Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

NHÀ THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN: HỒN TA ĐẸP NHƯ TÌNH TA THẢM QUÁ!

Có thể nói thơ và chuyện tình của Nguyễn Tất Nhiên trở thành một hiện tượng nổi bật tại miền Nam vào những năm đầu thập niên 1970.
Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên và bạn bè

Ông làm thơ hay – điều đó là hẳn nhiên, nhưng chuyện tình được “rêu rao” trong thơ ông khiến dư luận hết sức chú ý. Nguyễn Tất Nhiên yêu rất thật và thơ ông cũng phản ánh quá thật những tâm tình nóng hổi khi yêu làm cho giới bạn đọc, nhất là học sinh, sinh viên đều có những đồng cảm sâu sắc.

Duyên của tình ta con gái Bắc.

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952, tại Biên Hoà (Đồng Nai). Năm đệ tứ (lớp 9), ông để ý đến một cô bạn học người Bắc, tên Bùi Thị Duyên rất xinh đẹp. Chính vào năm đó, Nguyễn Tất Nhiên bắt đầu làm thơ. Thật đáng kinh ngạc, những bài thơ đầu tay đã có sự cuốn hút lạ thường nên chỉ vài năm sau đó ông đã sớm nổi danh. Với những bài thơ này – chủ yếu viết cho Duyên, Nguyễn Tất Nhiên đã tập hợp in thành tập mang tên “Thiên tai” khi học lớp đệ nhất (lớp 12) và thân hành mang đi bán tại các lớp trong trường.

Khi tập thơ phát hành, Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng ngay, và vì thế ở Biên Hoà, người ta bắt đầu đồn thổi về chuyện tình Duyên – Nhiên khắp nơi. Sau này, Bùi Thị Duyên kể:

“Tụi này biết nhau từ hồi nhỏ, lúc đó còn ngây thơ, tôi chưa nghĩ gì, còn Nguyễn Tất Nhiên có nghĩ gì hay không thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14 – 15 tuổi. Tôi được Nhiên tặng một quyển thơ mà như anh nói chỉ có 3 bản chính đặc biệt (trong số 100 bản), một cho Nhiên, một bản cho tôi, và một bản cho một người quan trọng nào đó. Tôi biết sự hình thành quyển thơ là từ tôi mà ra chứ không phải không, nhưng thật ra chúng tôi chẳng có gì hết, bạn bè trong lớp ai cũng biết. Dĩ nhiên là tôi rất xúc động vì một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã gặp và nói với Nguyễn Tất Nhiên rằng mình chỉ là bạn thôi, nếu Nhiên muốn đi xa hơn nữa thì tôi không gặp Nhiên đâu. Sau đó anh ấy cũng công nhận chỉ muốn là bạn, nhưng thật ra nói thế cho qua để mà còn tiếp tục được gặp tôi”.

Cũng cần được nói thêm, ở Biên Hoà thời ấy có rất nhiều nhà thờ. Là người theo đạo, Bùi Thị Duyên hay đi lễ, và những buổi sáng hay chiều, anh chàng làm thơ si tình Nguyễn Tất Nhiên thường ngồi trong quán cà phê bên đường để ngắm nhìn người đẹp đi ngang qua. Ắt hẳn đã nhận ra tình mình chỉ là đơn phương, thơ của ông viết cho Duyên đa phần là thở than, trách móc, có khi rất… dữ dội. 

Bài thơ đầu tiên ông làm cho Duyên đã có tên là “Khúc tình buồn”, sau đó nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bản nhạc “Thà như giọt mưa” hầu như ngày nào cũng được phát trên Đài phát thanh Sài Gòn, được giới học sinh, sinh viên mua, chép, chuyền tay nhau với tất cả sự thích thú vốn có cũa tuổi trẻ:

“Thà như giọt mưa
Vỡ trên mặt Duyên
Để ta nghe thoáng
Tiếng mưa vội đến
Những giọt run run
Ướt ngọn lông măng
Khiến người trăm năm
Đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên
Đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên
Đau khổ muôn niên”.

Với cái tên Duyên được “rêu rao” trong ca từ một cách thê thiết như thế, cảm xúc của người nghe như được nhân lên gấp bội, cho nên bản nhạc cũng như tên tuổi của Nguyễn Tất Nhiên nhanh chóng được lan truyền rất rộng rãi.

Tiếp sau bản nhạc đó, và ngoài tập thơ “Thiên tai”, Nguyễn Tất Nhiên còn tiếp tục làm nhiều thơ “ai oán” cho Bùi Thị Duyên. Như bài “Duyên của tình ta con gái Bắc” với những câu… ấn tượng:
.............
Nghe nói em vừa thi rớt Luật
Môi trâm anh tàn héo nụ xa vời
Mắt công nương thầm khép mộng chân trời
Xin tội nghiệp lần đầu em thất vọng!
(Dù thật sự cũng đáng đời em lắm
Rớt đi Duyên, rớt để thương người!)
...........

Thế nhưng, dường như trái tim của Bùi Thị Duyên vẫn không hề mềm sũng trước những bài thơ ướt át đó, thậm chí ngược lại đã có nhiều hờn trách từ phía gia đình bà dành cho nhà thơ tài hoa si tình. 

Cả dư luận, trong khi thán phục, tìm đọc thơ của Nguyễn Tất Nhiên cũng bắt đầu tỏ ý phê phán ông “độc ác” với người-tình-không–trái- tim Bùi Thị Duyên. Để đến nỗi, khoảng năm 1973, Nguyễn Tất Nhiên thật sự mệt mỏi (chữ của ông hay dùng trong thơ) với cuộc tình tuyệt vọng của mình và làm bài thơ coi như là bài cuối cùng dành cho Duyên, trong đó ông “dũng cảm” tự nhận mình là một “tên quái đản”, là người “cầu danh vọng trên nước mắt người tình” như một tạ lỗi:

Năm năm trời... ta làm tên quái đản
Cầu danh trên nước mắt của người tình
Năm năm trời có nhục có vinh
Có chua, chát, ngọt, bùi, cay, đắng...
Có hai mái đầu chia nhau thù oán
Có thằng ta trút nạn xuốn vai em!
Năm năm trời... có một tên Duyên
Ta ca tụng, rồi chính ta bôi lọ
Tình ta đẹp nhưng tính ta còn nít nhỏ
Nên lỗi lầm đã đục màu sông
Nếu em còn thương mến tuổi mười lăm
Xin nuốt hận mĩm môi cười xí xóa
Hồn ta đẹp nhưng đời ta thảm quá
..........
(Tạ lỗi cùng người)

Em hiền như ma soeur.

Cũng trong thời kỳ Nguyễn Tất Nhiên học đệ nhất (lớp 12) và xuất bản tập thơ “Thiên tai”, ông có chú ý đến một cô bạn học chung trường khác tên là Nguyễn Thị Minh Thuỷ.

Minh Thuỷ không đẹp bằng Bùi Thị Duyên nhưng cũng xinh xắn, dễ thương, học giỏi nhất trường, có thể nói là tài năng toàn diện, đặc biệt là hết sức dịu dàng. Đã biết chắc rằng tình yêu mình dành cho Duyên là vô vọng, Nguyễn Tất Nhiên tỏ ra săn đón Minh Thuỷ hơn. Vốn có bản tính dịu dàng, Minh Thuỷ không tỏ ra từ chối tình yêu của nhà thơ mà chỉ im lặng nửa nhận nửa không. Cứ mỗi khi tan trường, đang đi bên cạnh cô bạn học, nhác thấy chiếc Honda của Nguyễn Tất Nhiên lạng lại từ xa là Thuỷ vội đẩy bạn ra phía ngoài, còn mình đi bên trong để tránh tiếp xúc trực tiếp. Những lần như thế, thư từ, quà cáp của nhà thơ được cô bạn nhận giúp và sau đó chuyển lại cho Thuỷ. Bà kể về thời đó: “Có lần anh ấy dúi vào tay bạn tôi một cái bọc và nói trước khi phóng xe đi: “Thuốc bổ óc đó, một cho Dung (tên bạn tôi) và một cho Thuỷ, ráng thức để mà học thi”. Tôi cũng cảm động, vui vui một chút. Anh chàng làm thơ mà cũng biết điệu đó chứ”.

Tuy vậy, khi thấy “hiện tượng” mối tình Nhiên – Duyên rộ lên cả trường, cả tỉnh, cả miền Nam, Minh Thuỷ cũng rất dè chừng. Lần nọ, bà quyết định gom hết tất cả quà cáp, thư tình của Nguyễn Tất Nhiên lâu nay gửi cho mình đem đến nhà bạn, nhờ bạn trả lại hết. Sự kiện đó đã làm cho nhà thơ si tình chấn động. Ông viết ngay bài thơ “Kẻ tự đóng đinh tim” cho Minh Thuỷ:

Vì chẳng được cầm tay nhau kể lể
Nên chuyện tình cứ thế, thảm hơn
Chúa cũng cau mày ngắm nỗi cô đơn
Của một kẻ đóng tim mình trên thập giá!

Chiều em đi học về, thơm tóc thả
Áo suông eo trinh bạch cả giáo đường
Ta ngọt ngào gọi khẽ, người đi luôn
Nên lũ thiên thần bỗng nhiên thất chí
Bay xuống trần gian làm thi sĩ
Nâng Thánh Kinh mà hát thơ tình
Có con chiên nào thoáng ngạc nhiên
Rồi lại đắm chìm trong vần nhã nhạc…

Chiều em đi học về, chim trắng bước
Ngang giáo đường nhòe nhoẹt màu vôi phai
Có động lòng xin hãy rút khăn tay
Lau giùm mắt kẻ xương bày trên thánh giá
Là ta đó, em ơi, đang tầm tã
Mưa đầy hồn đau đớn thương thân
Lỡ yêu tín đồ phải chấp nhận gian truân
Phải muối mặt giao du cùng quỷ sứ
Tính nhân hậu đã hồi nào hóa dữ
Chỉ vì em lành lặn quên chàng
Chỉ vì em… gõ nhẹ cửa thiên đàng
Bình thản gửi cho hai hàng bím tóc!

Vì chẳng được ra đường đứng, khóc
Nên hình hài cứ thế, ốm o hơn
Đời không dung đứa tự thị ngông cuồng
Người cũng thế nhìn ta chán ghét
Ta điên đảo, người đâu cần hay biết
Ta té lên té xuống chẳng ai màng
Ta còng lưng gánh bụi giữa hoàng hôn
Người lãnh đạm hất ta rơi vực tối!

Chúa cũng lắc đầu vô phương cứu rỗi
(Cứu rỗi làm gì một thứ nghênh ngang
Cứ nổi cơn đòi Thượng Đế ngang hàng
Đấng Ngàn Tuổi tim già khô độ lượng !)

Ta phải chết cho Nước Trời thịnh vượng
Cho thánh thần chúc phúc bình an
Cho em còn mãi mãi dịu hiền ngoan
Mà hãnh diện có thằng đen đúa
Luôn nhăn nhó mặt mày chê Chúa khó
Nhưng cắn răng không hở miệng trách em!

Trong một bài khác, ông còn trách cụ thể về việc Minh Thuỷ đã từng nhận thư, quà của ông như sau:

........

Ta vẫn nhớ trưa nào em ngồi hát
Ta thèm hôn lên mắt tiểu thư buồn
Ta vẫn ăn năn những lúc đón đường
Em khó chịu mà thư nào cũng nhận!
...........
(Giữa trần gian tuyệt vọng)

Cũng là thơ hờn trách nhưng có gì nhẹ nhàng, đằm thắm hơn chứ không “phẫn uất” như thơ viết cho Bùi Thị Duyên, vì Nguyễn Tất Nhiên đã nhận ra vẻ dịu dàng “Em hiền như ma soeur” của Minh Thuỷ. Phải nói những bài thơ ông viết cho Minh Thuỷ tình tứ, cảm động hơn, dù “chuyện tình” này không ồn ào như với Bùi Thị Duyên. Hình ảnh thắt bính tóc của Minh Thuỷ đi vào thơ ông thơ mộng lắm, ngay cả khi có nguy cơ hai người chia tay:

Em không còn thắt bính
Nuôi dưỡng thời ngây thơ
Anh không còn luýnh quýnh
Giữa sân trường trao thư
.............

Em thường hay mắt liếc
Anh thường ngóng cổ cao
Ngoài đường em bước chậm
Quán chiều anh nôn nao
........

 Hai năm tình lận đận
Hai đứa cùng xanh xao
Hai năm trời mùa lạnh
Hai đứa cùng hư hao
........

(Hai năm tình lận đận)

Lên đại học, Nguyễn Tất Nhiên vào học Luật khoa, Minh Thuỷ vào Vạn Hạnh, Sài Gòn. Từ đó, hai người hầu như không còn gặp nhau. Thế nhưng, thỉnh thoảng trên báo, ông vẫn có thơ cho Minh Thuỷ, như đoạn thơ dưới đây là một, vẫn da diết lắm:

Trời mưa , không lớn lắm
nhưng đủ ướt đôi đầu !
tình yêu , không đáng lắm
nhưng đủ làm ... tiêu nhau !
...............

em tính còn ham chơi
lưng ngoan dòng tóc bính
môi trinh non thích cười
chiều chiều hay giỡn nắng
tình trôị. kệ tình trôi
............
(Thơ Khởi Tự Mê Cuồng)

Thì xin nhẫn nhục cưu mang vợ chồng

Năm 1975, biến cố đất nước. Chính sự kiện này đã vô tình “đẩy” Nguyễn Tất Nhiên và Minh Thuỷ gặp lại nhau, ấy là khi cả hai cùng trở về Biên Hoà sinh sống. Nguyễn Tất Nhiên đi làm… rẫy ở Long Thành (Đồng Nai), Minh Thuỷ làm nhân viên hợp tác xã ở thành phố. Dường như sự bình lặng của thời kỳ này đã làm “nguội” những sôi nổi bốc đồng của tình yêu tuổi trẻ một thời. Hai người đến với nhau có vẻ thanh thản, hiểu đời hơn. Tình yêu từ đó được nối lại.

Năm 1978, họ chính thức làm đám cưới. Tuy nhiên, với một tâm hồn quá mẫn nhạy, thậm chí hơi khác thường, ngay cả khi chuẩn bị chuyển từ vị trí người tình thành người chồng, Nguyễn Tất Nhiên vẫn có những bài thơ dự cảm rằng mình không xứng với sự dịu dàng, hiền ngoan, với kiểu “con nhà gấm lụa thánh hiền” của Minh Thuỷ. Nghe người ta chúc “trăm năm hạnh phúc” ông cũng lo nghĩ. Ông viết:

“Phu thê nếu đã nợ rồi
Thì tôi đâu ngại ngỏ lời yêu em
Như con chim mới tập chuyền
Bâng khuâng gấm lụa thánh hiền em ra
Mặt trời rực rỡ phương xa
Ở đây hạnh phúc chỉ là đau thương
............

Phu thê nếu đã buộc ràng
Thì xin nhẫn nhục cưu mang vợ chồng
Tôi quanh năm sống hoang đàng
Cũng xin nhỏ lệ hoàn lương, khóc tình”.
(1978 ở Việt Nam)

Với những bài thơ viết cho người vừa thành vợ của mình, dễ thấy Nguyễn Tất Nhiên yêu Minh Thuỷ thật tình – thứ tình yêu không còn ai oán, hờn trách, hơn thua như xưa nữa mà đong đầy mặc cảm, lo lắng, làm như tạng người ông thì chỉ yêu thôi chứ đừng cưới, khi yêu thì “hùng hổ” nhưng khi cưới thì “ăn năn”. Như bài “Uyên ương” cái tựa thơ đã rõ là nói về tình vợ chồng, nhưng sao mà… hoài tiếc, thổn thức với những gì đã qua:

....
Có những chiều ta muốn hôn em, rồi khóc
Mùa bình an nào chờ đợi uyên ương?
Nhớ hôm xưa em mảnh khảnh tan trường
Hương trinh khiết ngây ngây chiều nắng lụa
Áo đông phương còn e dè trước gió
Ðôi tà ngoan chưa phỉ sức tung tăng
Bụi trần gian chưa gợn vướng mi cong
Thơ ta sáng theo hồn ta trẻ nhỏ
Nhớ hôm xưa em bình minh thiếu nữ
Môi vô tư chưa bợn nhuốm hơi người
Tay măng tơ chưa vọc nước dòng đời
Tóc bính thảnh thơi chưa phiền khói thuốc
Ta lẽo đẽo theo tình ê ẩm bước
Ðể chiều về nghẹ thấm thía gian nan!
Nhớ hôm xưa em mơ mộng nhẹ nhàng
Hay hát khẻ đôi bài tình man mác
Trang thư nhỏ ép bông hoa, làm dáng
Cài tơ nhung lên tóc mượt, làm duyên
Cười với tình nhưng... tránh vội sang bên
Như thể sợ tình yêu làm lấm áo!
Chim trong tổ biết chi đời giông bão
Em con cưng nào biết tuổi lưu đày
......

Với tính cách khác thường của Nguyễn Tất Nhiên như thế, quả nhiên cuộc sống của họ không hạnh phúc lắm, chủ yếu là do “tính nết hoang đàng” cố hữu của Nguyễn Tất Nhiên – như ông thường tự nhận, toàn là “nhẫn nhục cưu mang vợ chồng”. Dù đã có với nhau hai con trai, nhưng hai người thường xuyên có những cuộc “di cư” mỗi người một nơi mỗi khi trong nhà có “giông bão”. Năm 1992, trong một lần Minh Thuỷ dẫn hai con “di cư” như thế thì nghe tin Nguyễn Tất Nhiên đã tự kết liễu đời mình trong một ngôi chùa ở California, Mỹ (họ sang Mỹ từ năm 1978).

Chính Minh Thuỷ cũng không tin ông chọn giải pháp đó dù quá biết tính cách khác thường của ông. Vì những chuyến “di cư” như thế, đối với bà, chỉ là cách để ông “biết điều” hơn với vợ con mà thôi, nhưng than ôi, “chính vì em mà thiên tài chán sống”, ông đã từng cảnh báo như thế trong một bài thơ thời còn độc thân rồi mà.

ĐOÀN VỊ THƯỢNG
Nguồn: Blog Văn chương phương nam

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

THANH THẢO VỚI TRƯỜNG CA

Kẻ viết giống như người đi đường mà mỗi bước đi lại vung vãi tác phẩm của mình cho đời. Đến cuối đường, ai cũng cố lượm lặt những gì viết ra, tỉ mẩn sắp lại mong có tấm có món để đời. Số đông chỉ được mớ hổ lốn, đỡ hơn, thì được mẹt hàng xén. Dạng này khó thành tác giả (dù có thể có thẻ hội viên). Số còn lại, cực ít. Cái họ tung ra như những miểng vụn bừa bộn, đôi khi văng rất xa nhau, nhưng xem kĩ, mỗi miểng kia lại là một mảnh ghép của một bức tranh toàn vẹn. Chỉ dạng ấy mới thực là tác giả. Trường hợp lớn, thì họ đã là tác giả ngay từ miếng ghép đầu tiên.
Nhà thơ Thanh Thảo

Điều gì khiến những sáng tác rời rạc, rải rác, bề bộn kết thành một bức tranh duy nhất, những mảnh vỡ gắn thành nhất thể? Kẻ viết nào mới là tác giả ?

Mượn cách nói của Chế Lan Viên: kẻ ấy phải có cái lõi trầm trong ruột. Khi trong ruột đã có lõi trầm, thì mỗi cái được viết ra, dù rất không đâu, rất xa nhau cũng đều là một làn hương từ một thứ trầm duy nhất đó.

Lõi trầm ấy còn có thể là gì khác hơn một tư tưởng nhân văn riêng? Mỗi tác giả chân chính xuất hiện là sự cất tiếng của một tư tưởng nhân văn thực sự nào đó. Không có điều này, anh chỉ là kẻ a dua, là bản sao, là cái bóng của ai đó mà không tự biết, cái viết ra sẽ chỉ là những vay mượn, vá víu không tự biết (dù có thể rất hồn nhiên)

Phần cốt lõi nhất của tư tưởng nghệ sĩ là gì nếu không phải là những quan niệm riêng ? Quan niệm nào vậy ? – Quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ. Nếu quan niệm nhân sinh trả lời câu hỏi về hạnh phúc, thì quan niệm thẩm mỹ trả lời câu hỏi về cái đẹp. Cả hai tìm thấy nhau trong cùng một băn khoăn chung: thế nào là giá trị người, giá trị sống. Mỗi nghệ sĩ chân chính phải là một niềm băn khoăn, một câu trả lời. Tất nhiên, bằng sáng tác của mình. Băn khoăn ấy là cái lõi trầm trong ruột người nghệ sĩ. Dù có thể anh ta không ý thức rõ về nó, dù có khi bất lực trước nó. Kẻ viết có thành tác giả hay không, lớn hay bé, phụ thuộc vào điều anh có hay không mối băn khoăn ấy và tầm cỡ nó thế nào.

Trong thế hệ của mình, Thanh Thảo thuộc số ít người viết đã có băn khoăn như thế ngay từ sáng tác đầu tay:

Hạnh phúc nào cho tôi ?
Hạnh phúc nào cho anh ?
Hạnh phúc nào cho chúng ta ?
Hạnh phúc nào cho đất nước?
Những câu hỏi chưa bao giờ nguôi được.

                           (Thử nói về hạnh phúc)

Đó cũng là những câu hỏi đeo bám suốt đời thơ Thanh Thảo. Cho đến tận sáng tác gần đây nhất, trường ca Metro, sau 40 năm lăn lộn trường văn trận bút, câu hỏi ấy đâu đã chịu buông tha anh: “nhưng hạnh phúc là gì?”,”không ai đủ sức trả lời / dù còn cả cuộc đời trước mặt” . Cũng đeo bám như thế là băn khoăn khôn cầm về cái đẹp. Lúc này: “Cái đẹp là sự thật”, lúc kia: “Nhìn cái đẹp hiện diện, thơ linh cảm cái đẹp sẽ hiện diện”, chỗ khác:“Cảm giác về cái đẹp thường gắn liền với cảm giác nuối tiếc, nó hướng ta nhìn lại cái đã qua bằng cái nhìn sâu xa hơn”(Khối vuông rubich)v.v… Chúng là những băn khoăn song sinh, song hành. Cả hai thường nhập làm một trong niềm băn khoăn về giá trị sống, giá trị người:“Mong một ngày hiện rõ / chất thật mỗi con người”, “phải trả giá cho mỗi phẩm chất người / dù rất nhỏ” (Đêm trên cát)... Toàn bộ sáng tác Thanh Thảo, xét đến cùng, mượn cách hình dung của chính anh, cũng là một khối rubích, mà mỗi tiếng thơ tựa một ô màu, tất cả những ô màu ngỡ rất hỗn loạn, kì thực lại xoay quanh một cái trục bí mật duy nhất là mối băn khoăn ấy thôi.

Vỡ lẽ của Thanh Thảo cho mối băn khoăn ấy là gì? Cất công tìm kiếm, người đọc sẽ thấy ẩn trong thế giới nghệ thuật phong phú của anh hai chìa khóa: lấp lánh và lặng lẽ. Chơi chữ chăng? giật gân chăng? Không. Lặng lẽ tỏa sáng, lặng lẽ làm người, đó là cái đẹp và hạnh phúc, đó là giá trị sống, giá trị người theo quan niệm Thanh Thảo. Trong cái thế giới ồn ào đầy rẫy những bạo tàn, phàm tục, giả trá này, cái đẹp thuộc về sự lặng lẽ. Những tinh thể quí giá thường kết tinh trong lặng lẽ. Những phẩm giá cao quí thường lấp lánh trong lặng lẽ. Vẻ đẹp cứ lặng lẽ làm chính nó. Con người cứ lặng lẽ là mình. Không màu mè, không ồn ào, không phô phang, không diễn. Không được ai biết đến, không cần ai biết đến. Hiện diện thế là đẹp, được sống như thế là hạnh phúc. Lặng lẽ tỏa sáng là vẻ đẹp thiên nhiên, lặng lẽ làm người là vẻ đẹp nhân cách cuốn hút hồn thơ Thanh Thảo. Chẳng phải thế sao ? Ai đọc cũng có thể thấy vô vàn những hình sắc khi thì bất ngờ hực sáng, lấp lóa, lấp loáng, khi thì long lanh, lóng lánh, lấp lánh trong cỏ cây, sông nước, biển núi, mây rừng của thế giới thi ảnh Thanh Thảo, dù ở thời trận mạc hay thời bình, dù trong quá khứ lịch sử hay trong cuộc sống đương thời. Ai đọc cũng sẽ thấy những vẻ đẹp người mà Thanh Thảo cả đời say mê khám phá như lòng nhân hậu, đức hi sinh, đặc biệt là tính can đảm, trung thực, nghĩa khí của thế giới nhân vật trên mọi chặng thơ anh, dù của những người lính hay người mẹ, nghệ sĩ hay nghĩa sĩ, nhà thơ hay trẻ thơ… bao giờ cũng hiện ra trong lặng lẽ. Mỗi vẻ thiên nhiên ấy khác nào một giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng/ ! Mỗi chất người ấy khác nào một đạo hào quang ấp ủ trong cõi sâu lặng lẽ của con người ! Lấp lánh mà lặng lẽ, lặng lẽ mà lấp lánh, là giá trị cũng là hạnh phúc, vì thế, nó là vẻ đẹp thơ suốt đời Thanh Thảo. Ngay từ sáng tác đầu tay, nó đã đến với anh. Và anh sẽ cứ tìm kiếm nó, tôn vinh nó suốt cả đời thơ mình. Bởi thế, đó chẳng phải là cái trục bí mật của khối rubích thơ anh sao? chẳng phải cái lõi trầm trong hồn thơ anh sao?

***

Lõi trầm trong hồn thi sĩ chắc chắn sẽ nhạt hương nếu thiếu đi thành phần này: quan niệm riêng về thơ. Quan niệm thơ, quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ của chính kẻ viết bao giờ cũng đồng hành và chuyển hóa lẫn nhau để cùng làm nên cái lõi trầm bí mật của đời thơ tác giả. Có thể xem đó là tam vị nhất thể của một quan niệm nghệ thuật toàn vẹn ở một kẻ viết chân chính.

Trong thơ, kẻ viết nào chỉ quen lối nằm mai phục để chộp từng ý tưởng, từng thi tứ đến từ đâu đó ngoài mình, kiểu ăn đong, chắc chắn không thể đi đường dài. Kẻ đi đường trường tựa như cây lớn, ít bận tâm ở cành nhánh, mà chăm lo nhiều cho gốc rễ. Ngay từ rất sớm, Thanh Thảo đã xem cái gốc của thơ chính là nhân cách thơ. Thơ là sự cất tiếng của nhân cách nhà thơ, đó là xác tín của thi sĩ này. Có nhân cách thơ, tất sẽ ra thơ, có gốc tất sẽ đâm cành. Khi nhân cách nhà thơ lên tiếng, đó đã là thơ rồi. Quan niệm này được anh phát biểu ngay từ đầu những năm 80 thế kỉ trước: “Thơ bắt đầu từ đâu ? Từ ý tưởng, thực tế, từ cái nhìn hay cảm xúc? Theo tôi, thơ phải bắt đầu từ chính nhân cách của nhà thơ, nó là xương sống của cả đời thơ. Sau đó tới tài năng và lao động. Dĩ nhiên chỉ có nhân cách không đủ thành thơ, cũng như chỉ có xương sống chưa đủ thành người. Nhưng sẽ ra sao nếu con người thiếu xương sống ? Đối với nhà thơ, nhân cách vừa là tiền đề, vừa là kết quả của tài năng và lao động. Có một quan hệ biện chứng giữa những điều này(…) Thơ kín đáo ngay ở chỗ nhà thơ khi viết buộc phải phơi trần tâm hồn mình trên trang giấy, ở chỗ nhà thơ không còn nơi trú ẩn nào khác cho nhân cách của mình, ngoài bộc lộ nó thành tâm”[1]. Đây không hẳn là một quan niệm độc đáo, song, chắc chắn là quan niệm đúng đắn. Đáng nói hơn, nó giúp ta lí giải được nhờ đâu thi sĩ có thể đi đường dài với thơ. Khi xem nhân cách thơ vừa là tiền đề, vừa là kết quả của tài năng và lao động, đồng thời thấy rõ có một quan hệ biện chứng giữa những điều này, Thanh Thảo không chỉ đem đến một cách hiểu riêng về nhân cách thơ mà còn hé mở một mong cầu: người thơ thứ thiệt phải sống thơ trước khi làm thơ. Đời sống hàng ngày của một nhân cách như thế, tự nó đã là sự chưng cất, sự kết tinh thơ rồi. Coi gốc của thơ là nhân cách thì trữ lượng thơ của một hồn thơ xem như đồng nhất với số phận người thơ. Chừng nào còn sống thơ, chừng ấy còn nguồn thơ. Phải có một nguồn thơ như thế mới có thể đi đường dài, mới có thể trường kì với trường ca.

Quan niệm về gốc của thơ thường nhất quán với quan niệm về sản phẩm thơ. Coi trọng việc sống thơ, Thanh Thảo cho rằng thơ là dòng sống thực của cá thể từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Một nhà thơ có nhân cách, chỉ cần nắm bắt và thể hiện được những dòng sống thực đó của mình, bản thân nó đã là thơ. Dù từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc kia có thể rất bất chợt, bất định, có vẻ hỗn loạn, nhưng mỗi khoảnh khắc ấy lại bật lên từ một gốc chung, xoay quanh một trục chung là nhân cách người thơ. Do đó, đời sống thực của một nhân cách thơ cũng có cấu trúc tựa hồ rubich. Chỉ cần thành thực phơi trải, tự nó đã là thơ thứ thiệt, thơ quí. Bởi nó là dạng thơ khước từ mọi trang sức thỏn mỏn thường tình. Và Thanh Thảo đã bình tĩnh đem đến cho thi đàn thứ thơ như thế. Người ta đã nhận thấy thơ anh là những dòng sống thực của chính tâm hồn anh. Một dòng sống đầy những đứt nối, bất chợt rất gần với quan niệm của các nhà siêu thực: “âm thanh vỡ vụn mảnh gương lấp lánh trong khuya / nước mắt nhà thơ độc hành / những vệt sao thấm nhanh vào cát/ cát vang khô khốc”,”hãy kêu tới đáy lòng Cao Bá Quát / bàn tay nhà thơ nắm chặt dòng sông / vung thành gươm trên cát bỏng”, “họ lấm láp sình lầy bước vào thơ Đồ Chiểu / họ để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ”, “những cây bàng chợt rùng mình cảm thấy / một khung trời gãy gập của mùa đông”,”những con cá bơi cả vào giấc ngủ / những ngôi sao vàng óng ánh tiếng cười”, “trên khuôn mặt cày sâu những nếp nhăn nghèo đói / ta gặp lại niềm vui trong trẻo của nước mưa” … Nhưng, vẻ “siêu thực” nọ không hẳn xuất phát từ lí thuyết, mà có lẽ từ sự trải nghiệm thơ của bản thân anh nhiều hơn. Những vẻ đẹp sáng của thiên nhiên, của con người cứ lấp lánh trong âm thầm, long lanh trong lặng lẽ rồi bất chợt bừng lên vào khoảnh khắc nào đó, từng khoảnh khắc như thế cứ dệt nên dòng sống thực của hồn thơ, dệt nên mỗi bài thơ Thanh Thảo.

***

Một hồn thơ như Thanh Thảo không thể không bén duyên với trường ca. Bởi dòng sống thế kia chỉ thực sự thoải mái khi thả sức trong một hình thức phóng khoáng với một cấu trúc luôn mở thôi. Mà trường ca chính là một thể đầy hứa hẹn cho hình thức ấy, cấu trúc ấy. Quan niệm và nhân cách thơ của Thanh Thảo đã giúp anh thoải mái marathon với trường ca, mặc sức "đi tới biển" cùng trường ca.

Về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX đến giờ. Người ta đã đưa ra nhiều cách định nghĩa, định danh khác nhau. Người bận tâm phân định nó với những anh hùng ca và sử thi thời cổ. Người loay hoay khu biệt nó với thơ dài, truyện thơ, khúc ngâm. Gặp gỡ có, bất đồng có. Thái độ với trường ca cũng vậy: lắm người hoài nghi, khối người hài lòng, không hiếm người nghiện. Song, bất chấp những phân hóa, chia rẽ, trường ca vẫn cứ trường ca, cả trong nước lẫn ngoài nước. Từ quan sát của mình, tôi thấy khi thơ trữ tình muốn trình bày những suy cảm về những vận động lớn lao, thậm chí kì vĩ của đời sống bằng một hình thức lớn, khi ấy trường ca xuất hiện. Nói gọn hơn, khi thơ trữ tình muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cái kì vĩ thì trường ca bắt đầu lên tiếng. Các trường ca hiện đại của ta manh nha từ thời Thơ Mới, lác đác trong cuộc chống Pháp, rộ lên suốt thời chống Mỹ và bội thu sau chống Mỹ, chẳng phải là một bằng chứng sinh động hay sao?

Không phải thi sĩ nào cũng có thể là tác giả trường ca. Không ít người định dấn thân vào thể này, sau đã bỏ cuộc. Người thì đã lên những đề cương tỉ mỉ cho các bản đại trường ca, cuối cùng đề cương hoen rỉ trong ngăn kéo. Người thì gắng kẽo kẹt cho hết một bản, rồi cạch đến già. Sự ấy cũng thường tình. Trong điền kinh, cùng môn chạy thôi, có người vô địch cự li ngắn, nhưng chìm nghỉm khi marathon. Trong trận mạc, có người giỏi đoản binh mà bí trường trận. Có tạng thơ chỉ sở trường ở những thể vừa vừa trung trung. Có tạng chỉ thực là nó ở những thể nhỏ nhỏ xinh xinh. Hễ họ bén mảng sang thể lớn là lập tức hẫng chân, cụt hơi. Ấy cũng là thường.

Do mấu chốt của trường ca là ở chữ “trường”, nên một tác giả trường ca, theo tôi, ít nhất phải có đủ “tam trường”: trường vốn, trường lực và trường hơi. Vốn trải nghiệm, vốn tri thức, vốn nhân văn phải dồi dào; năng lực sáng tạo hình thức trong ngôn ngữ phải sung mãn ; và phải nuôi được cảm hứng, cảm xúc thật bền, không đuối, không hụt, không cụt. Tam trường đó phải hiện ra thành kiểu tư duy trường ca. Không phải ai cũng có tư duy này! Người có tư duy trường ca thường phải xử lí thật biến hóa mối tương tác giữa những cặp đối cực sống còn này: cái bi - cái hùng, cái kì ảo - cái tả thực, cái kì vĩ - cái đời thường, tính hồn nhiên - tính tổ chức cao, cả đường bay - từng nhịp vỗ cánh… Ở đây, tay nghề rất quan trọng. Nhưng khối người sành sỏi mọi ngón nghề mà vẫn bại. Dường như hơn cả chuyện tay nghề, là chuyện tạng thơ. Trong khi tạng thơ này vất vả đến bế tắc trước những đòi hỏi phản trái đó, thì tạng thơ khác lại thoải mái tung hoành giữa những nguyên tắc gò bó khắt khe kia. Với họ, trường ca cứ tuôn trào dễ dàng như thơ ngắn, thậm chí, còn dễ hơn thơ ngắn. Cứ thế, họ thành cây trường ca, nhà trường ca. Tóm lại, kẻ viết phải có gốc trường ca mới mong thành cây trường ca.

Thanh Thảo đã trường ca ngay từ cái đầu tay. Chẳng phải thế sao? “Thử nói về hạnh phúc” chào đời như một bài thơ ngắn, nhưng nó đã tràn đầy hơi thở trường ca rồi. Những trải nghiệm chiến trường ác liệt, bề bộn được soi chiếu, chưng cất bằng một tầm nhân văn cao, thể hiện trong những băn khoăn về hạnh phúc và giá trị người trước sự sống còn của đất nước, được phơi trải trong một hình thức mở của thơ dài. Đó chẳng phải là những nhịp thở hào sảng của trường ca đó ư ? Và chùm thơ kỉ lục gồm 13 bài được trình làng trên Tác phẩm mới, cũng như tập “Dấu chân qua trảng cỏ” tập hợp những bài thơ ngắn, về thực chất là những mảnh vỡ khác nhau của một bản trường ca. Có thể xem chúng như là những tiền thân, phân thân khác nhau của trường ca “Những người đi tới biển” được viết sau đó. Nói vậy không phải cố vơ vào cho đầy một ôm, mà chính bởi chúng mang một hơi thở chung, một phong độ sáng tạo chung, thuộc một kiểu tư duy chung với trường ca này và với cả những trường ca sau này của Thanh Thảo như “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Bùng nổ của mùa xuân”, “Khối vuông rubich”, “Đêm trên cát”, “Cỏ vẫn mọc”… và mới đây là “Metro”.

Tôi biết giới nghiên cứu đã chỉ ra nhiều đặc sắc của thơ Thanh Thảo. Đã có không ít luận văn cử nhân, thạc sĩ, luận án tiến sĩ ngữ văn đào sâu vào các bình diện khác nhau của trường ca Thanh Thảo như tư tưởng nhân dân, chất tự sự và chất trữ tình, yếu tố hiện thực và yếu tố triết luận, hình tượng và biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu… Bản thân tôi cũng đã viết và hướng dẫn dăm ba cái. Nhưng đọc trường ca Thanh Thảo, nét tâm đắc nhất với tôi vẫn là việc xử lí cặp đối cực này trong tư duy của anh: tính hồn nhiên và tính tổ chức cao. Trong sáng tạo, hai gã này chúa là xung khắc nhau, thậm chí vật lộn nhau. Liệu có cọc cạch mâu thuẫn gì không nhỉ ?

Rõ ràng, một mặt Thanh Thảo xem thơ là dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, nghĩa là đề cao tính hồn nhiên gần như tuyệt đối của thơ. Mặt khác, anh lại được biết đến như một nhà cách tân hình thức, không ngừng săn tìm những cấu trúc mới cho mỗi bản trường ca. Nghĩa là liên tục tìm tòi ứng dụng và phát kiến những hình thái tổ chức tân kì cho thể loại, trong đó có cả những dạng tổ chức rất phức tạp, rất gò bó. Trái khoáy. Vậy mà vẫn đâu vào đấy. Lạ.

Có lẽ, trong các tay bút duyên nợ với thể loại đồ sộ này, Thanh Thảo là người coi trọng và dấn thân vào cấu trúc nhiều hơn cả, thành hơn cả. Khước từ những hình thái tổ chức quen thuộc của trường ca như kéo dài thơ ngắn ra thành trường thi, gia tăng sử kiện để thành sử ca, bám riết vào tự sự để thành truyện thơ, mượn hơi khan để thành khan đời mới, nương theo sân khấu để thành hoạt cảnh thơ, kết những thi khúc rời thành tổ khúc thơ, xâu các trường đoạn thành liên khúc thơ, pha trộn các thể mà thành một hỗn dung thể thức v.v…, Thanh Thảo đã bứt hẳn sang những địa hạt khác để nhập về những hình thái thật phá cách, như giao hưởng (Những người đi tới biển, Bùng nổ của mùa xuân, Trẻ con ở Sơn Mỹ, Đêm trên cát…), rubích (Khối vuông rubích), điện ảnh (Cỏ vẫn mọc), kịch (Trò chuyện với nhân vật của mình), gần đây còn tìm sang cả… metro (Metro). Toàn những cấu trúc lạ hoắc. Cứ y như một lối “chơi” sáng tạo, “chơi” cấu trúc.  Vậy mà, đọc vẫn vào. Người đọc vừa bị cuốn theo dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của mạch thơ, vừa có khoái thú vì đang được dạo trong những công trình kiến trúc lạ, được thưởng ngoạn những cấu trúc tân kì. Nhờ đâu mà những phản trái lại hòa hợp được vậy ? Nhạc trưởng Thanh Thảo đã dùng chiếc đũa chỉ huy nào?  Tôi nghĩ rằng, chiếc đũa ấy chẳng thể là gì khác hơn một năng lực mạnh mẽ ở anh: năng lực phát giác sự hài hòa giữa cái hỗn loạn và cái trật tự.

Tìm kiếm trật tự cho cái hỗn loạn dường như là sở trường lớn của hồn thơ này. Trước hết là trong tư tưởng. Thơ Thanh Thảo, nhất là chất thơ của sự lặng lẽ, chẳng phải là vẻ đẹp của cái trật tự muôn đời giữa sự hỗn loạn đó sao? Chẳng phải toàn bộ thơ anh, nhìn từ mỹ học, chính là mong cầu khôn nguôi về một trật tự nhân văn trước cái loạn của thời chiến và cả cái loạn của thời bình nữa đó sao? Mong cầu ấy cũng là một cái trục bí mật của khối rubich thơ Thanh Thảo vậy.

Nhưng thôi. Hãy trở lại với chuyện hỗn loạn-trật tự riêng trong hình thức. Dòng sống thực vốn đầy những bất định, bất chợt, ngẫu nhiên, ngẫu hứng, ngẫu cảm… là hỗn loạn. Còn những hình thái cấu trúc lại là các dạng trật tự. Phóng túng trong trật tự, trật tự mà phóng túng. Chúng hòa hợp bằng cách nào? Giải pháp của Thanh Thảo: dòng sống thực luôn phải là hơi thở tràn trề trong sinh thể trường ca, còn trật tự vừa là bộ khung sườn ẩn vừa là những đường viền linh hoạt. Dòng sống thực (cảm xúc, ý tưởng, thi ảnh…) thì vẫn phóng túng hồn nhiên, còn tổ chức vĩ mô (cấu trúc hình tượng, cấu trúc chương khúc, hệ thống chủ đề…) trên toàn khối thì phải tuân thủ trật tự. Dường như đó cũng là dạng tổ chức phổ biến trong nhiều hình thức của sự sống thì phải ? Hẳn có người sẽ nghi ngờ về tính tự nhiên, chân cảm trong lối viết như vậy. Họ cho rằng cấu trúc gò bó thế dễ giết chết chân cảm hồn nhiên, và “chơi” cấu trúc thế liệu thơ có còn nghiêm túc? Họ quên rằng, nghệ thuật nghiêm túc nhất cũng ít nhiều mang tính trò chơi. Lí thuyết hiện đại chẳng nói vậy sao! Họ cũng quên rằng, trong âm nhạc chẳng hạn, còn gì gò bó hơn cấu trúc chặt chẽ của một bản giao hưởng ? Nhưng mỗi giao hưởng tuyệt tác vẫn cứ là dòng chảy tràn trề hồn nhiên của cảm xúc âm nhạc đó thôi. Hồn nhiên mà có tổ chức, phóng túng mà chặt chẽ, hỗn loạn mà trật tự, đó là thách thức muôn thuở của việc sáng tạo cái đẹp. Dường như, nghệ thuật chính là việc đi trên những lằn ranh mỏng manh giữa những điều phản trái đó ? Và tài năng chính là người xác lập được sự hòa hợp sống động cho những đối cực đó. Khỏi nói những bản trường ca thành công đã được ghi nhận và nghiên cứu nhiều của anh. Chỉ nói riêng cái vừa ráo mực chưa lâu và mang một dáng dấp hơi hậu hiện đại là “Metro”. Nghĩa lí nào trong cấu trúc này ?  Metro là con tàu chạy ngầm trong lòng đất. Nội điều đó đã có ý nghĩa khi nói về cái tâm thức Trường Sơn vẫn ngầm chảy trong lòng cuộc sống bề bộn, hỗn tạp này rồi. Tuy nhiên, cái đáng nói là, con tàu này có thể và luôn chạy được cả hai chiều trái nhau. Chính tính trái nhau này đã hấp dẫn nhà cách tân. Bằng sự nhạy cảm của một thi sĩ săn lùng hình thái tổ chức cho thơ, Thanh Thảo đã mượn nó để tổ chức nên trường ca “Metro” với hai dòng chảy trái chiều trong nội dung: dòng chảy tới của thời gian và dòng chảy ngược của kí ức. Đúng hơn là có hai dòng thời gian: thời gian sống (với tâm tư, thuộc quá khứ) và thời gian viết (với văn bản, thuộc hiện tại). Cả hai đan cài nhau trong dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của tâm tư thi sĩ đang trầm mình trong những kỉ niệm Trường Sơn với những trăn trở về hạnh phúc, băn khoăn về giá trị sống qua việc duyệt lại những cái được cái mất của dân tộc, của thế hệ và của cá nhân mình trong và sau cuộc chiến. Vì thế, phức điệu mà rành rẽ, tán lạc mà mạch lạc, ngẫu hứng phóng túng mà vẫn theo điệu theo bè. Nói khác đi, anh vẫn lập được trật tự cho sự hỗn loạn. Và đấy chính là một hấp dẫn không nhỏ của bản trường ca này.

Tổ chức cao mà vẫn hồn nhiên, hỗn loạn mà trật tự, kiểu hấp dẫn mang thương hiệu Thanh Thảo đó đâu chỉ ở trường ca này và đâu chỉ riêng ở trường ca !

***

Người đọc đã “phong vương” cho nhiều cây bút xứng đáng. Đã có Xuân Diệu vua Thơ Mới, Vũ Trọng Phụng vua phóng sự, Nguyễn Tuân vua tùy bút, Thạch Lam vua truyện ngắn trữ tình, v.v… Ở triều đại sau, bên cạnh những “vì vua” khác, như Nguyễn Duy vua lục bát, Nguyễn Huy Thiệp vua truyện ngắn, Lưu Quang Vũ vua kịch nói, vv… cũng có thể gọi Thanh Thảo là vua trường ca chứ sao ! Việc phong tặng cho một ai đó, đâu chỉ bằng vào việc người ấy chuyên chú hay viết được nhiều, mà quan trọng hơn cả là ở thành tựu thuộc về hàng đầu của họ.

Ném mình vào thể này mấy chục năm trời bền bỉ, quyết liệt, đến nay, gia tài trường ca của Thanh Thảo, nếu tính chi li, phải vượt con số chục bản. Con số ấy ở một thể loại như trường ca là chưa đồ sộ sao! Anh chỉ tuyển vào đây chín trường ca ưng ý nhất. Có lẽ, thế là đẹp. Đó có phải là chín nhánh cửu long của cùng một con sông trường ca Thanh Thảo không ? Có phải là chín bậc thang anh đã lần lượt bước qua để lên đài không ? Có phải là chín chiếc đỉnh bày trên sân chầu của nghiệp thơ anh không ? Mọi ẩn dụ có thể tới cũng có thể không. Nhưng có điều chắc: đó là chín thi phẩm đầy tâm huyết của một đời sáng tạo mà đứa con thi sĩ đã chọn ra như biện một mâm lễ vật thành kính dâng lên Thầy Má mình, Nhân Dân mình. Lời đề đầu tuyển tập đã nói cùng ta điều đó.

Cách làm tuyển thế, khiến tôi nghĩ tới chàng Lang Liêu xưa.

                                 Văn Chỉ - Làng quốc tế Thăng Long,
                Mùa Hè Kỉ Sửu
CHU VĂN SƠN
Nguồn: NVTPHCM

_________
[1] Văn học trong giai đoạn cách mạng mới, NXB Tác phẩm mới, 1984,  tr. 216-218






Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

NHÀ THƠ PHAN HOÀNG: KHI CON SÔNG ĐỔI DÒNG…

“Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi/ tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen/ không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?” - thơ Phan Hoàng.
Nhà thơ Phan Hoàng đưa con trai Phan Hoàng Phan về quê Phú Yên ăn Tết

* Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế: Nhà thơ Lê Minh Quốc khẳng định bốn điều tất nhiên ở Phan Hoàng là nhà thơ, nhà biên khảo, nhà báo và là người phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam nhiều nhất làng báo. Nhưng thưa ông bạn Phan Hoàng, ở góc độ cá nhân, nếu để thông tin về mình thì ông sẽ nói gì?

- Nhà thơ Phan Hoàng: Một người sống bằng nghề viết chuyên nghiệp. Và cũng giống như anh hay các đồng nghiệp khác, trước đây chúng ta viết bằng bút còn bây giờ viết chủ yếu bằng máy vi tính.

* Hình như mỗi khúc quanh của đời sống lại khiến ông tìm đến những những khám phá mới trong sáng tác.

- Cảm ơn anh đã quan tâm và có cái nhìn tinh tế. Tôi là người thích xê dịch, khám phá trong đời sống lẫn trang viết. Tôi ít chịu đứng yên và rất sợ lặp lại cái cũ. Tôi vốn sinh ra vào thời chiến. Mẹ tôi, gia đình tôi là nạn nhân của chiến tranh. Tỉnh Phú Yên quê tôi là một trong những chiến trường ác liệt. Trong trận chiến cuối cùng vào mùa xuân năm 1975 để thống nhất đất nước, có lẽ Phú Yên là nơi người chết nhiều nhất khi quân đội Sài Gòn rút khỏi Tây Nguyên theo hai “con đường máu” là đường 5 và 7 cũ chạy xuống duyên hải miền Trung. Lính chết nhiều mà người thân gia đình lính chết càng nhiều. Nỗi ám ảnh ấy đeo tôi dai dẳng. Và tôi luôn tự hỏi vì sao phải tiến hành chiến tranh, vì sao con người phải chết oan ức trong mưa bom bão đạn? Có cách nào để tránh chiến tranh không? Các vị tướng nghĩ gì trước sự hy sinh của rất nhiều người lính? Vì vậy khi mới bắt đầu đi làm báo, tận dụng chuyên mục “Mỗi kỳ một nhân vật” trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, tôi tìm mọi cách gặp gỡ, phỏng vấn các vị tướng từng chỉ huy trực tiếp trên chiến trường để tìm câu trả lời cho chính mình. Nhờ đó mà bộ sách nhiều tập Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam đã ra đời, tạo cảm hứng cho các tập sách khác cũng lần lượt được xuất bản: Phỏng vấn Người Sài Gòn, Phỏng vấn Người Hà Nội, Dạ thưa thầy!...

* Dù cuộc chiến của chúng ta là chiến tranh nhân dân, nhưng vai trò quyết định thành bại của các vị tướng trước đối phương vẫn là quan trọng. Điều đó chính xác đến đâu?

- Những người càng tài năng càng khiêm tốn, dễ gần gũi, thân thiện. Các vị chiến tướng cũng vậy. Công trận đầy mình nhưng khi trở về đời sống thường nhật họ là người chồng người cha người ông đầy tình thương yêu và họ sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm khi xã hội cần đến. Tôi nhớ vị tướng bác học Trần Đại Nghĩa nói rằng, nếu không có Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp thì trận Điện Biên Phủ chưa chắc thắng lợi vang dội như vậy. Hoặc trận Xuân Lộc đánh mở “cánh cửa thép” cho đại quân tiến vào Sài Gòn xuân 1975, nếu không có sự trực tiếp chỉ đạo “giải vây” khó khăn của Thượng tướng Tư lệnh Miền Trần Văn Trà thì sự hy sinh sẽ còn rất nhiều. Không chỉ trên chiến trường mà trên mọi lĩnh vực khác tôi thấy vai trò cá nhân là rất quan trọng, đôi lúc thay đổi cả cục diện. Điều đáng tiếc là có một thời chúng ta chỉ nói chung chung, không xác định vai trò cá nhân, nhiều tư liệu lịch sử quý báu trong ký ức họ cũng mất đi.

* Nghệ thuật phỏng vấn nhân vật, điều gì là quan trọng nhất?

- Điều quan trọng nhất là phải tìm hiểu kỹ thông tin và thực sự cầu thị, tôn trọng nhân vật mình phỏng vấn. Kế đến là việc xử lý văn bản sao cho logic và cuốn hút, không được áp đặt cái tôi người viết lên bài phỏng vấn. Người đọc muốn tìm hiểu về nhân vật được phỏng vấn chứ không phải tìm hiểu người đi phỏng vấn. Một người phỏng vấn giỏi phải biết ẩn mình, khơi mở, tạo cảm hứng cho nhân vật lẫn bạn đọc.

* Vậy còn với thi ca thì sao?

- Sau khi xuất bản hai tập thơ đầu tay trong vòng gần 7 năm là Tượng tình và Hộp đen báo bão, tôi dừng lại tập trung làm báo để mưu sinh và cũng tìm hướng đi mới cho thơ mình. Nguồn cảm hứng từ thực tế đời sống hiện tại bộn bề, mâu thuẫn, xuống cấp, suy đồi với bao hỉ nộ ái ố đã giúp tôi hoàn thành tập thơ Chất vấn thói quen để xuất bản sau 10 năm. Vốn say mê lịch sử và sinh ra trên mảnh đất Phú Yên một thời trấn biên trên hành trình khẩn hoang mở cõi về phương Nam của dân tộc, tôi lại quay ngược về cội nguồn tìm thi hứng dựng trường ca Bước gió truyền kỳ. Rồi hai chuyến đi Trường Sa cách nhau 5 năm cũng giúp tôi hoàn thành một trường ca khác là Gió hợp hôn đất nước dự kiến xuất bản thời gian tới.

Năm 2018 là một năm đầy “biến động” đối với tôi. Từ bỏ nhiều hoạt động xã hội, tôi tranh thủ thời gian du lịch nhiều nơi, tập trung đọc sách, nghiên cứu tìm con đường mới cho sáng tác. Sau chuyến tham quan hai thành phố lớn Moskva và Saint Petersburg đầy ấn tượng về văn hoá Nga, trên chuyến bay trở về khi ngang vịnh Ba Tư ở Trung Đông tự dưng tôi nảy ra ý tưởng thể nghiệm một hình thức thơ mới gọi là Thơ 1-2-3. Hơn 40 bài thơ viết theo kiểu này của tôi đã ra đời trong hơn 3 tháng qua, được nhiều báo đăng tải và một số bạn thơ cộng hưởng.

* Trội trong tác phẩm Bước gió truyền kỳ là tính sử thi, gợi hành trình mở cõi về Nam và hải hành Trường Sa của Đại Việt thêm một vài bài thơ lẻ thấy đặc sắc giọng Phan Hoàng, nhưng lắng một chút thì ta vẫn thấy thấp thoáng âm vọng Tình sông núi, Đèo Cả. Tôi cho rằng đó là sự kế thừa, tinh tế, xuất sắc. Ông thấy sao?

- Kế thừa được một chút tinh hoa của các bậc tiền bối để tạo nên cái riêng biệt cho mình chẳng dễ dàng chút nào. Tôi rất khâm phục hai nhà thơ lớn Trần Mai Ninh và Hữu Loan khi không sinh ra ở Phú Yên nhưng thẩm thấu được môi trường thiên nhiên lẫn bề dày văn hoá đất này để viết nên những tác phẩm bất hủ. Tôi cũng tiếc nhà thơ Trần Mai Ninh hy sinh quá sớm còn nhà thơ Hữu Loan chỉ gắn bó Phú Yên một thời gian ngắn nên không tiếp tục mạch nguồn sáng tạo đầy hào khí từ nắng gió, non nước hùng vĩ đất này. Vì vậy, từ trong vô thức lẫn ý thức tôi muốn chắt chiu, gợi hứng, khơi lại một phần nguồn mạch thơ quan trọng này. 

* Phải chăng phản tỉnh bản thân là phản tỉnh đạt ngưỡng cảnh giới. Chất vấn thói quen là tác phẩm thơ, nhưng lại đặt một câu hỏi một cách văn xuôi như vậy. Khi một con sông chuyển dòng để băng lên phía trước, thì đâu có đơn giản, nó phải lột xác… Tôi thích nghe ông nói thêm về điều này, vì đó cũng là một ý trong thơ của ông.

- Tôi nghĩ mình chẳng bao giờ đạt ngưỡng cảnh giới nhưng luôn có ý thức phản tỉnh. Phản tỉnh trong đời sống đầy bất trắc. Phản tỉnh cả trên trang viết luôn có nguy cơ cũ kỹ sáo mòn. Có thói quen tốt, nhưng cũng có thói quen là chướng ngại làm hại con người. Một dòng sông khi gặp chướng ngại đổi dòng luôn mang lại vẻ đẹp kỳ thú. Có thể chỉ là một ngả rẽ uốn khúc thơ mộng. Nhưng cũng có thể tạo nên dòng thác kỳ vĩ. Tôi tin con người cũng vậy:

Nhiều khi mắc cười tôi chất vấn tôi
tại sao con người cứ tự đánh lừa mình bằng những thói quen
không học nổi con sông biết thích nghi đổi dòng băng băng về phía trước?

* Người Phú Yên có nhiều tên tuổi nổi tiếng trong làng văn làng báo, tiêu biểu như Võ Hồng, Nguyễn Mỹ, Thanh Quế, Trần Huiền Ân, Y Điêng, Ngô Phan Lưu... và gần đây có Nguyễn Phong Việt nổi lên như một hiện tượng thú vị về xuất bản thơ. Những văn nhân xưa “liên lụy” đến Phú Yên như Đỗ Huy Nhiệm, Trần Mai Ninh với Nhớ máu, Tình sông núi, Hữu Loan với Đèo Cả, Trần Vũ Mai với Trường ca Làng Phước Hậu,… và Vĩnh Mai cán bộ tiền khời nghĩa. Những tên tuổi ấy cũng như nhiều nhân vật khác, ai là người còn được Phú Yên cảm mến “cảo thơm lần giờ trước đèn”?

- Tất cả những tài năng và nhân cách dù sinh ra ở đâu mà có đóng góp giá trị cho Phú Yên tôi tin đều được yêu quý và ghi nhận, không chỉ hôm nay mà cả mai sau. Và không chỉ văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. Phú Yên là một trong những “địa linh”, nơi sinh ra hai vị thánh của hai tôn giáo lớn: Tổ sư Liễu Quán của Phật giáo và Thánh Andre Phú Yên của Thiên Chúa giáo. Phú Yên cũng là nơi sinh ra hai nhà chính trị, tư tưởng hàng đầu: Trần Phú - Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam và một nhân vật đối kháng là Trương Tử Anh tác giả chủ thuyết “Chủ nghĩa dân tộc sinh tồn”, sáng lập và lãnh đạo Đại Việt Quốc dân đảng giai đoạn 1939-1946, Chủ tịch Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam từ khi thành lập đến khi tan rã cuối năm 1946. Dù thành bại khác nhau nhưng họ đều là những nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng.

* Do tài năng nên người sáng tác mới tìm mình trong các thể loại khác nhau hay là do hiện thực cuộc sống đòi hỏi bản thân phải tự nới rộng “kích cỡ”? Ý kiến của ông về nhận xét này?

- Tôi nghĩ cả hai, do tài năng lẫn hiện thực cuộc sống. Khi thơ không chuyển tải hết thì người cầm bút có thể chuyển tải bằng các thể loại khác như ký, tuỳ bút, truyện ngắn, tiểu thuyết. Vấn đề là tác phẩm có giá trị và có đứng được lâu bền trong lòng bạn đọc hay không. Đừng nghĩ viết được nhiều thể loại là mình có tài. Tôi tâm niệm như vậy nên luôn nỗ lực hết mình. Bởi tài năng là do thiên phú, mình không thể tự tạo ra tài năng của mình được, nên đừng ảo tưởng và cũng đừng đố kỵ cái tài của người khác.

* Sẵn nói về tài năng và sự đố kỵ, ông thấy trong giới văn chương điều này biểu hiện ra sao?

- Thật đáng sợ. Nhà văn Trần Nhã Thuỵ trên Tinh Hoa Việt có nói rằng sự độc ác vô tình nảy sinh từ lòng ghen ghét, đố kỵ. Điều ấy rất đúng và càng lộ rõ từ khi có mạng xã hội. Tuy nhiên, tôi cũng thấy có niềm vui lớn là những người tài năng đích thực thường liên tài, hỗ trợ, nâng nhau lên trong giới văn chương nước ta.
Nhà thơ Phan Hoàng ở Nga 9-2018

* Trong số rất nhiều bài viết về tác phẩm và con người Phan Hoàng, nếu với một người không có nhiều thời gian đọc hệ thống thì, ông khuyên bạn đọc đó nên đọc những bài nào để có thể “tổng quan” về Phan Hoàng?

- Mỗi bài viết có cái thú vị riêng và mỗi người đọc có quyền cảm nhận riêng từng bài. Tôi cũng không có quyền khuyên. Những bài viết nghiên cứu có chiều sâu trên cơ sở văn bản học luôn mang lại sự thích thú, cho dù có những tác giả chưa gặp mặt tôi bao giờ mà chỉ đọc tác phẩm. Bởi có khi gặp rồi thì họ không viết hay được như vậy (cười).

* Sài Gòn - TPHCM là cái nôi tiên khởi của báo chí thị trường nên hầu như các nhà văn nhà thơ thành phố này đều tìm đến thể loại báo chí vừa để thể hiện mình và vừa kiếm sống. Đó có phải là một lý do để Phan Hoàng giỏi thao tác thể loại văn học phi hư cấu?

 - Lịch sử cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa báo chí và văn chương nước ta kể từ khi chữ quốc ngữ hình thành và phát triển. Phần lớn nhà văn xuất thân nhà báo hoặc gắn bó với báo chí. Nhiều tác phẩm văn học vốn là những thiên phóng sự báo chí. Không chỉ Sài Gòn mà ở Hà Nội và một số tỉnh thành khác cũng có nhiều cây bút xuất sắc về thể loại văn học phi hư cấu. Tuy nhiên, đúng là Sài Gòn có một môi trường thuận lợi hơn để đăng tải, xuất bản, ấn hành. Riêng tôi, trên cơ sở tư liệu phỏng vấn báo chí, gần đây tôi đã viết và xuất bản, tái bản những cuốn cách mang thể loại ký và tản văn: Sài Gòn đất lành chim đậu, Sài Gòn đất thiêng khí tụ, Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra.

* Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra - một cái tên có vẻ sexy khiêu khích nhưng hơi hướng nghệ thuật ẩm thực. Tiếc là tôi chưa được đọc cuốn sách này của ông. Cuốn sách này thế nào ạ?

- Đây là một tập hợp những tản văn và tuỳ bút về Sài Gòn đã đăng tải toàn bộ trên báo chí. Trong đó, cái bài tôi lấy làm tựa sách đúng là viết về ẩm thực, bởi với người Sài Gòn và Nam Bộ ăn uống cái gì cũng phải ngọt. Nhiều trái cây đã ngọt mà còn chấm thêm đường. Kho thịt, nấu canh cũng bỏ vào rất nhiều đường. Họ cũng thêm đường vào ly khi uống các loại nước ngọt. Ăn ngọt uống ngọt nên cơ thể con người cũng… ngọt. Tôi là rể Nam bộ mà!

Đầu tháng 4.2018, NXB Văn hoá văn nghệ tổ chức buổi giới thiệu, giao lưu ra mắt tập sách Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra tại sân khấu trung tâm Hội Sách TP.HCM lần thứ X, thu hút đông đảo bạn viết bạn đọc tham gia. Thật vui khi nó được bầu chọn là một trong mười sự kiện quan trọng nổi bật của hội sách. Điều buồn cười là sau đó có một người gọi là nhà phê bình khi viết đả kích cuốn sách này trên facebook cứ nhầm là thơ, rồi từ đó suy diễn lung tung, nghĩa là ông ta không hề đọc hay theo dõi thông tin báo chí mà cứ tự “diễu võ dương oai”. Một kiểu phê bình hóng hớt tầm phào.

* Với TPHCM thì tờ báo nào cũng có tản văn. Nhiều người viết tản văn về văn hóa, lối sống Sài Gòn mà thành những cái tên phải nhớ, dù họ là những công dân thường không sinh ở đó. Ông có thể lý giải tại sao không?

- Với vị thế địa lý của mình, từ trong lịch sử Sài Gòn là đầu mối giao lưu, hội nhập của nhiều nền văn hoá từ Đông sang Tây. Và ảnh hưởng từ môi trường sống thuận lợi, người Sài Gòn sinh ra ở đây hay gắn bó chặt chẽ với đất này thường sống phóng khoáng, nhân hậu, hết lòng vì người khác. Đó là chất liệu phong phú cho những trang tản văn vừa mang tính thời sự vừa có sự chiêm nghiệm từ vỉa tầng văn hoá. Với những cây bút từ nơi khác đến, Sài Gòn như cuộc tình mới nồng cháy mang lại nguồn cảm hứng dâng trào cho những trang viết. Nếu như tản văn của Hà Nội đọc chậm, đa tầng đa nghĩa, gợi nhiều suy ngẫm thì tản văn Sài Gòn đọc nhanh, đi thẳng những vấn đề của đời sống thực tại, mang lại hứng thú tức thì cho người đọc.

* Viết tản văn hay về Sài Gòn đa phần không phải là người Sài Gòn, trong đó có Phan Hoàng. Còn Hà Nội thì ngược lại chỉ có người Hà Nội hoặc sinh ra ở Hà Nội mới viết tản văn hay về Hà Nội, như trường hợp Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Băng Sơn… Ông giải thích thế nào về hiện tượng này?

- Tản văn là thể loại viết nhanh. TP.HCM là thành phố trẻ, nhịp sống nhanh và sôi động, dễ cuốn hút người ta vào “cuộc tình mới” với cái nhìn đa chiều và khác biệt dễ được chấp nhận. Có những cây bút sinh ra ở đây như Bùi Chí Vinh, Đỗ Trung Quân, Lý Lan và một số bạn trẻ gần đây viết tản văn cũng khá hay về quê mình, nhưng đúng là số lượng không nhiều bằng các cây bút nơi khác đến. Còn cái đặc sắc của Hà Nội là cổ kính, thâm trầm đòi hỏi sự thẩm thấu mang tính di truyền hoặc sự trải nghiệm chọn lọc lâu bền qua thời gian. Với Hà Nội, ngoài những người sinh ra ở đó như anh nói, tôi thấy có những cây bút từ nơi khác đến cũng viết tản văn hay về thủ đô như Trung Trung Đỉnh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thuý, Như Bình… và đặc biệt là Nguyễn Quang Thiều nay là người thủ đô nhưng vốn sinh tận làng Chùa, Hà Tây cũ.

* Chiến lược nuôi dưỡng, phát triển các cây bút trẻ ở TP.HCM như thế nào, nếu như nhìn vào vai trò của ông hiện tại, cũng như đã trải…

- Tôi đâu giữ vai trò gì quan trọng mà có chiến lược. Từ trải nghiệm của mình, tôi muốn góp phần tiếp thêm động lực cho các bạn trẻ mới bước vào nghề, nhất là những bạn có tài năng và nội lực có thể đi đường dài. Qua các hội nghị viết văn trẻ hay toạ đàm, giao lưu mà tôi góp công tổ chức hoặc giải thưởng nhà văn trẻ đầu tiên của thành phố, mà cũng đầu tiên cả nước, đã quy tụ, điểm danh, gợi mở cho nhiều cây bút trẻ.

* Một Phan Hoàng nổi tiếng với bạn đọc phía Nam và bạn nghề cả nước. Và ngược lại cũng có những nhà văn phía Bắc nổi tiếng ở Bắc, nhưng không nổi ở Nam. Điều gì đã xảy ra? Có phải do “phát hành” hay PR?

- Anh quý tôi mà nói vậy thôi chứ tôi có làm được việc gì ra hồn đâu mà nổi tiếng. Một thợ rèn giỏi nhất định sẽ được bạn nghề và người tiêu dùng biết đến. Một thợ mộc, thợ đúc đồng hay người kinh doanh cũng vậy. Cái khác là người hành nghề chữ nghĩa phải chịu trách nhiệm dài lâu về trang viết của mình. Tôi hy vọng mình sẽ trở thành người làm nghề bền bỉ trước khi thực sự giỏi.

________________________________

Nhà thơ Phan Hoàng sinh ngày 10.10.1967 tại tỉnh Phú Yên, tốt nghiệp chuyên ngành ngôn ngữ học Trường đại học Tổng hợp TP.HCM, từng làm phóng viên - biên tập viên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, Chủ biên tờ Người Đương Thời (sau đổi tên là Người Đương Thời).

Ngoài công việc chính là Trưởng đại diện Văn phòng thường trực miền Nam báo Văn Nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Phan Hoàng hiện còn là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Tượng tình (thơ 1995)
- Hộp đen báo bão (thơ 2002)
- Chất vấn thói quen (thơ 2012, tái bản 2015)
- Bước gió truyền kỳ (trường ca 2016)
- Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam (3 tập 1997-2000, tái bản 4 lần)
- Phỏng vấn Người Sài Gòn (2 tập 1998-1999)
- Phỏng vấn Người Hà Nội (2 tập 1999-2000, tái bản 2 lần)
- Dạ, thưa thầy! (2 tập 2000-2002, tái bản 2 lần)
- Sài Gòn đất lành chim đậu (ký sự nhân vật tập I-2016, tái bản 1 lần 2016; tập II-2018)
- Sài Gòn đất thiêng khí tụ (ký sự nhân vật 2017, tái bản 1 lần 2018)
- Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra (tản văn 2018)

Giải thưởng:

- Giải nhất bút ký báo Khoa Học & Đời Sống năm 1998 với bài Khi nhà thơ làm kinh tế.
- Giải thưởng thơ tạp chí Văn Nghệ Quân Đội năm 2003-2004 với bài Bước gió truyền kỳ.
- Giải ba cuộc thi thơ nhạc Đây biển Việt Nam với hai bài thơ Mặt trời trong ngôi nhà đầy sóng đầy gió, Gió hợp hôn đất nước, do Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam và báo VietNamNet tổ chức năm 2011-2012.
- Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM năm 2012 với tập thơ Chất vấn thói quen.
- Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012 cho tập thơ Chất vấn thói quen.

NGUYỄN THAM THIỆN KẾ (thực hiện)
Theo báo Tinh Hoa Việt/ Đại Đoàn Kết
số tân niên 2019




NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU