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Mùa thu nay, đứng giữa đất trời giải phóng cúa núi trừng chiến khu, tác giả cảm thấy vui tươi và càng tự hào về đất nước xinh đẹp. Không gian lồng lộng với trời xanh, rừng núi, ruộng đồng, ngả đường, dòng sông…đều hiện lên trong vẻ đẹp trữ tình quen thuộc, khiến nhà thơ rạo rực suy ngẫm về tổ quốc yêu thương với truyền thống bất khuất trong quá khứ nối tiếp sức sống cho kiện tại : “Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng nói về”. Tác giả cảm nhận đất nước đau thương mà anh dũng trong kháng chiến chống Pháp: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều”. Nhà thơ đã tinh tế mượn chất liệu thực tế để xây dựng hình tượng nghệ thuật vô cùng độc đáo. Cảm xúc của tác giả dàn trải nặng về chính luận, vẫn có ý tưởng sáng tạo đáng trân trọng: “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Những câu thơ đầy tính sáng tạo làm theo thể tự do sở trường của nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nói lên được đất nước ta từ đau khổ đạn bom “đã đứng lên thành những anh hùng”, tạo nên cái “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” với vẻ đẹp lung linh hùng tráng.

Đây cũng là quá trình từ “than bụi lầy bùn”, từ những ngày tháng “máu trộn bùn non” với bao nhiêu hy sinh gian khổ để tạc nên cái tính cách độc đáo của tượng đài “Vùi quân thù xuống bùn đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” đầy khí phách anh hùng mà giàu tính nhân văn của dân tộc Việt Nam. Về thơ, Nguyễn Đình Thi được nhiều người xem nổi tiếng hơn các thể loại khác mà ông sáng tác. Sau “Đất nước, với tinh thần vượt khó, trăn trở cách tân thơ trên con đường sáng tạo nghệ thuật không ngừng, Nguyễn Đình Thi đã có những bài thơ hay khác giàu tính tự sự như : Bài thơ Hắc hải, Quê hương Việt Bắc, tính dân gian hòa quyện mượt mà với giọng trữ tình thời đại trong các bài : Nhớ, mẹ con đồng chí Chanh. Có lúc thi hứng nhà thơ trở nên nồng nàn, bịn rịn lung linh giữa mơ và thực như trong bài : Chia tay trong đêm Hà Nội…Có lúc lại vô cùng sắc sảo và quyết liệt như bài  Cách mạng - bài thơ thể hiện đỉnh cao khí phách và chiều sâu trí tuệ, những đối cực của vật vả và trở trăn. Bàng bạc trong suốt không gian thi tứ là bão táp và lửa bừng ở đỉnh cao một thi nhân già giặn. “Cách mạng” và “Đất nước” như hai đóa hoa thơ diễm lệ, ngát hương vượt trội hẵn lên trong thi viên rực rỡ trăm hoa trí tuệ khoe sắc của Nguyễn Đình Thi. Từ tập thơ “Dòng sông trong xanh” cho đến giai đoạn cuối, thơ Nguyễn Đình Thi vẽ lên những chuyển biến xã hội dồn dập, căng thẳng trong đó lắng đọng nội tâm và chiêm nghiệm thế sự của tác giả. Nồng độ liên tưởng đậm đặc hòa quyện cùng xúc cảm dồn nén, thể hiện độ sâu của suy tưởng. Tác giả viết những câu thơ trần trụi mà đặc quánh nghĩ suy. Khi thì đơn sơ, yêu mến : “Ta yêu những buổi trưa đầm ấm/ Em bé trồng rau đuổi lũ gà”, lúc lại thảng thốt cảm giác đột ngột, mạnh mẽ mà đầy sáng tạo : “Ôi Cao Văn, Phú Minh, Quảng Nạp/ Trái tim ta đập ở Thái Nguyên” (Quê hương Việt Bắc). Nhưng có lúc thơ Nguyễn Đình Thi cũng không kém ngọt ngào, gần gũi với mọi người. Trong trường ca “Bài thơ Hắc Hải”, giữa những câu thơ 7 chữ khuôn mẫu, mực thước hàn lâm, Nguyễn Đình Thi đã xen vào thể thơ lục bát truyền thống mềm mại, bình dân… khi miêu tả hình ảnh quê hương đất nước Việt Nam thân thương và chân dung lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại kính yêu: ”Việt Nam đất nước ta ơi/ Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/ Cánh cò bay lả rập rờn/ Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”.

Sang lĩnh vực văn xuôi cách mạng, trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến, một mảnh đất văn học mà Nguyễn Đình Thi đã khiêm tốn cho rằng ông đã đi lầm vào, dù ông có nhiều đóng góp rất công phu, nhưng giá trị có hạn. Tiểu thuyết đầu tay “Xung kích”- tác phảm được Giải thưởng Văn nghệ của Hội Nhà văn năm 1951-1952 - Trong  tiểu thuyết này, ông dựng lên hai nhân vật trung tâm là Sản và Kha. Sản là công nhân còn Kha là thanh niên thành thị, cả hai đều trưởng thành đến cấp chỉ huy trong quân đội. Nhân vật thứ ba là Lý, nữ cán bộ từng trải của phong trào. Sản, Kha và Lý đều là những người tốt, còn trẻ, chưa có gia đình. Ở cuối tác phẩm, tác giả có miêu tả những lần gặp gỡ thể hiện tình cảm tương tác giữa Sản và Lý : “Chưa bao giờ thấy anh Sản lại hiền lành như thế ”, và có lúc Sản cũng nhìn thấy khuôn mặt Lý vui tươi và hồng hào. Bởi lẽ đó, một cán bộ lãnh đạo văn nghệ khi ấy bảo là các nhân vật điển hình cách mạng trong truyện “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi còn mang tính cách tiểu tư sản ! Khi đến với pháo cao xạ và viết “Vào lửa”, nhà văn cũng kịp thời nói lên được từ một binh chủng mới, cuộc chiến tranh dữ dội mà cái sống và cái chết như tự trên trời rơi xuống có thể ngẫu nhiên đến bất cứ lúc nào. Nhưng nếu có hy sinh thì cũng hy sinh trong tư thế anh hùng như những liệt sĩ, những anh hùng vô danh như Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn…, đó là điều mà nhân vật Xuân trong “Vào lửa” đã nghĩ. Viết “Mặt trận trên cao”, Nguyễn Đình Thi cũng nhận ra được cái khó làm sao có được một cốt truyện của người chiến sĩ lái máy bay trên không và cuộc đời ở dưới đất. Vì là viết tiểu thuyết nên tác giả đã vất vả tạo ra một cốt truyện nhưng cũng không phải là đặc sắc. Đến tiểu thuyết “Vỡ bờ” (2 tập tổng cộng hơn nghìn trang, mang tính sử thi), tác giả đã thành công mức độ ở sự tái hiện bức tranh đa chiều của xã hội Việt Nam giai đoạn 1939-1945. Tác phẩm đồ sộ này đã thể hiện khát vọng của nhà văn muốn khái quát và tổng hợp quá trình vận động của lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc thông qua nỗi thăng trầm của một số tầng lớp xã hội. Sang phần kịch bản, dù không phải là mặt mạnh trong sự nghiệp cầm bút của mình, Nguyễn Đình Thi vẫn để lại cho hậu thế hàng chục vở kịch mangdấu ấn mới lạ. Từ “Con nai đen” (1961) đến “Hoa và Ngần” (1975), “Rừng trúc”  “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” (1979), “Người đàn bà hóa đá” (1980), “Tiếng sóng” (1980), “Cái bóng trên tường” (1982), “Giấc mơ” (1983), “Trương Chi” (1983) và “Hòn Cuội” (1983-1986). Ở kịch bản nào, Nguyễn Đình Thi cũng thể hiện một nỗ lực cách tân không mệt mỏi để làm giàu thêm tính văn học, nâng cao tầm khái quát và chiều sâu triết lý của kịch. Theo nhiều nhà phê bình, kịch của Nguyễn Đình Thi đa dạng ở nội dung và thể loại, đậm đà chất thơ và tính triết lý.

Dù vậy, giống như thơ, số phận những tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi cũng không hề suôn sẻ: hoặc đã vắt tim nặng óc làm ra mà không được công diễn, hoặc phải đợi rất lâu mới được đưa lên sân khấu, có vở diễn vài lần rồi bị cấm hoặc viết ra rồi phải đợi đến 20 năm sau mới được ra mắt khán giả. Bởi lẽ, có người cho rằng : kịch của Nguyễn Đình Thi nặng về triết lý, nghệ thuật mang tính biểu tượng hai mặt không biết ám chỉ ai, nhiều ẩn dụ, không dễ hiểu với khán giả bình dân. Đến địa hạt âm nhạc, dù tác giả sáng tác mang tính tài tử chỉ 3 bản : Người Hà Nội (1947), Diệt phát xít (1945) và Con voi (được ca sĩ Trần Hiếu hát). Nhưng Người Hà Nội được xem là một kiệt tác bất hủ, một kiệt tác âm nhạc vào hàng hay nhất và lớn nhất của âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ qua : trình diễn tại Đại hội Thanh niên Thế giới tại Berlin-Đức (1951), nhạc sĩ tác giả được đồng chí Trường Chinh (1907-1988) hướng dẫn đi gặp Bác Hồ, và được Bác Hồ bảo hát “Người Hà Nội” cho Người nghe và được Bác khen. Theo nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921-1989), tại Festival Berlin 1951 có đoàn Việt Nam tham dự, bài hát Người Hà Nội là một tiết mục có trong chương trình ca nhạc, với sự hỗ trợ đặc biệt của dàn nhạc đệm nước Đức chủ nhà. Tuy sáng tác nhạc không nhiều, Nguyễn Đình Thi vẫn xứng đáng với danh hiệu cao quý nhạc sĩ. Về tác phẩm biên khảo, lý luận, phê bình thuộc phạm vi văn học, triết học, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện là một cây bút sắc sảo và có phong cách riêng. Trong tiểu luận “Nhận đường” viết theo quan điểm văn nghệ Mác-xít, tác giả vạch ra con đường đi đúng đắn cho văn nghệ sĩ lúc bấy giờ : “Văn nghệ phụng sự chiến đấu, nhưng sự chính chiến đấu đem đến cho văn nghệ một sức sống mới, sắt lửa mặt trận đang đúc lên văn nghệ mới cho chúng ta”. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nguyễn Đình Thi cùng các nhà văn cách mạng như Tô Hoài (27/9/1920 – 6/7/2014), Nam Cao (29/10/1917 – 30/11/1951), Trần Đăng (1921 – 1949)… đã hăng hái tham gia vào sự nghiệp giải phóng của dân tộc, vừa cầm bút vừa cầm súng đi chiến đấu chống quân thù xâm lược.

Tóm lại, qua cuộc đời cống hiến hết mình cho sự nghiệp văn học nghệ thuật cách mạng, bằng kiến thức uyên thâm, tài năng đa diện và tâm huyết nồng cháy của mình, Nguyễn Đình Thi xứng đáng được tôn vinh là một nhà văn hóa hay coi ông như chân dung đặc biệt của một nghệ sĩ lớn, tài hoa muôn mặt. Dù được coi là xuất sắc, nổi trội trước hết ở thơ - tiêu biểu là bài “Đất nước”, và ở nhạc - bài “Người Hà Nội”, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện rõ nét trong hầu hết tác phẩm thể loại khác của ông một độ sâu trí tuệ, một đỉnh cao nghệ thuật ở sự khám phá, cách tân không mệt mỏi trên con đường đi kiếm tìm chân-thiện-mỹ đích thực dưới ánh sáng nhân văn lấp lành của con người. Điều mà người ta ngưỡng mộ và trân trọng Nguyễn Đình Thi không chỉ riêng ở tài năng và chỗ đứng trong xã hội văn nghệ mà là cái nhân cách cao đẹp, cái tấm lòng mãi mãi vì dân vì nước trong suốt cuộc đời hoạt động văn học nghệ thuật có lúc thăng trầm của một kẻ sĩ tài hoa.

NGUYỄN THANH
Nguồn: Văn Nghệ


                                                            

NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN: CẮT ĐỨT LÒNG ANH TRĂNG CỦA EM

Chế Lan Viên là một hiện tượng độc đáo trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Năm 16 tuổi, quyển Điêu tàn của ông "đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị" (Hoài Thanh). Nhận xét ấy đúng đâu phải chỉ với tập thơ đầu tay, mà với cả sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên. Đặc biệt là với những tập Di cảo ra đời sau khi nhà thơ đã mất.

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Chế Lan Viên gắn bó chặt chẽ với nhà văn Vũ Thị Thường, một cây bút truyện ngắn gần gũi với mảng đề tài nông thôn Việt Nam. Từ khi Chế Lan Viên qua đời, nhà văn Vũ Thị Thường đã coi việc sưu tầm, góp nhặt, tuyển chọn và xuất bản những di cảo thơ của ông là công việc quan trọng nhất của đời mình.
Nhà thơ Chế Lan Viên

Cách đây nhiều năm, trong chương trình Điểm tựa tài năng, một chương trình rất có ý nghĩa, nhằm tôn vinh những người mẹ, người vợ của các bậc tài danh của đất nước do Nhà văn hoá Lao động và Báo Phụ nữ T.P HCM kết hợp tổ chức, bà Vũ Thị Thường đã khiến bao khán giả phải trào nước mắt vì xúc động, khi nghe bà kể lại những kỷ niệm trong đời sống thường ngày cũng như trong hoạt động sáng tạo của cặp vợ chồng nghệ sĩ này.

Tình yêu và lòng quý trọng đối với người chồng là một nhà thơ có tài đã giúp bà có thêm lòng quyết tâm và nghị lực khi bắt tay vào thực hiện công việc của mình. Ba tập Di cảo thơ ra đời có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó giúp cho nhiều thế hệ bạn đọc có một cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về một nhà thơ lớn của thời kỳ hiện đại.

Tuy vậy Chế Lan Viên còn có một cuộc đời khác. Hay nói chính xác hơn, cuộc đời ông còn có thời kỳ gắn bó với  một người phụ nữ khác - là người vợ đầu của ông. Nhưng người ta ít nói đến vì một lẽ đơn giản là hai người đã chia tay nhau từ lâu. Mọi chuyện đã trở thành quá khứ.

Sau khi chia tay cả hai người đều đã có một gia đình khác, một cuộc sống khác. Nhưng chắc chắn rằng người phụ nữ ấy đã có thời là tất cả tình yêu của nhà thơ Chế Lan Viên. Và điều đáng nói hơn cả ở đây là cuộc chia tay của họ có một vẻ gì đó thật khác thường, được ghi dấu bằng một bài thơ tứ tuyệt chưa bao giờ được công bố.

Từ nỗi đau của sự chia cắt và ly biệt, từ cảnh ngộ của riêng mình nhà thơ đã gửi gắm tình cảm của mình qua những câu thơ giản dị, chân thành mà trĩu nặng ưu tư. Để có thể hiểu rõ hơn hoàn cảnh ra đời của bài thơ, xin được nói đôi lời về người đàn bà đã từng đi qua đời nhà thơ Chế Lan Viên, vào những năm tháng trẻ trung, sôi nổi nhất.

Bà tên là Nguyễn Thị Giáo. Bà Giáo vốn là bạn đồng trang lứa và lại là người đồng hương Đà Nẵng với cha tôi - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận. Cụ thân sinh ra bà là thầy giáo dạy cha và các chú tôi (Lưu Quý Thảo, Lưu Trùng Dương) ở một trường trung học tại thành phố Đà Nẵng những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945.

Chế Lan Viên cũng có thời từng là học trò của cụ. Thời con gái, bà Giáo được nhiều chàng trai ở thành phố biển Đà Nẵng thầm yêu trộm nhớ, vì vẻ đẹp mặn mòi và nét duyên dáng của một cô tiểu thư khuê các. Nhưng bà đã nặng lòng với người thi sĩ mang họ Chàm từ khá sớm. Vượt qua nhiều khó khăn trở ngại từ phía gia đình, bà nhất quyết đi theo tiếng gọi của lòng mình.

Tháng 9 năm 1943, hai người tổ chức đám cưới. Khi đó Chế Lan Viên 23 tuổi và cô thiếu nữ Nguyễn Thị Giáo vừa tròn 18 tuổi. Cuộc sống hạnh phúc của ông bà kéo dài được 15 năm. Kết quả của tình yêu đó là ba người con, hai trai (Phan Lai Triều, Phan Trường Định) và một gái (Phan Thị Chấn Thanh) lần lượt ra đời.

Năm 1958, sau một chuyến đi chữa bệnh dài ngày ở Trung Quốc của nhà thơ Chế Lan Viên, gia đình ông gặp chuyện sóng gió. Khi thấy nguy cơ đổ vỡ của gia đình, Chế Lan Viên rất đau khổ và không hề muốn điều đó xảy ra. Ông sẵn lòng chấp nhận tất cả, sẵn sàng bỏ qua mọi chuyện để giữ được tổ ấm của mình.

Tình yêu còn đến đâu thì chưa biết, nhưng chắc chắn ông thương các con của mình, khi đó đang còn bé dại cả. Nhưng có thể vì lòng tự ái hay vì một lí do riêng nào đó mà bà Giáo từ chối mọi lời đề nghị của Chế Lan Viên. Cuộc chia tay không thể nào tránh khỏi. Mọi lời khuyên can, hòa giải đều vô ích. Bạn bè văn nghệ sĩ và những người đồng hương đều tiếc cho hai ngưòi.

Ngày hai ông bà ra tòa chia tay nhau có mặt cha tôi. Ông đến dự phiên toà với tư cách là đại diện cơ quan (ngày đó ly hôn phải có đại diện cơ quan) và với tư cách là bạn lâu năm của cả hai người. Cha tôi kể lại rằng suốt buổi hôm đó Chế Lan Viên ngồi im lặng. Sau khi đã xong hết mọi thủ tục, trước khi ra về, ông mới lặng lẽ đứng lên và đọc bài thơ, thay cho lời nói cuối cùng.

Đến chỗ đông người anh biệt em
Quay đi thôi chớ để anh nhìn  
Mày em trăng mới in ngần thật
Cắt đứt lòng anh trăng của em

Sự việc đó khiến mọi người vô cùng sửng sốt. Đúng là có một không hai.

Thông cảm với nỗi đau của ông, người ta càng thêm kính trọng nhân cách và lòng nhân hậu, vị tha của một thi sĩ tài năng. Nếu ai đã gặp bà Giáo, thì càng thấy cảm phục cái tài và cái tình của Chế Lan Viên. Nét nổi bật nhất trên gương mặt của bà Giáo là cặp lông mày hình vòng cung, cong như lá liễu.

Khi đã là một người đàn bà ở tuổi 80, đôi lông mày của bà vẫn còn nguyên nét mảnh mai, son trẻ như mảnh trăng đầu tháng. Ấn tượng mà bài thơ từ biệt của Chế Lan Viên để lại trong lòng cha tôi thật sâu đậm. Nhiều năm sau này ông vẫn còn kể về nó. Đặc biệt là sau những lần bà Giáo đến nhà thăm cha tôi, cùng với những người bạn đồng hương.

Nhiều năm tháng đã đi qua trong cuộc đời mỗi người. Nhà thơ Chế Lan Viên và bà Nguyễn Thị Giáo từ lâu đều đã có một gia đình khác, có những niềm hạnh phúc khác. Nhưng chắc rằng những tháng năm chung sống cùng nhà thơ Chế Lan Viên đã trở thành một phần đời không dễ nguôi quên đối với bà Giáo.

Trong một lần trò chuyện với anh Phan Lai Triều, con trai cả của nhà thơ và bà Giáo, tôi được biết rằng khi nhà thơ Chế Lan Viên đang đau nặng, nằm điều trị ở bệnh viện Chợ Rẫy, bà Giáo đã yêu cầu anh đưa bà vào thăm. Nhưng để tránh sự xúc động quá lớn cho cả hai người, anh Triều đã khuyên mẹ không nên gặp lại cha mình khi cả hai đều đang đau yếu (lúc đó bà Giáo mới trải qua một cơn tai biến não).

Bà Giáo đã nghe theo lời con trai và ra về, chỉ nhờ anh chuyển đến Chế Lan Viên một chút quà. Hiện nay tuổi đã cao, sức yếu, bà sống với con tại TP HCM. Cách đây hơn nửa thế kỷ nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nói về Chế Lan Viên: "Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được".

Tất nhiên chúng ta đều hiểu rằng nhận xét đó là để nói về thơ của ông. Nhưng chỉ qua một bài thơ tứ tuyệt được ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt như vậy, chúng ta thấy lời khen ấy thật là xác đáng cả về tài năng cũng như tấm lòng của một thi sĩ mà tầm vóc đã vươn tới một chiều kích khác

PGS.TS. LƯU KHÁNH THƠ
Theo ANTG

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU