Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

CÔ ĐƠN VÀ NHẬP CUỘC KIỂU DƯƠNG NGHIỄM MẬU

Nói cách khác, cảm tưởng về quá khứ văn nghệ và quá khứ lịch sử mới chính là những ám ảnh sâu sắc nhất của Dương Nghiễm Mậu. Ông thấy những vấn đề của đời mình, của thế hệ mình cũng là phóng chiếu từ những vấn đề của con người trong các thời đại trước…
Nhà văn Dương Nghiễm Mậu

Một cách sống chừng mực giữa các đồng nghiệp

Với tư cách một người cả đời sống trong không khí văn nghệ Hà Nội, tôi hay nhìn sinh hoạt văn nghệ Sài Gòn trước 1975 giống như là khung cảnh chung của đời sống chính chúng tôi. Ở đó có nhóm nọ nhóm kia, có sếp sòng chỉ huy, có đám đông vừa ù lì vừa nhạy cảm, có những người cùng ý chí, cùng hướng tìm tòi sáng tạo, tất cả quen biết nhau và làm việc trong sự hiệp đồng với nhau, tuy bên trong cũng đầy những ghen ghét lẫn đố kỵ. Với cái nhìn ấy tôi thường chú ý đến nhóm Sáng Tạo và các cây bút di cư sau 1954, chú ý tới tạp chí Bách Khoa, các tạp chí Văn, hoặc sau này mấy tờ Khởi Hành, Vấn Đề…

Võ Phiến và Mai Thảo tôi nhớ đầu tiên. Ngoài ra là Vũ Khắc Khoan, Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca Túy Hồng… đặt bên cạnh bức tranh sơ bộ như trên thì thấy Dương Nghiễm Mậu không thuộc vào nhóm nào cụ thể. Nhà văn có lần kể với tôi người thân nhất với ông là Lý Hoàng Phong – người làm tờ tạp chí Văn Nghệ và tờ này đã đóng cửa từ 1963.

Ở chỗ riêng tư Dương Nghiễm Mậu được coi như cùng lứa với Thanh Tâm Tuyền, họ đều là những người thanh niên từ Bắc di cư. Nhưng trong những hoạt động sôi nổi của nhóm Sáng Tạo bao gồm những thảo luận nghệ thuật là gì, đánh giá lại văn học tiền chiến… người ta chỉ nhớ Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Trần Thanh Hiệp và những tên tuổi tuổi khác. Còn Dương Nghiễm Mậu thì không tham gia vào những cuộc tìm tòi ồn ào và sôi nổi đó.

Mặc dầu vậy, một trong những bài viết hiếm hoi mà Dương Nghiễm Mậu còn viết sau năm 1975 chính là một bài viết dài về nhóm Sáng Tạo.

Hôm trước tôi vừa đưa lại lời bạt rất tâm tình của Dương Nghiễm Mậu viết cho tập thơ Nhã Ca.
Ở bài đó ta thấy, tác giả của Cũng đành… chơi với mọi người nhưng không tham gia vào nhóm nào cả. Đọc văn xuôi ông, cũng có người nhận ra ở ông những dấu hiệu của avant-garde, nhưng những phát biểu có tính chất là tuyên ngôn về những tìm tòi nghề nghiệp thì rất ít khi người ta tìm thấy ở các bài báo ký tên ông. Nếu ở ông có một thứ ngôn ngữ văn xuôi mới, thì sự tìm tòi ấy đã đến với ông một cách tự nhiên.

Ngay từ 1971 trong tập Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay của Tạ Tị, tên tuổi của Dương Nghiễm Mậu cũng được đặt bên cạnh những nhân vật tiêu biểu của SG 1945 – 1975 như Trịnh Công Sơn…

Trong tập hồi ký Nguyễn Hiến Lê, nhà biên khảo này hay tìm tòi về tiểu thuyết chỉ hạ một câu, đại ý Dương Nghiễm Mậu viết sâu sắc nhưng có màu đen tối.

Chính tôi được nghe Dương Nghiễm Mậu kể lúc đầu Võ Phiến chê văn ông, đại ý nói sao ông lại viết thế. Nhưng về sau Võ Phiến khi làm NXB Thời Mới lại lấy tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu về in. Nhà văn hỏi lại tại sao như vậy thì Võ Phiến trả lời đơn giản là vì tác phẩm của cậu người ta đọc nhiều.

Trong cuốn Tổng quan về văn học miền Nam của Võ Phiến cũng đã trích ra một đoạn ngắn trong truyện ngắn Rượu, Chưa đủ của Dương Nghiễm Mậu viết từ 1963. Mai Thảo có lần nói về Dương Nghiễm Mậu thì nhắc ngay đến truyện Rượu, Chưa đủ.  Ai thích chuyện hậu trường văn học tiền chiến  hẳn biết trường hợp thiên truyện Chí Phèo của Nam Cao, khi được  gửi tới tờ báo lúc đầu nó đã bị vứt vào sọt rác. Nhưng về sau thì lại được các nhà biên tập -- theo tôi nhớ là Lê Văn Trương -- tìm lại và coi như họ đã khai sinh ra một tác giả. Trường hợp xảy ra với Rượu, Chưa đủ cũng na ná như trường hợp trên.

Tóm lại, khi nhìn lại cuộc đời của Dương Nghiễm Mậu, tôi thấy ông không thuộc loại làm văn nghệ theo nhóm phái và thường xuyên có những cuộc trao đổi về nghề nghiệp với bạn bè, nói theo cái chữ suồng sã của bọn tôi là tồn tại kiểu bầy đàn. Những tìm tòi về nghệ thuật của ông cũng nảy sinh một cách tự nhiên, do chỗ nội dung yêu cầu như thế thì phải có hình thức tương ứng. Ông không “vào hùa”, “kéo bè kéo cánh”, hoặc làm hàng, chạy theo mốt. Ông không quá coi trọng và lo lắng sự đánh giá của người viết đương thời, mà cái chính là lo đọc đi và viết. 

Nhưng đấy mới là một khía cạnh của Dương Nghiễm Mậu.

 Gặp lại mình trong người xưa

Trong dịp Dương Nghiễm Mậu qua đời, tôi được đọc trên trang Da Màu một bài viết cũ của Dương Nghiễm Mậu mang tên là Nhân nghĩ về Khái Hưng. Bài này vốn in trên bán nguyệt san Văn số 22 ra ngày 15/11/1964. Trong bài, ngoài đoạn kể về cái chết của Khái Hưng, Dương Nghiễm Mậu nói tới hai cuốn sách của Khái Hưng mà ông có cảm tình đặc biệt. Trong khi những người khác thích ở Khái Hưng những Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân (vốn sau này đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường trung học của SG trước 75) thì Dương Nghiễm Mậu lại chú ý đến hai tác phẩm là Tiêu Sơn tráng sĩ và Băn khoăn. Ông viết, “cuốn trên tôi thích có lẽ một phần vì nhân vật Phạm Thái – một nhân vật vừa là chiến sĩ vừa là tu sĩ vừa là nghệ sĩ mà Khái Hưng đã làm sống lại được. Còn cuốn sau tôi cho là một tiểu thuyết rất mới của thới đó mà cho đến bây giờ nữa đã cho tôi phần nào lý do sự thất bại của trí thức mới trong giai đoạn lịch sử vừa qua.”

Từ cách miêu tả của Dương Nghiễm Mậu trong bài này, thấy toát lên cái ý Băn khoăn chính là bức tranh hoàn chỉnh về đời sống tinh thần của một lớp trí thức như ông và sau ông. Trong tác phẩm ấy, sự bế tắc là cái chia đều cho mọi thế hệ. Người tri thức sau khi tự hỏi “học để làm gì và đỗ để làm gì” thì câu trả lời là “học để chẳng làm gì ráo, đó cũng chẳng ích lợi gì cho chàng, cho tương lai của chàng”. Các nhà thầu, các nhà làm kinh tế cũng bế tắc không hiểu kiếm tiền để làm gì. Các cô gái mới lớn cũng băn khoăn không hiểu tuổi thanh xuân của mình sẽ dùng để làm việc gì. Cả xã hội sống trong một khung cảnh nhiễu loạn, không có giáo dục gia đình, không có luân lý gia đình; đám thanh niên lớn lên sống không mục đích hay với chỉ mục đích là chơi bời phóng đãng.

Qua việc đọc ra những bế tắc của các nhân vật thời Khái Hưng, Dương Nghiễm Mậu nhận thấy đó cũng là những bế tắc của thế hệ mình. Cái trách nhiệm của người tri thức mà tác giả nhận lấy và coi những người đương thời của mình cũng phải nhận lấy, cái trách nhiệm đó không có gì thực hiện và điều đó kéo dài qua mấy thế hệ.

Dương Nghiễm Mậu đã mở ra một khía cạnh mới của văn học tiền chiến và sự liên lục của nó còn kéo dài đến sau 1975.

Từ bài viết trên về Khái Hưng tôi chợt nhận ra nhà văn nổi tiếng là hay lặn lội đi tới các tiền đồn này rất hay trở lại với lịch sử và tìm thấy trong cách sống cách nghĩ của người xưa những gợi ý cho ngày hôm nay.
Tôi chợt nhớ lại một tiểu luận khác của Dương Nghiễm Mậu, bài Tản Đà – kẻ làm loạn với chính mình in ở Văn số 35 ra 1-6-65

Nguyễn Tuân viết về nghệ thuật múa kiếm của Tản Đà, kể cũng đã lạ. Nay Dương Nghiễm Mậu còn đi xa hơn, thấy ở nhà thơ mà người ta chỉ nhớ như là ông thần ngông và ông thần rượu một khía cạnh con người hiện đại. Nhớ trong một lần trả lời Thời tập 1974 khi được hỏi Không lẽ người ta chỉ say sưa có chừng đó? Rượu, thiên nhiên, người yêu ông trả lời ngay Còn có những thứ say sưa khác nữa chứ, ví dụ như làm loạn chẳng hạn...

Trường hợp sau đây thì được biết tới nhiều hơn:

Dương Nghiễm Mậu với truyện ngắn Kinh Kha con chủy thủ và đất Tần bắt trắc. Tác giả đọc trong lịch sử của đời Tần Hán xa xôi những vấn đề của nước VN thời nay. Ông chấp nhận cả chuyện phần nho khanh thư vì thật ra trên đời này có biết bao kẻ làm loạn. Cái sự chuyên chế đã đành là phải tiêu diệt, nhưng sau đó thì cái gì sẽ thay thế, tất cả đều không biết. Cuối truyện này còn một đoạn trữ tình ngoài lề, trong đó tác giả liên hệ hoàn cảnh cuộc đời về Tần Hán với tình cảnh của con người ở giữa những sự lựa chọn thời gian từ 1945 – 1954. Cái giọng bao trùm của bài viết cũng là cái giọng thấy ở nhiều tác phẩm khác của Dương Nghiễm Mậu, đó là sự bế tắc của con người không biết lựa chọn điều gì cần thiết cho mình, nhưng lại cũng kiên quyết bảo vệ sự lựa chọn ấy, không đặt quyền hướng dẫn đời mình vào tay kẻ khác. Sự chọn đường của người trí thức bao giờ cũng là hành động tự nguyện và là sản phẩm của những hiểu biết về lịch sử và thân phận con người.

Từ những suy nghĩ của Dương Nghiễm Mậu về Băn khoăn của Khái Hưng và các sáng tác vừa kể, tôi nhận ra hình ảnh một nhà văn hôm nay, không quá lo lắng về quan hệ với các đồng nghiệp đương thời, nhưng lại luôn thấy mình chia sẻ với các tác giả trong quá khứ và biết sống với những vấn đề chung của con người ở các thời khác.
Nói cách khác, cảm tưởng về quá khứ văn nghệ và quá khứ lịch sử mới chính là những ám ảnh sâu sắc nhất của Dương Nghiễm Mậu. Ông thấy những vấn đề của đời mình, của thế hệ mình cũng là phóng chiếu từ những vấn đề của con người trong các thời đại trước. Với vẻ bề ngoài xù xì và bám sát của đời sống sĩ quan và lính tráng những năm chiến tranh, thật ra thì Dương Nghiễm Mậu cũng đặt những vấn đề của xã hội. Ở ông tuyệt nhiên không có sự viết văn làm dáng, nghệ thuật vị nghệ thuật như người ta nói. Trong khi đạt tới sự thiết thực tối đa thì đồng thời ông cũng đạt tới sự trừu tượng hóa tối đa mà trường hợp tập Cũng đành là một ví dụ.

VƯƠNG TRÍ NHÀN
Nguồn: Blog VTN

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

LÊ VĂN NGHĨA - KHI KÝ ỨC ĐƯỢC HỒI PHỤC

"Sài Gòn khâu lại mảnh thời gian" của Lê Văn Nghĩa sẽ tiếp tục vén mở một phần quá khứ mà nhiều người chưa biết tới.
Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Trong những văn hữu cùng thế hệ với chúng tôi - những người ở độ tuổi đôi mươi trực tiếp chứng kiến bước ngoặt lịch sử của xã hội miền Nam năm 1975, Lê Văn Nghĩa là một trường hợp đặc biệt.

Khi Sài Gòn đổi thay chế độ chính trị, nhiều người trong chúng tôi vốn từ miền Tây hay miền Trung đến đây trọ học, chỉ mới làm cư dân thành phố được năm ba năm, bàn chân chưa gột rửa hết bùn đất quê nhà cũng như chất nhà quê còn in đậm trong cách sống và cách nghĩ. Một số người khác theo gia đình vào Nam từ cuộc di cư năm 1954, sống ở Sài Gòn lâu hơn, nhưng tâm thức vẫn có chỗ neo đậu hoài tưởng là "đêm giã từ Hà Nội" và "chuyến tàu trên sông Hồng". Lê Văn Nghĩa thì khác, ông là người Sài Gòn chính hiệu, từ thuở ấu thơ đã bước đi trên hè phố nhộn nhịp một đời sống đô thị phồn hoa.

Nhưng kể ra những người cùng thế hệ lớn lên ở Sài Gòn rồi cầm bút viết văn như Lê Văn Nghĩa không phải là hiếm. Lê Văn Nghĩa đặc biệt vì ông là người Sài Gòn mà tỏ ra hờn tủi, bất bình với xã hội từ rất sớm, thời học sinh đã phải đi tù Chí Hòa và Côn Đảo vì tinh thần phản kháng đó. Có thể nói, tuổi trẻ Lê Văn Nghĩa đã nhìn Sài Gòn bằng cái nhìn khác với nhiều người cùng hoàn cảnh, mặc dù lúc đó ông chưa có điều kiện để thể hiện rõ điều này trên trang viết.

Theo lẽ thường, khi nhập cuộc vào thế giới văn chương, báo chí của một Sài Gòn đã thay đổi, những người như Lê Văn Nghĩa, nếu không định kiến với Sài Gòn hôm qua, thì ít ra cũng thờ ơ, lãnh đạm với nó. Vậy mà, với "Sài Gòn khâu lại mảnh thời gian", tạp bút của Lê Văn Nghĩa, NXB Trẻ - 2018, ta thấy ngòi bút của ông vẫn giữ sợi dây liên lạc tinh thần với cái thành phố từng chịu nhiều đắng cay, tủi nhục. Cách lý giải quen thuộc và dễ được chấp nhận nhất là có "Sài Gòn bề mặt, Sài Gòn bề sâu", "Sài Gòn nhìn lâu đẹp lắm", hay như cách miêu tả dễ dãi của một nhà văn hóa qua ẩn dụ "sen và bùn".

Dù Lê Văn Nghĩa viết một cách cẩn trọng và dè dặt rằng Sài Gòn hồi đó "có lắm điều hay và không ít cái dở nhưng tất thảy đều đáng yêu", ta vẫn thấy chủ ý của nhà văn ở cái nhìn công bằng, thỏa đáng. Bởi vì điều dở hay điều hay nơi xã hội và con người đâu phải một sớm một chiều mà ta nhận ra ngay. Phải kinh qua sự trải nghiệm, so sánh với những đối trọng, ta mới nhận ra và thấy nó là "đáng yêu". Một tình yêu đích thực có khi chỉ được xác nhận bằng sự đối chiếu với tình yêu giả hiệu.
Những tác phẩm gần đây của Lê Văn Nghĩa - cả truyện ngắn, truyện dài và tạp bút - được thành hình từ một sự hồi phục của ký ức, ký ức cá nhân hòa trong ký ức cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả xem cuốn sách này như kết quả của việc khâu vá lại những mảnh thời gian, qua đó mà khâu vá lại chính tâm hồn mình. Những mảnh ghép hồi cố chân thành mà không ủy mị đó thoạt nhìn có thể rời rạc, phân tán, nhưng liên kết lại sẽ cho ta một bức tranh về Sài Gòn ngày cũ, Sài Gòn của thời niên thiếu Lê Văn Nghĩa.

Thể loại phi hư cấu pha trộn giữa chất văn học và chất báo chí mà cuốn sách này vận dụng không chỉ nương nhờ kỷ niệm của người viết mà còn đòi hỏi một cung cách khảo sát, chọn lọc và khai thác tư liệu. Chỉ cần đọc một vài chi tiết đời thực mà tác giả nhặt ra, ta cũng có thể cảm nhận chiều kích của xã hội và tâm hồn người Sài Gòn. Thật thú vị, nhờ Lê Văn Nghĩa, ta mới biết có cuộc tranh luận không ngã ngũ về việc nước mắm nên đựng trong chai hay trong tĩn, biết Hội đồng Đô thành đã từng đề nghị đặt tên đường Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1974, biết người dân Sài Gòn đã hưởng ứng lời kêu gọi của báo Tin Sáng công khai quyên góp cứu trợ đồng bào miền Bắc bị trận lũ lịch sử năm 1971.

Văn chương không nên tìm cách bóp méo chân dung thật của Sài Gòn mà cũng không cần gieo rắc ảo tưởng về một Sài Gòn hoàn mỹ. Chiến tranh như thế, nghèo đói như thế, Sài Gòn chỉ cần gắng sức tồn tại mà không đánh mất mình đã là đáng quý. Sài Gòn là như vậy đó, không cần tìm cái đẹp ở đâu xa: chỉ là hương vị bánh mì trong gánh hàng rong, là vóc dáng thiếu nữ duyên dáng trên chiếc xe Solex, là cái đĩa hát nhựa mà người yêu nhạc cố công sưu tầm và gìn giữ…

Thế hệ chúng tôi bây giờ tập điềm tĩnh, thanh thản nhìn thời gian cuốn trôi đi những dấu tích của ngày hôm qua. Trăn trở, bức xúc, trách móc bao nhiêu cũng không cứu được hình hài của thương xá Tax hay hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng. Mình cũng không phải là cái máy hát quay mãi những vòng hoài niệm. Là người cầm bút, chúng tôi chỉ có tiếng nói. Và tiếng nói của mỗi người rồi sẽ được vọng âm và hồi đáp của những ai không hề thấy phí công khi đi tìm trong chữ nghĩa chút công bằng với lịch sử.

Mấy năm trước, đọc "Mùa hè năm Petrus" của Lê Văn Nghĩa, tác giả "Nỗi buồn chiến tranh" nhận thấy đó là một tác phẩm "tươi sáng, trong vắt mà cảm động, chan chứa tình hữu ái, lòng mến thương, sự dịu dàng của tuổi hoa niên". Không phải là người quá xa lạ với miền Nam, Bảo Ninh vẫn ngạc nhiên về một học đường mà "các thầy giáo lại là những nhà trí thức mẫu mực đáng kính, thông tuệ và nhân hậu nhường ấy, tạo tấm gương sáng và để dấu ấn sâu sắc bền lâu trong tâm khảm, tâm tính, lối sống, lối nghĩ của học trò đến như vậy". Và ông liên tưởng đến "lời chiêm nghiệm sâu sắc, tuyệt hay và khác thường" của nhà văn Nguyễn Minh Châu: "Những điều thực sự mới mẻ, thậm chí mới mẻ nhất xuất hiện trong đời sống và cả trong văn học lại thường đến từ những miền quá khứ không hề được biết tới".

Cuốn sách mới này của Lê Văn Nghĩa cũng như nhiều tác phẩm về Sài Gòn ra mắt gần đây, sẽ tiếp tục vén mở một phần quá khứ mà nhiều người chưa biết tới.

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Nguồn: Người Lao Động



Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

TRẦN DẦN - THI SĨ ĐẦU Ô TÍM

Trong những bài thơ mi-ni mà Trần Dần ghi vào “Sổ bụi”, tôi thích nhất bài: “Tôi tên nô lệ vàng/ Tôi ở đầu ô tím”. Thích đến nỗi ám ảnh.
Thi sĩ Trần Dần

Dù bây giờ, Trần Dần đã đi xa dương thế tròn 20 năm, nhưng cứ mỗi lần đi qua căn nhà số 7 Vũ Lợi, Hà Nội tôi lại tưởng tượng ra cái góc ngồi của ông, cái khoảng tường mà Trần Dần từng ngồi trên chiếc ghế tựa lưng vào để ngẫm nghĩ và sáng tạo qua bao nhiêu năm, đã in lại tấm lưng màu đen như cái bóng của ông để lại với nhân gian, thường chợt hiện lên trên nền vôi trắng. Cái khoảng đen ấy là góc Trần Dần. Từ cái góc này, ông thường cùng tôi đi sang quán bia ở ngã tư Khâm Thiên dẫn tới Ô Chợ Dừa.

Những năm đầu Hải Phòng giải phóng. Ngày ấy, tôi còn bé quá. Nhưng không hiểu sao những câu thơ mà một thời dài làm bao người né tránh như né tránh một kiếp nạn lại nhanh chóng nhập vào trí nhớ của tôi: “… Tôi bước đi/ Không thấy phố/ Không thấy nhà/ Chỉ thấy mưa sa/ Trên màu cờ đỏ…”.

Nghe nói đó là những câu thơ bị phê phán rất nặng trong vụ Nhân văn - Giai phẩm và tác giả của nó, nhà thơ Trần Dần bị kỷ luật. Từ đấy, những câu thơ ấy cứ bất chợt làm tôi suy nghĩ. Nếu cứ suy luận từ mấy câu thơ này thì có lẽ lỗi của ông Trần Dần nào đó quả là rất nặng.

Tôi lớn lên, qua đại học rồi gia nhập quân đội: Tuổi thanh xuân cuốn theo chiến tranh. Cờ đỏ trong thơ tôi lại thực như đời lính của tôi: “Ra đi một thời khốc liệt gian lao/ Hy sinh như người lính mới/ Tấm bằng đỏ thay cho lời nói cuối/ Ghép nên những lá cờ”. Bởi thế, có lúc, tôi đã quên câu thơ trên của Trần Dần. Nhưng từ ngày thống nhất đất nước, nhất là những năm cuối cực kỳ khó khăn của thời bao cấp, những câu thơ trên của Trần Dần lại hiện về trong trí nhớ.

Cũng chính với những băn khoăn như thế, sau ngày đổi mới, tôi đã gặp Trần Dần và mới hiểu ra tận tường mọi nhẽ. Lúc này, Trần Dần đã bị tai biến nên méo mồm, nói rất khó, đi phải chống gậy.

Trần Dần sinh ở Nam Định. Cụ thân sinh lấy ngay năm sinh Bính Dần 1926 đặt tên cho cậu con trai. Hai mươi tuổi Trần Dần cùng Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Vũ Hoàng Địch (em trai Vũ Hoàng Chương) và Hoàng Lộc đã ra “bản tuyên ngôn tượng trưng” với ước muốn “Chôn Thơ Mới” và công bố những bài thơ đầu tiên của nhóm trên Báo Dạ Đài ở Hà Nội tháng 11.1946. Nếu không có cuộc chiến tranh chống Pháp, có thể Trần Dần và nhóm của ông mà người ta quen gọi là nhóm Dạ Đài sẽ trở thành những thi sĩ tượng trưng. Bước vào cuộc chiến tranh cùng dân tộc, họ đã bẻ ngoặt lối đi nghệ thuật của mình theo lịch sử. Vũ Hoàng Địch làm lời cho “Ba Đình nắng” của Bùi Công Kỳ rất hoành tráng. Hoàng Lộc hy sinh sau bài thơ “Viếng bạn” nổi tiếng, còn Trần Dần thì dấn thân cùng những đoàn quân khắp các chiến trường Việt Bắc, Tây Bắc và cuối cùng là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Chính sự dấn thân này cho ông một suy nghĩ mới về thơ và tiểu thuyết. Tiểu thuyết “Người người lớp lớp” đã đưa cái tên Trần Dần vào văn học Việt Nam thời chống Pháp.

Cũng như thế, ông đã nghĩ về thơ như sau: “Vào chiến tranh, tôi muốn thơ tôi thế nào?… Lúc tôi muốn một thứ thơ dễ dãi. Lúc một thứ thơ không có vần. Lúc một thứ thơ như một hạt ngọc. Lúc một thứ thơ kể chuyện. Lúc một thứ thơ gồ ghề. Lúc một thứ thơ hiền lành có cái khỏe của một bắp thịt hồng. Lúc một thứ thơ na ná như của anh lính, nó mát mà lành, nó hiền mà khỏe, nó thực tế. Lúc một thứ thơ na ná như bài nói của anh cán bộ, nó đả thông, nó giục giã, nó lý luận… tôi muốn một thứ thơ không có vần, không có kỷ luật - người ta thích thơ dễ đọc, có vần. Vì vậy tôi muốn một thứ thơ nào đó rất tự do nhưng rất có nhịp chắc chắn…”. Suy nghĩ này của Trần Dần thêm một lần cho thấy cuộc tranh luận “thơ không vần” vẫn chưa có kết luận chính đáng. “Thơ không vần” vẫn đòi phải có đời sống của nó. Giống như Hữu Loan, Trần Mai Ninh, Trần Huyền Trân…, Trần Dần tìm đến thơ bậc thang kiểu Mayakovski nhưng với nhịp và ngôn ngữ thuần Việt. Khi Tố Hữu rất thành công với “Việt Bắc” như một bài lục bát dài, Trần Dần viết hùng ca “Đi! Đây Việt Bắc”. Một hùng ca mà ông gọi là “hùng - ca - lụa” giống như kiểu gọi “tranh lụa” được vẽ nhiều lần, nhàu nát hoặc thấm nước, màu vẫn khó phai.

Trong khi viết hùng ca này, Trần Dần có in bài thơ dài “Nhất định thắng” có mấy câu thơ trên trong tập san Giai phẩm số xuân 1957 do Nguyễn Hữu Đang làm chủ nhiệm và Hoàng Cầm làm chủ biên. Bài thơ đã làm cho những người lãnh đạo văn nghệ không vui. Nhưng sau đó, do là văn nghệ sĩ quân đội mà cứ đòi được tự do đi lại chứ không muốn tuân thủ kỷ luật ở doanh trại như mọi người lính, lại thêm chuyện kiểm điểm văn nghệ ở Thái Hà Ấp, nhất là khi bài Hoàng Cầm viết về Trần Dần mang tên “Con người Trần Dần” in trên báo Nhân Văn số 6 - số cuối cùng trước khi đình bản, thì Trần Dần cùng với Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán đã bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam và sống như người dân thường ở ngoài biên chế. Nhưng dù phải sống trong một thực tế như vậy, Trần Dần vẫn lặng lẽ sáng tạo theo đúng những gì mình đã nghĩ. Tác phẩm cuối cùng mà Trần Dần in chung cùng Hoàng Cầm, Văn Cao, Lê Đạt đã khép lại một thời kỳ sáng tạo. Ở những sáng tạo thời kỳ sau của ông có các trường ca “Đi! Đây Việt Bắc!”, “Cổng tỉnh”, “Mùa sạch”, “Những ngã tư và những cột điện”. Đặc biệt là những bài thơ mi-ni ghi trong các “Sổ bụi” như: “Có những chân trời không có người bay/ Có những người bay không có chân trời”, hay “Mưa không cần phiên dịch”… Tất cả những tác phẩm này, sau khi ông được phục hồi hội tịch đã được ấn hành trong đó có “Cổng tỉnh” (thơ tiểu thuyết) xuất bản năm 1994 đã được trao giải thưởng Hội Nhà văn năm 1995.

Từ khi được gặp ông và được ông quý mến tôi hay ngồi uống rượu với ông khi thì ở quán Nguyễn Thượng Hiền, khi thì ở ngã tư Khâm Thiên. Và nhất là được ông cho đọc những bản thảo và được tặng những cuốn sách của ông vừa ấn hành. Tôi hay đùa ông: “Hóa ra các bác đều là tay tổ mác-xít cả. Có khi vì thế cho nên các bác cứng rắn, không chịu lùi nên mới xảy ra chuyện…”. Trần Dần cười nhếch mép. Cái miệng méo càng cười nhìn càng đau đớn. Bệnh tật cũng là do những năm tháng lao động sáng tạo trong chật vật mà sinh ra. Hồi ấy, sau sự việc “Nhân văn Giai phẩm” xảy ra, Trần Dần âm thầm lui về cái góc của mình. Những năm tháng nhọc nhằn giữa Hà Nội là chất liệu tốt và quý hiếm cho Trần Dần chắt chiu để mài luyện phong cách riêng cho thơ mình. Bao nhiêu trường ca, tiểu thuyết được hoàn thành ở góc Trần Dần này. Rồi cả cuộc đời chơi thơ mi-ni. Ông từng nói: “Những nốt mi-ni rồi sẽ qua đi. Như thơ mi-ni còn mãi”. Với một bản thể mạnh của “ông ba mươi”, cho dù bệnh tật làm cho bước chân Trần Dần chuyển động khó nhọc, thơ ông vẫn chuyển động liên tục qua các động từ. Chơi động từ là cá tính sáng tạo của thơ Trần Dần. Có lần báo Văn Nghệ in bài thơ dài của ông về chuyện đám cưới. Không một câu thơ nào là không có động từ. Và các động từ trong bao nhiêu câu thơ như thế đều không giống nhau. Cũng ở góc ngồi này, ông đã hoàn thành xuất sắc bản dịch “Ống sáo đốt sống lưng” của Mayakovski qua bản tiếng Pháp. Rồi dịch “Những người chân đất”, “Chú bé”, “Cậu tá”, “Chú nhóc đen”, “Giết người là nghề của tôi”… Cũng ở góc ngồi này, ông và bà Khuê đã phải bao ngày bàn bạc về sự “tồn tại hay là không tồn tại” của thai nhi mà giờ đây đã tạo ra họa sĩ Trần Trọng Vũ đầy tài năng với những nét vẽ như muốn rơi ra khỏi tranh, những nét vẽ như có gì nối tiếp và phát triển từ tranh mi-ni Trần Dần. Cũng ở góc ngồi này, cũng ở góc ngồi này… tuổi tác Trần Dần đã trôi qua.

Một lần ngồi uống với ông ở Ngã tư Khâm Thiên, sau giải thưởng Hội Nhà văn 1995 cho cuốn “Cổng tỉnh” tôi trở lại với “Nhất định thắng”. Tôi nói: “Đọc xong toàn bộ bài thơ, em có cảm tưởng bác nhắc đi nhắc lại cái câu thơ ấy bốn lần trong đoạn hai như muốn chỉ ra đích thực những khó khăn mà cách mạng phải vượt qua. Nếu đọc bài thơ này như nghe một bản nhạc dùng hình thức xô-nát, thì đây là chủ đề tương phản với chủ đề chính và nhờ vậy, làm rõ chủ đề chính hơn, khiến tác phẩm có sức thuyết phục hơn”. Trần Dần lặng im. Một tiếng còi tàu rít qua đầu Khâm Thiên, tôi lại nói: “Nếu người ta nhắc thêm cả câu đầu Những ngày ấy bao nhiêu thương xót thì có lẽ đoạn thơ được nhìn khác hơn. Nó có giới hạn của vấn đề hơn. Nhưng có khi đó cũng chỉ là nêu ra thế”. Trần Dần cạn hết một chén bia. Ông không uống bia bằng cốc vại mà bằng chén. Nhớ hôm nhận giải thưởng ở Hội Nhà văn, cậu con trai phải cõng ông lên gác. Còn lúc này ngồi cùng tôi, thấy ông đã yếu nhiều, nói càng khó khăn. Chỉ có đôi mắt vẫn sáng rực như mắt hổi là nói mọi điều. Nhưng cuối cuộc, dù khó khăn mấy, tôi vẫn nghe ông nói rất chậm: “Cuối cùng, từ “Nhất định thắng”, Trần Dần đã thắng được Trần Dần. Đó là sự đổi mới, sự cách tân của thơ”. Ông đã đúng và mãi mãi đúng.

Sau lần ngồi với ông, không ngờ là lần cuối cùng, tôi vào Sài Gòn công tác và được tin ông đã tạ thế ngày 17.1.1996. Từ đó đến nay đã 20 năm. Nhiều tác phẩm của ông đã được ấn hành. Bề thế nhất là tập “Trần Dần - Thơ” do Nhà xuất bản Đà Nẵng liên kết cùng công ty Nhã Nam xuất bản năm 2008, sau khi ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học và Nghệ thuật năm 2007. Năm 2008 cũng là năm Hội Nhà văn Hà Nội truy tặng ông giải “Thành tựu trọn đời”. Năm 2009, tập “Trần Dần - Thơ” được trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô.

Viết bài nhớ ông sau 20 năm xa, mà cảm thấy sau lưng, Tết âm lịch đang tới gần. Lại nhớ những câu thơ độc đáo của ông về Tết trong hùng ca “Đi! Đây Việt Bắc!”: “Tết/ ơ thế, thêm một Tết/ Tôi quẳng nó/ vu vơ/ vào một xó lòng/ Nơi đó/ là kho đồng nát/ Một đống Tết xa nhà/ đã gỉ han lên…”.

Nhưng đấy là những Tết xa nhà đi chiến đấu thời thanh xuân. 20 Tết qua, ông cũng xa nhà. Nhưng không ngày giỗ nào là anh em, bè bạn không tụ quần bên bàn thờ ông. Và rồi từng Tết qua, Tết qua. Lại có những người theo ông về cõi bên kia như Hữu Mai, như Vũ Hoàng Địch… Càng thêm Tết xa nhà hôm nay, tên ông càng sáng lên cùng ký ức.

 NGUYỄN THỤY KHA
Nguồn: Lao Động 2016


NHÀ THƠ CỦA THỜI HOA ĐỎ: THANH TÙNG

Hồi ấy, anh là thợ gò trong xưởng cơ khí. Hải Phòng ngày ấy đã loáng thoáng những chiếc xe đạp mi-ni Nhật và đôi ba chiếc xe máy Súp-pe Cúp phóng lượn lờ trên đường phố. Những quán cà phê vỉa hè, người ta uống cà phê đá đặc quánh trong những chiếc cốc vại to tướng. Mấy hàng bánh đa cua ăn cùng rau ghém và bánh mỳ đũa dài, nhỏ như chiếc đũa cả. Nhưng vị thế nhà thơ ngày đó rất cao sang.
Nhà thơ Thanh Tùng

Tôi hình dung trong dòng người thợ tan tầm, áo vắt vai, cởi trần, ngực nhễ nhại mồ hôi, có nhà thơ Thanh Tùng đi trong dòng người đó. Những bước đi chắc khỏe, vừa đi anh vừa nhẩm đọc những câu thơ đắm say :

Một năm lá chưa úa
Một năm nắng chưa già
Gió vẫn đầy ngõ hẹp
Sao ta còn lạ ta...

Nhà thơ cuốc bộ từ xưởng máy của mình tới văn phòng một cơ quan đón vợ. Chị Thanh Nhàn ngày đó là cô gái đẹp kiêu sa của đất Cảng. Dù đời sống nghèo khó, họ cuốc bộ đi làm, nhưng tâm hồn họ thật giàu có và tôi thấy cái làm cho họ vững tin và tự hào, đó là thơ. Nàng thơ vốn mong manh và đỏng đảnh, có khi còn yếu đuối và phù phiếm, ấy vậy lại là tín hiệu để họ đến với nhau và nối chặt hai trái tim vừa nồng nhiệt, vừa tổn thương lại gần nhau.

"Anh đi qua những tháng ngày nham nhở"... Bạn bè văn thơ Hải Phòng vẫn thường đọc câu thơ về tình yêu của họ. Mối tình của họ chỉ có thơ mới lý giải nổi. Đó là cái nhìn sét đánh phút ban đầu gặp gỡ. Đó là những vần thơ cuồn cuộn và hầm hập anh đọc cho chị nghe trước đám đông bạn bè. Đó là những buổi chạy bộ hơn mười cây số từ Hải Phòng xuống Kiến An để anh chỉ cần được nom thấy chị, cầm tay chị tại nơi chị làm việc, rồi lại chạy gằn về Hải Phòng.

Sắc đẹp của chị là niềm tự hào của anh. Chị là người phụ nữ trời phú cho sắc đẹp rực rỡ như bông hoa nở đẹp lâu tàn. Sắc đẹp và số phận ba đào chị đã đi qua và bỏ lại sự giàu sang nhung lụa, bỏ lại cả sự đắm say cuồng loạn phiêu liêu, bỏ lại cả những đứa con xinh đẹp như những thiên thần bé nhỏ, để quyết đi theo anh. Hỏi còn có gì hơn trái tim yêu mãnh liệt và nàng thơ mê muội đôi người?!

Chị Nhàn rất yêu thơ. Thuở nữ sinh, chị cũng có làm thơ, từ ngày về làm vợ nhà thơ Thanh Tùng, chị thôi không làm thơ nữa. Tài thơ của Thanh Tùng làm chị choáng váng, chị nguyện làm người nội trợ chăm sóc, nuôi con và nuôi cánh chim thơ mộng mơ của chồng cất cánh bay xa. Những năm chiến tranh phá hoại, đấy là căn nhà hạnh phúc và đầy ắp cảm xúc tình yêu, mặc dù họ rất nghèo. Tình yêu của họ đã làm bao kẻ giàu sang của phố Cảng phải ngưỡng mộ. Bạn bè văn thơ ở Hải Phòng lấy căn phòng Thanh Tùng làm địa điểm gặp gỡ. Anh em viết lách từ Hà Nội xuống, từ Quảng Ninh về vẫn lấy nơi đó làm chốn đi về. Những vần thơ đắm say được đọc giãi bày từ đó. Những trang văn thấm đẫm mùi dầu mỡ, và cũng đầy mơ mộng trùng khơi được đọc ở đây.

Thanh Tùng trở thành cây bút xuất sắc của Hải Phòng dạo đó. Nói về văn học công nhân là phải nói tới Thanh Tùng. Ngoài mảng thơ đề tài công nghiệp, anh có những bài thơ tình yêu đến bỏng rát và si mê.

Cũng như nhiều nhà thơ các nước khác, Thủ đô vẫn là nơi cuốn hút họ. Thanh Tùng cũng thật gắn bó với Hà Nội. Sau phút lao động hết mình ở xưởng cơ khí, sau phút xếp hàng xách nước về cho vợ con tắm giặt, sau khi xem thùng gạo trong bếp vẫn còn lưng lửng, anh lại nhảy tàu lên Hà Nội. Những trụ sở các tờ báo văn chương, những nhà xuất bản, những bạn bè văn thơ..., và nhất là thiên nhiên Hà Nội làm anh ngất ngây. Những giọt sương ướt đầm bên hồ, những làn hơi thu mong manh và bảng lảng. Những vòm cây xanh đặc đã mê hoặc anh khi nào không hay.

Một dạo lên Hà Nội, anh thường hay lui tới nhà tôi. Tôi còn nhớ đợt anh chuẩn bị đi dự Ngày Hội thơ thế giới tổ chức ở hòn đảo thơ mộng của châu Âu. Đi cùng anh đợt đó có nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm có gia đình ở Hà Nội, chuẩn bị khá chu đáo đồ đạc tư trang trước khi đi. Thanh Tùng chỉ xách cái túi xách nhỏ có chứa bộ quần áo nát nhầu. Ái ngại trước sự sơ sài đó, cả nhà tôi xúm vào chuẩn bị cho anh. Con gái tôi lấy bàn là là phẳng phiu quần áo cho anh. Nhà tôi lên gác lấy cái va ly nhỏ để anh xách đi cho tiện.

Thanh Tùng vụng về, ngượng nghịu cười, nói : "Tôi tưởng đi liên hoan thơ thì chỉ cần chuẩn bị thơ thôi chứ?". Đương nhiên, thơ anh đã chuẩn bị rồi. Mấy bài thơ anh đã nhờ người bố của anh dịch ra tiếng Pháp, rồi mấy đêm, anh cứ đọc đi đọc lại. Tôi chả hiểu anh đọc có sai ngữ pháp không, nhưng nghe giọng anh đọc, thấy say đắm và cuốn hút lắm. Sau khi dự Liên hoan Thơ quốc tế trở về, anh khoe tôi là cả hội trường thơ bắt anh đọc đi đọc lại tới ba lần. "Tôi đã đọc thơ bằng tiếng Việt, rồi đọc bằng tiếng Pháp. Họ nghe sướng lắm!".

Tôi hỏi: "Đọc thơ bằng tiếng Việt thì họ hiểu sao được? Còn đọc thơ bằng tiếng Pháp, anh có đọc chuẩn không?". Anh hùng hồn trả lời: "Tôi đọc thơ bằng gan ruột tôi. Tôi diễn đạt thơ bằng âm điệu của tôi, bằng ngôn ngữ  mẹ đẻ của tôi. Tôi dùng sự đắm say để lôi cuốn người nghe tới bờ bến mê man của thơ Việt!". Có thể anh nói hơi quá, nhưng tôi tin là tình yêu đắm say và trong trẻo của anh với thơ. Tình yêu ấy đã dẫn dắt và mở đường giao lưu cho anh đến với mọi người.

Dạo đó, anh lãng đãng yêu một nhà thơ nữ trẻ Hà Nội. Có lẽ lòng yêu thơ đã dẫn đường cho tình yêu mơ mộng và viển vông. Bữa ấy, đã nửa đêm, sau khi đi gặp gỡ bạn bè thơ, anh về gõ cửa nhà tôi. Rồi anh rón rén tới điện thoại bàn gọi cho… "nàng thơ". Dáng anh to lớn, vạm vỡ, ấy thế mà khi cầm điện thoại lên gọi, tôi thấy có cái gì rụt rè, non tơ rất đáng yêu. Anh nói chuyện rất dài với nhà thơ nữ trẻ ấy không cần giấu giếm tôi. Tôi tế nhị lảng đi chỗ khác để anh tự nhiên. Rồi anh đọc thơ, giọng thơ quặn thắt trước ống máy điện thoại :

Bây giờ anh đi giật lùi
Anh chỉ còn một nửa
Một nửa ở phía không em...

Nhìn khuôn mặt anh trào lên cảm xúc, tôi hình dung khuôn mặt người con gái ở đầu dây kia cũng ngẩn ngơ xúc động.

Nhưng có lẽ đó chỉ là tình yêu đơn phương mà thôi. Người con gái kia còn quá trẻ. Có thể nói cô cũng rất phục thơ anh, nhưng yêu anh làm sao được, khi cuộc sống hiện tại còn có quá nhiều điều hấp dẫn. Anh kể lại, có lần tới nhà tìm thăm, cô đi vắng. Anh ngồi chờ. Mẹ cô là ca sỹ nổi tiếng tiếp anh. Khi phát hiện ra anh muốn gặp con gái mình, chị đã thốt lên câu nói chứa chất nét buồn đáng yêu: "Em ngỡ anh đến thăm em, chứ đâu ngờ anh chờ con em!".

Tình yêu có ma quỷ cũng chẳng giải thích nổi. Chỉ nhờ thơ, và có lẽ chỉ có thơ là hiểu được trái tim của họ. Quả thật, thơ đã bắc cây cầu chênh vênh cho trái tim đến với trái tim.

Mối tình ấy rồi cũng thoáng qua, tuy có để lại vết xước nho nhỏ buồn thương. Ấy rồi số phận xô đẩy anh vào đất phương Nam. Anh chia tay Hải Phòng, mảnh đất mà anh tưởng không thể chia xa được. Nhưng sự việc đó xảy ra sau khi anh về lo tang cho người vợ xinh đẹp và bạc phận. Chị Nhàn mắc chứng đau tim nặng và mất tại bờ biển Quảng Ninh, khi anh đang dự Đại hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội. Trên con đường lo tang Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng, trái tim Thanh Tùng ròng ròng nhỏ máu. Nhà thơ - thợ gò to lớn, vạm vỡ, từng đánh gục bao kẻ cướp trên đường đi áp tải hàng, ấy mà bỗng yếu mềm, rên rỉ.

Anh nấc lên những câu thơ:

Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Ta chưa đi hết những ngày đắm say...

(Thời hoa đỏ)

Sau những ngày lo tang cho người vợ đẹp và xấu số, Thanh Tùng buồn khôn tả. Tâm hồn anh vỡ nát, công việc làm ăn không ổn định, đời sống cơm áo hàng ngày của ba bố con anh trở thành xộc xệch. Anh càng thêm nhớ người vợ vội bỏ anh đi. Anh thèm khát một bàn tay phụ nữ chăm sóc đời sống vụng về của anh.

Một buổi tối buồn chán và cô đơn, anh lang thang dọc bờ sông Tam Bạc. Anh đi như kẻ vô định. Những ngọn đèn trong các căn nhà dọc phố đã dần tắt khi nào anh không hay. Quá nửa đêm, anh mỏi chân và ngồi thụp xuống bên quán cóc ven sông. Gọi là quán, nhưng làm gì có quán. Đó là ngọn đèn dầu lay lắt, che đậy ánh sáng bằng vỏ ống bơ sữa bò. Mấy cái ghế đóng tạm bằng gỗ bao bì. Một cái mẹt nho nhỏ bầy vài vỏ bao thuốc lá rẻ tiền, vài chai rượu cóc cáy.

Thanh Tùng ngồi như kẻ vô hồn. Cô gái bán nước khuôn mặt sương gió như cũng chẳng hề quan tâm đến sự có mặt của anh. Anh gọi chén rượu quê rẻ tiền. Anh uống rượu và hút thuốc lá vặt. Một sự trống rỗng khủng khiếp trong con người anh. Mấy tay lang chạ bờ bụi từ đâu táp xuống ngồi vây quanh mẹt thuốc. Họ nháo nhào lấy thuốc lá hút, tuỳ tiện rót rượu và nốc rượu. Họ cười nói tục tĩu.

Nhoáng cái, bao thuốc đã hết, vỏ bao bóp nát. Họ cầm chai rượu còn lại, đứng dậy vừa đi vừa nốc rượu, không thèm thanh toán tiền cho cô bán nước. Cô bán nước tiếc của chạy theo đòi tiền. Cuộc ẩu đả bắt đầu. Bọn con trai vừa la ó, vừa sàm sỡ cô gái. Xem ra cô gái cũng chẳng vừa. Nhưng bọn bờ bụi kia đông, áp đảo. Bọn chúng quây tròn cô gái lại, tha hồ cấu véo sờ soạng. Cô gái vừa khóc, vừa chửi bới. Bọn bờ bụi như càng bị chọc tức, liền xé toang vạt áo cô gái, rồi cười the thé. Cô gái bán nước càng vẫy vùng, bọn du đãng kia càng bạo tay. Tiếng chửi bới, la hét nghe càng rợn giữa phố khuya không bóng người.

Nhà thơ Thanh Tùng ngồi hút thuốc quan sát sự việc từ phút đầu, đến độ ấy không còn yên được. Anh vùng dậy và chạy bổ đến đám người đang giằng co hỗn độn. Anh hét: "Bỏ cô gái ra, bọn bay cút !". Bọn du đãng quay ra đá đấm túi bụi anh. Không kiềm chế được, nhà thơ dồn hết sức mạnh của mình tương cho cả bọn du đãng trận đòn tơi bời. Anh không ngờ mình lại có sức khoẻ phi thường như vậy. Mấy thằng bị dính đòn bỏ chạy toán loạn. Anh quay lại kéo cô gái áo quần rách tơi tả về nhà mình. Vừa đi đường, cô gái vừa lễ vái anh như vái thánh sống. Anh nhường chiếc giường của anh cho cô gái ngủ, anh trải chiếu xuống bếp nằm.

Cuộc tình bất ngờ của nhà thơ với cô gái bán nước bán rượu đêm ven sông Tam Bạc diễn ra vài tháng. Cô gái yêu anh với lòng đội ơn, nhà thơ thì yêu bởi thương cảm một kiếp người. Anh đang thèm khát bàn tay người phụ nữ. Mối tình ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Cô gái bỏ lại nhà thơ lãng mạn để trở về kiếp sống sương gió, giang hồ của mình.

Thêm một lần, nhà thơ thấm thía nỗi buồn nhân thế. Số phận anh thêm một lần xê dịch mà không định trước. Mảnh đất phương Nam chan hoà nắng gió đã mời gọi anh, đã thêm một lần cho cảm xúc thơ anh ào ạt. Vào Sài Gòn sinh sống, anh khao khát đi các ngả đường sông nước miền Tây, những con đường đất đỏ miềm Đông. Anh chầm bập viết trường ca "Đất Phương Nam".

Con gái tôi sau chuyến đi Sài Gòn ra, kể: "Bác Thanh Tùng nhiệt tình quá, bác cứ bắt con lấy xe đạp của bác đi công việc, mặc dù con có người nhà đến đưa bằng xe máy". Trọng tấm lòng của nhà thơ, cháu đã lấy xe đạp của bác đạp đi công việc giữa đường phố Sài Gòn rộng và dài. Khốn nỗi, xe đạp nhà thơ quá cũ, xích chùng, líp mòn, đạp mấy đoạn lại tuột xích phải dừng lại lắp lại, làm tay con tôi đầy dầu mỡ xe. Tuy nhem nhuốc, nhưng con có niềm vui khôn tả.

Lại nói về chiếc xe đạp, đó chính là chiếc xe anh mang từ Hải Phòng vào. Có lẽ đó là đồ đáng giá nhất của cuộc di quê Nam tiến của anh. Ngày ở Hải Phòng, mỗi lần lên Hà Nội, anh thường cho xe đạp lên tàu hoả để chủ động có phương tiện rong ruổi ba mươi sáu phố phường. Thời nhà thơ Đào Cảng còn sống, tôi cũng thấy hay mang xe đạp lên tàu như thế. Anh em gặp nhau, thường nói vui, đó là phương tiện hành trình thơ của một thời.

Việc hành trình vào Nam của Thanh Tùng là do vợ chồng nhà thơ Hoàng Hưng gợi mở. Nhưng việc trụ để sống được, có được mái ấm gia đình nho nhỏ trong Sài Gòn với Thanh Tùng lại là nhờ thơ. Thơ đã cứu cánh anh, trong những lúc bàn thua chênh vênh nhất.

Trước khi nhà thơ Thanh Tùng tục huyền với chị Thanh, gia đình chị Thanh hồ nghi và phản đối (*). Hồi đó, anh không nhà cửa, không chức tước, không nghề nghiệp, không tiền bạc. Tài sản duy nhất của anh khi ấy là trái tim thi sỹ. Vậy anh là nhà thơ thì tác phẩm của anh đâu, công chúng có công nhận thơ của anh không? Thanh Tùng muốn đọc cả mấy tập thơ của mình cho gia đình người vợ tương lai nghe. Nhưng mọi người bận rộn, đâu có rảnh rỗi ngồi nghe. Vả lại, tâm trí rối bời của anh, làm sao anh đọc nổi.

Thanh Tùng nhờ bạn bè trình bày giúp, song không tác dụng bằng cuộc thi thơ của Báo Người Hà Nội năm đó. Khi đài báo đưa tin nhà thơ Thanh Tùng được giải chính thức của cuộc thi thơ này, cuộc hôn nhân của anh mới được công nhận. Thơ ca nó là gì, đem lại cho con người cái gì? Danh hão ư, hay là thay bó hoa để chàng trai tán gái? Hay là cái vé để có người tiến thân quyền chức? Hay chỉ là trò chơi vô tích sự?...

Với  Thanh Tùng, thì rõ ràng thơ đã cứu đời anh, đã đem lại niềm vui, nỗi buồn đến với anh. Có những con người, thơ ca chỉ là son phấn trang điểm, đắp điếm lên cái vỏ con người. Nhưng với Thanh Tùng, thì thơ là tế bào con người  anh. Có những người bỏ thơ ra ngoài cuộc đời họ, họ có thể đỡ vớ vẩn, đỡ dở hơi, và có khi lại sống khá hơn, giàu có hơn. Với Thanh Tùng, tôi như thấy nếu bỏ thơ đi, anh không biết bám víu vào đâu và làm sao anh sống nổi?!

VŨ TỪ TRANG
Nguồn: VNCA




NHÀ VĂN TRẦN ĐỨC TIẾN: NGƯỜI CHƯNG CẤT “TRUYỆN NGẮN NGUYÊN CHẤT”

Truyện ngắn của Trần Đức Tiến là thứ truyện nguyên chất sát gần với cuộc sống, vừa lột tả sâu xa con người. Nhiều tác phẩm văn xuôi có những trang đẹp như thơ, những thân phận gai góc … có thể chuyển thể, truyện ngắn của Trần Đức Tiến khó chuyển thể được như vậy. Nhưng không phải vì thế mà người đọc không nhớ lâu.
Nhà thơ Phan Hoàng và nhà văn Trần Đức Tiến

Sau tập truyện ngắn “Tuyệt đối yên tĩnh” nhà văn Trần Đức Tiến tiếp tục ra mắt bạn đọc “Lỏng và tuột” (NXB Hội Nhà văn 2010) với 15 truyện ngắn đặc sắc như thứ “hàng hiếm” trong đời sống văn học hiện nay.

Nếu như phần lớn tác phẩm văn xuôi là truyện ngắn và tiểu thuyết tác giả thường xây dựng hai tuyến nhân vật tốt, xấu, tốt đến cả đời và xấu đến tận cùng, hoặc bất ngờ có sự hoán đổi. Đến mức tạo thành một xu hướng trong người đọc: căm ghét cái xấu, muốn bài trừ, lên án cái xấu, bảo vệ, nhân rộng cái tốt. Có không ít nhân vật điển hình như thế được nhắc đến và “tồn tại” trong cuộc sống. Khi khép lại trang sách độc giả thường tỏ ra nghi ngờ tự đặt câu hỏi, có thật có những con người tốt hay ác đến mức thế không? Có khi còn cất công đi tìm “nguyên mẫu” để chứng minh cho sự nghi ngờ của bản thân. Thế nhưng thế giới nhân vật của Trần Đức Tiến thì khác, không có sự hoàn hảo, càng không có những nhân vật “điển hình” trong những “hoàn cảnh điển hình”. Con người luôn luôn tiệm cận với cái tốt - xấu. Ai cũng có trong mình những góc khuất tâm hồn mà không phải lúc nào cũng được phơi bày.… để rồi khi đọc xong là những thảng thốt, chột dạ với chính mình: Không biết có phải bản thân mình cũng từng như thế (ở lúc này lúc khác, chỗ này chỗ kia) không?

Trần Đức Tiến sử dụng không khí truyện nửa hư nửa thực. Tác giả đồng hiện cả hiện tại, quá khứ và sự tưởng tượng với những mơ ước, thèm khát ở tương lai. Nhân vật trong thế giới truyện của Trần Đức Tiến tạo ra luôn khát khao thay đổi bế tắc của hiện thực. Vì thế mọi hành động, suy nghĩ trở thành cuộc phiêu lưu của tâm tưởng. Con người khuất lấp bên trong mỗi chúng ta dường như đối lập với con người hiện hữu. Những ý nghĩ trần trụi của con người dường như chưa được văn học khai thác, hoặc khai thác một cách dè dặt thì Trần Đức Tiến lại không ngần ngại phơi bày. “Những người đàn bà ngẫu nhiên chập chờn hiện ra trong đầu ông. Từ khi nào chẳng rõ, điều đó đã trở thành thói quen - một thói quen không cần rào đón - K. lần lượt ân áo với họ”. Là người đàn bà chỉ chạm mặt trong cuộc ngã giá đất đã nghĩ đến chuyện ngủ với cô ta: “hắn còn biết chắc là sẽ ngủ vào buổi chiều. Phố vắng, lặng tiếng xe tiếng người. Ở dưới gầm giường, chỉ có tiếng rúc thanh bình của lũ chuột”. Một người tình trẻ đẹp quen trên đường đi bộ chỉ mình hắn nhìn thấy và yêu nàng, còn tất cả cho rằng đó là ma. Là con người vô hình – luôn đối lập và tồn tại trong chính con người với ám ảnh chạy trốn nỗi cô đơn nhưng lại đồng loã nỗi thèm khát đàn bà.

Một biên tập viên đọc thơ của kẻ bất tài (bất tài + nhiệt tình = đại phá hoại) “ngã quay cu đơ ra sàn, mắt trợn ngược, cổ họng ngắc ngắc như gà ăn phải lưỡi câu”. Là không biết bao nhiêu cuộc làm tình trong tưởng tượng với những tấm ảnh đàn bà đủ trang phục và tư thế: “những tấm ảnh giúp ông thoát khỏi cái buồn nhạt của đời sống tỉnh lẻ, thoát khỏi bà vợ beo béo thâm thấp, mồ hôi lúc nào cũng rịn ra ướt đẫm hai bên nách…”.

Con người khuất lấp bên trong mỗi chúng ta là thứ khách quan không kiếm soát được. Vì thế đưa vào tác phẩm cái trần trụi mà chỉ mình nhân vật biết và vĩnh viễn trở thành bí mật là sự dũng cảm của tác giả không phải ngòi bút nào cũng dám đề cập đến. Có lẽ đó cũng là một dạng “đấu tranh sinh tồn” của con người thực tại được nhà văn nhân vật hoá trước cuộc sống đầy bon chen, bất ổn, nhợt nhạt. Họ đã đi qua tuổi trẻ, nếm trải mọi vui buồn đắng cay thất bại, muốn thay đổi hiện tại nhưng bất lực như tên của tập truyện “Lỏng và tuột”.

Khai thác khía cạnh này nhà văn Trần Đức Tiến đặt nhân vật của mình trong thế giới hư - thực để tạo ra những “giới hạn”. Giới hạn của những cuộc phiêu lưu dù có ngấm ngầm, có làm thay đổi cuộc sống của nhân vật trong chốc lát. Thậm chí, chỉ ở trong thế giới ảo ấy con người mới tìm lại, tìm thấy những điều tốt đẹp mà thế giới thật đã lấy mất. Họ không thể trôi vĩnh viễn vào thế giới ảo, dù thực tại không bao giờ như mong muốn. Nếu trôi vĩnh viễn vào thế giới ảo đó chỉ có thể là cái chết hoặc trở thành kẻ lập dị biến chất. Có thể xem cái thế giới ấy như một khúc tạm, vì cuối cùng họ vẫn tỉnh táo nhận ra để trở về cái guồng quay thường nhật, không hối hận, nuối tiếc, không phán xét và sống như một con người bình thường.

Truyện ngắn của Trần Đức Tiến là thứ truyện nguyên chất sát gần với cuộc sống, vừa lột tả sâu xa con người. Nhiều tác phẩm văn xuôi có những trang đẹp như thơ, những thân phận gai góc … có thể chuyển thể, truyện ngắn của Trần Đức Tiến khó chuyển thể được như vậy. Nhưng không phải vì thế mà người đọc không nhớ lâu. Chính những thứ tưởng chừng chẳng có gì đặc biệt ấy, từ ngôn ngữ, đề tài, không gian, nhân vật… như thể bất kể ở chỗ nào, xó xỉnh nào được tác giả để mắt tới là nhặt được ngay một truyện ngắn. Không có tên, không có tuổi, không rõ khuôn mặt, quê quán… . Đó sẽ là thứ nhân vật đồng dạng của tâm hồn tác giả cũng như mỗi chúng ta.

“Lỏng và tuột”, cũng như nhiều tác phẩm văn học đã và đang hoàn thành, có lẽ Trần Đức Tiến muốn đưa ra một quan niệm khác về văn học. Có thể không mới trong quan niệm văn chương của nhiều người đã và đang cầm bút nhưng hình như ngày hôm nay nó bị lãng quên, bỏ sót.

LỤC HẠ
Nguồn: Văn Nghệ



Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

TÀI THÔI MIÊN CỦA NHÀ VĂN TRINH THÁM PHẠM CAO CỦNG

Là nhà văn tiền chiến được đánh giá có tác phẩm trinh thám nhỉnh hơn Thế Lữ, Bùi Huy Phồn, nhưng ít người biết Phạm Cao Củng còn công tác cho công an VNDCCH và có tài thôi miên.

Trong cuốn Hồi ký Phạm Cao Củng xuất bản gần đây, bên cạnh kể chuyện đời, chuyện tình, chuyện viết văn, viết báo, nhà văn dành một phần khá lớn để kể về cơ duyên đến với môn thôi miên của mình.
Nhà văn Phạm Cao Củng

Sách Hồi ký Phạm Cao Củng tiết lộ chuyện đời một nhà văn trinh thám kỳ tài. Cha đẻ của thám tử Kỳ Phát - Phạm Cao Củng (1913-2012) sinh tại Nam Định, nhưng quê gốc ở Hải Dương. Đang học trường Kỹ nghệ thực hành tại Hải Phòng, ông bỏ ra làm báo, viết truyện trinh thám, kiếm hiệp, mạo hiểm kỳ tình... cho nhà xuất bản Mai Lĩnh. Ông là người đã sinh ra thám tử Kỳ Phát, nhân vật có phần nổi tiếng hơn chàng thám tử kiêm phóng viên Lê Phong của Thế Lữ.

Trong cuốn Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: "Nhân vật và khung cảnh do ông sáng tạo đều có tính chất Việt Nam, hợp với trình độ người Việt Nam ta hiện thời, không như mấy nhà tiểu thuyết trinh thám khác đi nhặt những mẩu chuyện ly kỳ của Tây phương rồi cố gò ép vào những khung cảnh lai Việt, lai Pháp...".

Trong hồi ký của mình, Phạm Cao Củng kể lại quá trình ông làm từ báo Tin Mới, Loa, Phong Hóa, Ngày nay, Học sinh, Công tội, Ngôn luận... và cả đoạn đời viết văn khi ông di cư sang Mỹ sau năm 1975.

Qua cuốn sách, độc giả mới biết rằng sau Cách mạng tháng Tám, Sở Công an Bắc Việt đã mời Phạm Cao Củng vào làm việc nhờ danh tiếng về... viết truyện trinh thám cũng như có khả năng thôi miên. Ông đã phục vụ trong ngành công an tư pháp của chính quyền non trẻ trong vai trò nhân viên hỏi cung các tội phạm hình sự, cũng như trực tiếp tham gia phá một số vụ án. Ông cũng là người đứng lớp huấn luyện trinh sát đầu tiên mang tên Ký Con, ở môn hỏi cung can phạm.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông tham gia hoạt động tình báo, phản gián trong "những công tác chấn động nội thành Hà Nội", như điều điệp viên đưa mệnh lệnh vào cho cán bộ nằm vùng thi hành, hoặc vận chuyển bom, mìn nổ chậm.

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Phạm Cao Củng sơ tán về làm quản lý đồn điền Chi Nê. Nhưng do thiếu kinh nghiệm, ông đã để đồng bào dân tộc vào canh tác trong đồn điền rồi bị vu cho là cố tình "phá hoại đồn điền", bị giữ tại trại cải huấn của công an tỉnh Hà Nam suốt 6 tháng, may nhờ Tổng Giám đốc công an Việt Nam Lê Giản đi công tác qua biết chuyện, can thiệp thả ra.

Trong phần hồi ký về thời gian ở trại cải huấn, Phạm Cao Củng kể những câu chuyện về khả năng thôi miên của ông rất ly kỳ, hấp dẫn.

Theo Phạm Cao Củng, ông luyện được môn thôi miên hoàn toàn qua tự học.

Ông kể, hè năm 1931, sau khi xem một người em họ biểu diễn, ông đã thích học môn này. Được biết người em họ có cuốn L'hypnotisme à la portée de tous (Thuật thôi miên nằm trong tầm tay của tất cả mọi người), ông đã học theo. Nhờ sách viết giản dị, ông đã dần dần tập được về nhãn lực, nhân điện, dẫn dụ.

Chỉ sau một tuần, Phạm Cao Củng đã có thể thôi miên được người đầy tớ trai. Sau đó, dù bị bố mẹ cấm đoán, ông vẫn mua thêm sách để luyện thêm.

Có lần, cháu ông Mai Lĩnh là Đỗ Tất Lợi (sau là dược sĩ nổi tiếng) thôi miên cho bạn rồi không đánh thức thọ cảm (thuật ngữ chỉ người được đưa ra làm thí nghiệm) được, phải đi tìm ông lên giải cứu cho khỏi bị... "khê đồng".

Khi bị giữ trong trại cải huấn, trước mặt ông Quản đốc trại và ba công an viên phòng Căn cước, ông đã biểu diễn thôi miên anh dân quân đưa súng cho mình, khiến mọi người đều hết sức kinh ngạc. Nhờ đó, ông được viên Quản đốc tôn làm... sư phụ, cung phụng hết sức, để ông dạy thôi miên cho, và để biểu diễn trong ngày lễ Hai Bà Trưng.

Tuy biết viên Quản đốc là người xấu, Phạm Cao Củng vẫn truyền cho ông ta một số trò Huyền hoặc Giác quan đơn giản để biểu diễn trong dịp lễ, như bỏ viên gạch vào tay thọ cảm bảo rằng đó là cục than hồng, khiến thọ cảm hoảng hốt ném đi và xuýt xoa như người bị bỏng nặng; chỉ tay lên không trung bảo rằng có đàn ong bay tới, khiến thọ cảm ôm đầu bỏ chạy; làm cho người thọ cảm cứng như sắt, để gác đầu và chân lên hai mặt ghế cách xa nhau, rồi cho một người ngồi lên trên mà thân mình thọ cảm vẫn cứng đơ không nhúc nhích, khiến khán giả vỗ tay không ngớt.

Đến tiết mục quan trọng nhất, viên Quản đốc đã thôi miên thành công một quan chức xã, khiến ông này đang vui vẻ, tỉnh táo, chỉ cần vỗ tay ba tiếng thì ông ta bỗng ngủ say và giơ hai tay lên đầu nhảy lò cò trước sân khấu hai vòng, rồi tỉnh lại mà không biết chuyện gì vừa xảy ra.

Nhà văn tiết lộ: "Lúc mời viên quan chức xã lên sân khấu, tôi đã đặt một tay sau gáy ông ta mà kéo mạnh. Không ai biết được đây là thủ thuật của nhà thôi miên dùng nhân điện và nhãn lực giá ngự làm mê thọ cảm trong khoảnh khắc. Khi tôi dắt ông ta lại trước mặt viên Quản đốc thì ông ấy đã hoàn toàn chìm vào trong giấc ngủ nhân tạo, cặp mắt lờ đờ, toàn thân bủn rủn".

Theo ông, với phương pháp hậu dẫn dụ này, kẻ bất lương có thể sai khiến thọ cảm làm các việc xấu. Còn những người đã lên tới bậc cao học thôi miên thì đều biết tự chế, không bao giờ dám làm những việc xằng bậy.

Còn với người như viên Quản đốc, ông khẳng định "tôi đâu dám chỉ dẫn cho hắn học thành tài, để rồi nhờ quyền lực của thôi miên, hắn làm những việc tàn ác".

Năm 1954, Phạm Cao Củng vào miền Nam sinh sống. Năm 1975, ông đang thăm con ở Mỹ nên kẹt lại. Sau này, ông có một số lần về thăm quê hương. Là người sống vui vẻ, lạc quan, ông sống thọ đến 100 tuổi.

LÊ TIÊN LONG
Nguồn: Zing

NHỮNG NGẢ ĐƯỜNG TRONG THƠ CHIM TRẮNG

Dù là sáng tác trong giai đoạn nào, thơ Chim Trắng vẫn luôn luôn ấm áp một tình yêu đối với con người, đối với quê hương đất nước. Thơ anh chưa bao giờ cao giọng, càng không hề có chất ồn ào. Nhà thơ tự nhủ: “Ngày nào còn làm thơ, chắc tôi cũng chỉ nói về tình yêu ấy với giọng điệu ấy”.
Nhà thơ Chim Trắng

Tết năm nay, vào dịp Sài Gòn 300 tuổi, báo xuân Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã đăng lại bài thơ “Đêm xem bản đồ thành phố” của nhà thơ Chim Trắng. Bài thơ viết ở Tây Ninh năm 1972 - đã hơn một phần tư thế kỷ, vậy mà những câu thơ trăn trở với Sài Gòn như vẫn còn nóng hổi cảm xúc của một người đi kháng chiến, nói theo Lê Anh Xuân, đêm đêm chong mắt hướng về “cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ đó”. Nén chặt trong ba-lô cùng tất cả hành trang và kỷ niệm mang theo trên đường hành quân là tấm bản đồ thành phố mà mỗi lần chạm đến lại làm thức dậy những nghĩ suy, thương cảm về những cảnh đời và số phận con người. Những con đường li ti hiện ra trên màu giấy đã phai của tấm bản đồ cũ kỹ bỗng như cựa mình trong ký ức một người Sài Gòn đi xa:

Những đường chưa có tên trong bản đồ là những con đường hẻm nhỏ
Và những căn nhà không mang số
Cơn mưa ngập lụt cuộc đời
Bàn Cờ - Khánh Hội
Tiếng rao nào trong đêm đau nhức trái tim ta
Gánh hàng nào ngọn đèn dầu nhòe nước mắt
Tiếng còi xe lửa rơi trong đêm đen sương mờ
Và những chiếc xe bịt bùng chở những người yêu nước đi xa!

Với Chim Trắng, Sài Gòn là đời chung mà cũng là tình riêng. Đầu những năm 50, từ quê hương Bến Tre, anh lên thành phố ở trọ nơi một căn nhà gần chợ Bình Tiên, ngày ngày đi đến lớp học ở trường Cây Gõ. Năm năm sau, anh về Mỹ Tho học trường Nguyễn Đình Chiểu, bị bắt giam vì hoạt động yêu nước, lại trốn lên Sài Gòn dự thi và trúng tuyển vào trường Pétrus Ký. Bị theo dõi, anh phải thay họ đổi tên rồi chuyển sang học trường tư thục Văn Lang. Chính tại đây anh bị bắt lần thứ hai vào giữa năm 1960. Ra tù, Chim Trắng đành chia tay Sài Gòn để vào chiến khu. Chia tay Sài Gòn cũng là chia tay mối tình thời học trò: cuộc chia ly không ngờ kéo dài đến 15 năm. Cho nên trong bài thơ viết về Sài Gòn đó, tác giả đã không ngăn được nỗi niềm riêng trào lên trong những dòng thơ cuối:

Thôi hãy dành một chút ở nơi đây
Một vạch chì xanh rất ngắn
Bóng râm nào đã chứng kiến buổi chúng ta yêu nhau đầu đời
Một vạch chì xanh rất ngắn
Kéo dài trong lòng ta hàng phượng đỏ buổi chia tay

Như thế đó, con đường đã trở thành một hình tượng ám ảnh trong thơ Chim Trắng. Hình tượng con đường là nơi nối kết chủ đề ra đi và chủ đề trở về trong thơ anh. Không phải ngẫu nhiên mà tập thơ được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1981 của Chim Trắng mang tên “Những ngả đường”. Đó là những ngả đường quê hương, đồng thời là những ngả đường của kỷ niệm. Những ngả đường từ chiến khu dẫn về Sài Gòn. Và những ngả đường từ Sài Gòn đưa nhà thơ quay về với một miền quê ken dầy hố bom vẫn còn giàn trầu lương trước ngõ, tiếng cau rụng sau hè và những  bà má đêm đêm ngồi chờ các con bên một nồi cơm vừa chín. Cái vầng sáng Sài Gòn giục giã không thôi con đường đi tới trước và tiếng gà trong đêm Sài Gòn bền bỉ nhắc nhở những ngả đường đi về với cuộc chiến tranh ngày hôm qua.
Đi về và tìm lại. Tìm trong tâm tưởng những dấu vết ngỡ như đã mất hút trong dòng thời gian. Đó là những “dấu vết nhỏ nhoi” - như nhan đề một tập thơ khác của anh, nhưng nếu không có chúng thì không có cuộc đời, không có cả thơ ca.

Một chiều nào đó, một người đàn ông vừa đi qua chiến tranh đã trở về trên chuyến xe lam tìm lại tuổi 14 của mình. Nụ cười của người bạn nhỏ và chút hơi ấm thời niên thiếu còn sót lại như là dấu chỉ của tâm thức trên đường về:

Năm-mười-bốn tôi và em đấy
Vườn trưa xanh, nắng cứ đong đầy
Mái trường nghiêng chút hương hoa lý
Áo trắng em ngày mỗi chật vai

Mà có yêu đâu để nhớ đời
Họa là cánh bướm chạm bàn tay
Ôi chao! Hơi ấm nào đau điếng
Chia ly, còn sót lại nụ cười.

(“Chút lãng mạn sau ngày 30-4-1975”)

Theo dấu chỉ đó, người đàn ông đi tìm mà lòng đầy hồ nghi: liệu cuộc đời có còn cho mình một đặc ân nào nữa hay không? Người đọc cũng không biết cuối cùng thì những mất mát của nhân vật trữ tình đó có được đền bù? Chỉ biết rằng càng từng trải trong cuộc đời, nhân vật đó càng như e sợ cho những xao động của lòng mình. Dù vậy, trái tim không yên ổn của anh không dễ gì được vỗ về để tìm thấy sự bình thản.

Có những buổi chiều dạo chơi trên đường phố Sài Gòn, giữa đám đông tấp nập, Chim Trắng đã tưởng tượng về một cuộc gặp lại với một người đàn bà dịu dàng, hồi chống Mỹ là cô giao liên của Ban trí vận Sài Gòn mà anh làm quen trong thoáng chốc ở Hồng Ngự, ngày hòa bình đã lặng lẽ gửi đến tờ báo do anh phụ trách một bài thơ nhỏ. Tưởng tượng thôi, vì cuộc gặp lại ấy đã không bao giờ xảy ra. Không một tấm hình, không một lời nhắn. Chỉ có tiếng mái chèo trong đêm chiến tranh ở Hồng Ngự còn khuấy động mãi tâm hồn anh và đi vào thơ anh:

Bây giờ thực phải đâu mơ
Nên chi nước mắt trong thơ sáng bừng
Cảm ơn em đến vô cùng
Cho thơ tôi biết ngược dòng sông xưa

(“Với sông”)

Viết về quê hương Bến Tre, câu thơ Chim Trắng có tiếng vang âm của đất đai vĩnh cửu, hòa trong đó hồn thiêng của những người hy sinh đang lần theo lối mòn xưa tìm về chốn quê nhà. (Tôi đi như kẻ lạc đường. Bàn chân tóe máu quê hương xa vời. Tôi giờ từ chín phương trời. Từ mười phương Phật xa xôi trở về - “Thác lời Lê Anh Xuân”). Và điểm quy tụ mọi tình cảm hướng về quê hương bao giờ cũng là hình ảnh người mẹ:

Lòng cứ như nghìn đợt sóng xô
Bờ kia dáng mẹ đứng mong chờ
Tôi về thức trắng đêm - đâu đó
Mấy tiếng chim vui lạc xuống hồ.

Đi dọc bờ sông - dọc cuộc đời
Nắng khoe màu áo mới tinh khôi
Dòng sông phẳng lặng nghìn trang giấy
Tôi đọc làm sao hết một đời?

(“Một ngày với Bến Tre”)

Làm sao một đời đọc hết câu chuyện của dòng sông, một đời viết được bài thơ hay nhất cho quê hương, cho tình yêu và cho chính mình, hẳn đó là ước nguyện không chỉ của riêng Chim Trắng.

Nhà văn Hoài Anh có nhận xét: “Chim Trắng luôn suy tư nhưng là cái suy tư của một người sống bằng trái tim. Giọng thơ anh là giọng tâm tình, nhưng chân thành, bộc trực, anh đã sống hết mình trong từng bài thơ. Đọc bài thơ nào cũng thấy một phần đời của anh, một phần máu huyết của anh trong đó, không hời hợt dễ dãi mà cố nắm bắt những rung động thầm kín, những ý nghĩ nhiều khi gai góc”.

Quả đúng như vậy, dù là sáng tác trong giai đoạn nào, thơ Chim Trắng vẫn luôn luôn ấm áp một tình yêu đối với con người, đối với quê hương đất nước. Thơ anh chưa bao giờ cao giọng, càng không hề có chất ồn ào. Nhà thơ tự nhủ: “Ngày nào còn làm thơ, chắc tôi cũng chỉ nói về tình yêu ấy với giọng điệu ấy”.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Chim Trắng tự bằng lòng với những đường nét ổn định của thơ mình. Ngay từ tập “Có một mùa thu trong” in năm 1990, Chim Trắng đã cho thấy một bước vận động mới trong thơ anh. Ở đây, trong những bài thơ năm chữ, bảy chữ và lục bát, tác giả không hề có ý định phá vỡ cái vẻ đẹp cổ điển của thơ Việt đã làm nó chạm được đến tâm hồn của các thế hệ độc giả quen thuộc của văn học truyền thống. Đồng thời, Chim Trắng đã tìm những cách nói mới để diễn đạt sâu hơn những cảm nghĩ của mình nhằm đáp ứng khiếu thẩm thơ ngày càng đa dạng của công chúng. Như đã nói, ngòi bút Chim Trắng có thiên hướng ngợi ca những gì bình thường, bé nhỏ; nhưng đó không phải là cái bình thường nhợt nhạt. Bên cạnh những ảnh tượng cụ thể của tri giác trực tiếp, tấm thảm ngôn từ trong thơ Chim Trắng còn được đan dệt bởi những biểu tượng nghệ thuật mang ý nghĩa chiêm nghiệm. Từ nhan đề cho đến hình tượng và cách cấu tứ, những bài thơ như “Tĩnh vật”, “Trong giấc mơ đêm”, “Mật đời thường”, “Kêu gọi nước mắt”... đều thể hiện sự tìm tòi đó.

Điều thú vị là khi được in chung trong tuyển thơ Chim Trắng lần này, những bài thơ ấy không hề gây nên cảm giác về hai nhà thơ xa lạ đứng cạnh nhau. Vẫn là một Chim Trắng thôi, nhưng là Chim Trắng đang vận động, một sự vận động cũng nhẹ nhàng như giọng thơ anh. Nói cách khác, ở Chim Trắng không có sự đột phá. Anh không phải là người nghệ sĩ đến đập cửa căn nhà tâm hồn của chúng ta bằng những tiếng gõ mạnh mẽ, thúc giục với lời mời vồn vã. Không, anh vẫn từ tốn trên những ngả đường thơ của mình và gửi đến bạn đọc một ánh mắt trìu mến, một nụ cười hồn hậu. Làm sao người ta  có thể dửng dưng vô tình với ánh mắt đó, nụ cười đó?

Chim Trắng đã có sau lưng mình 40 năm làm thơ đã thấu hiểu được những nhọc nhằn của sáng tạo nghệ thuật, đồng thời tìm thấy ở đó một niềm vui trong sáng. Niềm vui đó luôn mời gọi các thi sĩ trong cuộc hành trình làm người sứ giả của tình yêu và thơ ca.

Tháng 4.1998
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Nguồn: NVTPHCM

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU