Thứ Ba, 25 tháng 6, 2019

NHÀ THƠ NGUYỄN DUY: THỜI GIAN ĐI, XÁM MẶT ĐỈNH ĐỒNG

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng nói về nhà thơ Nguyễn Duy: "Hình hài Nguyễn Duy như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc lên trên đám đất hoang đó".
Nhà thơ Nguyễn Duy

Nhà thơ Nguyễn Duy hẹn gặp tôi tại tư gia của anh ở đường Lê Văn Sỹ (Thành phố Hồ Chí Minh). Lâu lâu rồi không gặp nhau, dù chúng tôi cùng học khoa văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi học trước Nguyễn Duy một năm và tôi cũng rất thích thơ Nguyễn Duy ngay từ khi anh còn học đại học.

Nguyễn Duy dẫn tôi lên tầng trên cùng của ngôi nhà nhiều tầng mà theo anh nói là do làm lịch thơ mà xây được. Mảnh sân thượng của ngôi nhà trở thành vườn thơ, nơi anh trồng cây cảnh, có bàn trà đãi khách, trà ướp hoa nhài thơm, bạn thơ gặp nhau và câu chuyện cũng xoay quanh chuyện văn chương, quanh những bài thơ của anh, những bài thơ được nhiều người yêu thích, trong đó có tôi.

Tôi hỏi, có phải người bà đã có ảnh hưởng rất nhiều trong cuộc đời thơ của anh không? Nguyễn Duy nói đúng vậy. Anh nói bà đã dạy anh nhiều điều, mà điều quan trọng nhất là đạo lý làm người "Ở hiền gặp lành". Tôi đọc những câu thơ mà tôi đã thuộc lòng trong bài thơ của Nguyễn Duy viết về bà: "Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế/ Bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan/ Bà đi gánh chè xanh Ba Trại/ Quán Cháo, Đồng Giao, thập thững những đêm hàn……/ Khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ Bà chỉ còn là một nắm cỏ thôi…".

Nhà thơ Nguyễn Duy kể về những ngày thơ bé, những ngày "Níu váy bà đi chợ Bình Lâm…".

"Bà tôi là người không biết chữ, một chữ bẻ đôi cũng không biết, nhưng bà lại thuộc rất nhiều ca dao, truyện tiếu lâm, cổ tích, bà đọc thuộc lòng những đoạn rất dài trong Truyện Kiều. Nhà thơ Nguyễn Duy kể: Bà đem ca dao, tục ngữ, thành ngữ ra dạy các con, các cháu. Tôi cò#n nhớ như in những đêm trăng, mẹ tôi trải chiếu ra bên bờ sông Mã, chúng tôi quây quần ngồi nghe bà kể chuyện. Bà kể chuyện con chim sẻ đi lạc bầy, bị chết thảm, chuyện Thạch Sanh chém trăn tinh…

Ông ngoại tôi họ Đoàn, quê ở Nam Định, vào làm thợ mộc ở Thanh Hóa rồi kết hôn với bà tôi. Tên bà là Mai Thị Đào. Bà sinh được duy nhất một người con là mẹ tôi, Đoàn Thị Quang. Mẹ tôi nhuộm răng đen, váy thùng, thường nằm trên võng cói ru tôi. Mẹ tôi mất sớm do uống nhầm thuốc, hai anh em chúng tôi đều do bà nuôi nấng, dạy dỗ. Tôi thường lấy hình ảnh bà lắp vào mẹ tôi. Bà tôi sùng đạo Phật, luôn dạy con, cháu phải sống lương thiện, làm việc thiện, sống có nhân lành mới có quả tốt, luôn nhắc nhở các cháu cái đạo lý "ở hiền gặp lành"…

Bà thường gánh chè xanh đi bán, bà đi bộ 14 cây số để mua chè, chè xanh bà nấu thơm ngon nổi tiếng. Bà đi chân đất, dắt tôi đi theo ra tận đền Sòng, đền cô Bơ, đền Cây Thị …

Cha tôi làm men, nấu rượu, nổi tiếng ở phố Lèn. Ông tên là Nguyễn Duy Di, mà người ta thương gọi là "Di Men" vì men rượu ông làm nổi tiếng. Một thời, cha tôi trở nên khá giả, làm được nhà ngói năm gian, có sân gạch, có của ăn của để. Sau khi mẹ tôi mất, cha tôi lấy vợ kế, hai anh em chúng tôi ở với bà ngoại.

Khi tôi lập gia đình, có con, tôi thường kể những câu chuyện về bà, về mẹ cho các con  tôi nghe và luôn dạy con đạo lý mà bà tôi đã dạy anh em chúng tôi "Ở hiền gặp lành …".

Nhà thơ Nguyễn Duy có hai người con là Nguyễn Duy Bùi sinh năm 1973 và Nguyễn Duy Sơn sinh năm 1976. Mặc dầu ông nói mình dạy con không thành công, nhưng tôi biết chính con trai ông - Nguyễn Duy Sơn, họa sỹ đồ họa - đã cùng ông thiết kế, trình bày lịch thơ và tập thơ thiền Lý - Trần nổi tiếng.

Trầm ngâm một lúc, nhà thơ Nguyễn Duy bảo tôi: "Thế mà trong đời tôi cũng như bà tôi nhiều lần gặp chuyện chẳng lành đâu. Một lần cơ ngơi làm ăn, nhà cửa của ông bà tôi bị hỏa hoạn, cháy sạch …. Còn tôi từ cái lần bài thơ "Thơ tặng người ăn mày" (1973), tôi đọc cho sinh viên nghe ở hai trường đại học, đang đọc thì điện chập, một căn phòng bốc cháy…

Khi chữa cháy xong tôi lại leo lên bục đọc tiếp. Sau lần đó tôi bị quy cho đủ thứ tội. Cũng năm 1973 tôi làm bài thơ "Lời ru trong bão", lấy cảm hứng từ cuộc đời của mình, của gia đình mình, muốn các con cũng sống cuộc đời đạm bạc như mình, sống với đạo lý ở hiền gặp lành. Nhưng có vẻ các con tôi không thích con đường ấy, ít tiền, khổ hạnh. Vợ tôi làm việc ở Thư viện Thanh Hóa, năm 1976 chuyển vào Nam và xin về hưu. Vợ tôi phải mổ tim, mổ cột sống, nhồi máu não, phải ngồi xe lăn …".

Tôi nhớ những năm sau chiến tranh (1975) , những bài thơ của Nguyễn Duy được ngâm ngợi rất nhiều. Như bài thơ "Tre Việt Nam": "Thân gầy guộc, lá mong manh/ mà sao nên lũy, nên thành tre ơi/ Ở đâu tre cũng xanh tươi/ cho dù đất sỏi, đất vôi bạc màu/ Có gì đâu, có gì đâu/ mỡ màu ít, chắt dồn lâu hóa nhiều/ Rễ siêng không ngại đất nghèo/ tre bao nhiêu rễ, bấy nhiêu cần cù …". Hay như bài "Hơi ấm ổ rơm": "Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm/ tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng/ trong hơi ấm gấp ngàn lần chăn đệm/ của những cọng rơm xơ xác, gầy gò…".

Khi tôi hỏi Nguyễn Duy có phải người ta đã lập miếu thờ một bài thơ của anh viết về chiến tranh hay không? Nhà thơ Nguyễn Duy nói: "Phải đấy, đó là bài "Đá ơi". Anh cho biết số phận bài thơ ấy truân chuyên lắm. Bài thơ nổi tiếng được dịch ra nhiều thứ tiếng, in ở Mỹ, ở Pháp… Rồi được khắc lên một phiến đá. Một nhà văn ở Thanh Hóa quê anh mang phiến đá có khắc bài thơ ấy về, lập một cái miếu trong vườn để thờ…

Nguyễn Duy vào căn phòng trên cùng của khu nhà, chất đầy sách, có lẽ đó là thư viện của anh. Anh mang ra tặng tôi cuốn sách mới xuất bản, in rất đẹp, cuốn tuyển tập thơ chữ Hán "Về Côn Sơn" của Nguyễn Trãi.

Nguyễn Duy nắn nót ghi "Thân tặng bạn thơ Dương Kỳ Anh".

Đó là tuyển tập thơ in bằng tiếng Việt và tiếng Anh do nhà thơ Nguyễn Duy chủ biên, chụp ảnh minh họa và dịch các bài thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi thành những bài lục bát mà tôi rất thích, như bài "Chiều Tĩnh Yên": "Chiều tà, khói nhạt, mưa thưa/ Sắc mầu như có, lại vừa như không/ Đất trời muôn thủa tươi trong/ Vì ta mà nước non lồng nên tranh".

Tài thơ lục bát của Nguyễn Duy thì nhiều người đã nói, đã viết. Tài dịch thơ chữ Hán thành thơ lục bát của anh cũng rất siêu. "…Trời xanh như nước lặng thinh/ Lạnh nghe tiếng hạc vô tình vút cao". (Nguyễn Trãi - Đề bức tranh Bá Nha đánh đàn); "…Ăn toàn rau, ngủ thiếu chăn/ Mười năm đọc sách, nghèo cằn tận xương" (Nguyễn Trãi - Gửi Bạn); "Đời như một giấc mơ hoang/ Tỉnh ra mọi sự chỉ toàn ảo thôi" (Nguyễn Trãi - Chợt hứng làm thơ). Nguyễn Duy cho rằng đang có một lỗ hổng rất lớn trong xã hội, lỗ hổng về quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, quan hệ anh em, quan hệ bạn bè không được như những gì mà mình mong muốn.

Sống ở đời, cái hay, cái dở là vô cùng. Điều quan trọng là tấm lòng. Từ chuyện lớn, chuyện nhỏ, đến tâm tính thời đại đều phải chân thực, đó là đạo lý; mà ngày nay hình như người ta không cần đạo lý! Anh sợ lỗ hổng này giống như ổ mối, nếu không chữa trị kịp thời sẽ làm hỏng thân đê - đạo lý.

Nhà thơ Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1947 tại Thanh Hóa. Năm 1966, anh nhập ngũ, là lính đường dây của Bộ Tư lệnh thông tin. Nguyễn Duy tham gia chiến dịch Khe Sanh, đường 9 Nam Lào, thành cổ Quảng Trị. Sau ngày nước nhà thống nhất, anh chuyển về làm ở Báo Văn Nghệ, là trưởng đại diện của tuần báo cho tới ngày anh nghỉ hưu.

Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, từ ngày anh còn học phổ thông ở trường Lam Sơn (Thanh Hóa). Năm 1973, Nguyễn Duy đoạt giải nhất cuộc thi thơ của tuần Báo Văn Nghệ. Nguyễn Duy còn viết tiểu thuyết, bút ký. Anh thành công nhất là ở thể thơ lục bát. Những bài thơ lục bát của Nguyễn Duy (có bài đã được đưa vào sách giáo khoa) vừa dân dã, truyền thống, lại vừa mới mẻ, hiện đại từ hình tượng thơ đến cách nghĩ, cách cảm, đến cách gieo vần và nhạc điệu trong thơ. Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn đã từng nói về nhà thơ Nguyễn Duy: "Hình hài Nguyễn Duy như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc lên trên đám đất hoang đó".

Năm 1997, Nguyễn Duy tuyên bố "gác bút", nhưng thơ ca với anh như một duyên nợ. Nguyễn Duy bắt đầu in lịch thơ, triển lãm thơ trên tranh, tre, nứa, lá…, thậm chí trên cả bao tải.

Năm 2005, Nguyễn Duy cho ra mắt cuốn thơ Thiền trên giấy dó (30 bài thơ Ly - Trần khổ 81 x 111cm có bản tiếng Hán, dịch nghĩa thơ ra tiếng Việt và tiếng Anh với nhiều ảnh minh họa  đẹp của chính Nguyễn Duy).

Năm 2007, Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Năm 2010, Nguyễn Duy được giải thưởng lớn về thơ của Viện Hàn lâm Rumani.

Sau bao thăng trầm, thi sỹ Nguyễn Duy vẫn trước sau với hồn quê, trước sau với những triết lý thâm trầm, như câu thơ anh viết "Thời gian đi, xám mặt đỉnh đồng".

DƯƠNG KỲ ANH
Nguồn: VNCA

NHÀ THƠ CHÍNH HỮU - NGƯỜI LẶNG LẼ ĐI, LẶNG LẼ ĐẾN

Trong diễn trình thơ Việt hiện đại, chúng ta rất ít gặp một người nào lặng lẽ như nhà thơ Chính Hữu. Sự lặng lẽ của ông không chỉ ở những bước đi trên con đường sáng tạo thi ca, mà ngay cả trong cuộc sống thường nhật, dù ở đâu người ta vẫn nhận ra cốt cách của một chính khách từng trải trong quan hệ với đồng chí, đồng đội và những người xung quanh. Đặc biệt là ngay cả khi ông đã cán đích người ta vẫn thấy ông lặng lẽ như chưa bắt đầu xuất hành.   
Nhà thơ Chính Hữu - tranh sơn dầu của Kevin Bowen

Nhà thơ Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc. Ông sinh ngày 15/12/1926, mất ngày 27/11/2007, nguyên là Đại tá, Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục chính trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông sinh tại TP. Vinh, tỉnh Nghệ An, nhưng quê gốc của ông lại là huyện Can Lộc nay là huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Nhà thơ Chính Hữu là trường hợp hiếm hoi trong số các nhà thơ cùng trang lứa về quá trình đào tạo. Ông học tú tài triết học ở Hà Nội từ trước cách mạng tháng Tám. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và phục vụ trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tại chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ông đã từng làm chính trị viên đại hội.

Chính Hữu bắt đầu làm thơ từ năm 1947. Suốt hơn nửa thế kỷ, ông hầu như chỉ quan tâm viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng. Tập thơ Đầu súng trăng treo của ông xuất bản năm 1966 và được coi là tác phẩm chính của ông.

Cả đời cầm bút của ông để lại các tập như: Đầu súng trăng treo (1966); Thơ Chính Hữu (1997); Tuyển tập Chính Hữu (1998). Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật, đợt II, năm 2001 với các tập thơ trên.

Nhiều bài thơ của nhà  thơ Chính Hữu được phổ nhạc thành các bài hát như Đồng chí (nhạc Minh Quốc), Ngọn đèn đứng gác (nhạc Hoàng Hiệp), Bắc cầu (nhạc Quốc Anh), Có những ngày vui sao (nhạc Huy Du).

Thơ ông không nhiều chỉ có khoảng 50 bài đã được công bố, nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Bài thơ Đồng chí được ông viết khá sớm, 1948 là một minh chứng sinh động nhất:

Quê hương anh nước mặn đồng chua 
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá 
Anh với tôi đôi người xa lạ 
Tự phương trời chẳng hẹn, quen nhau. 
Súng bên súng, đầu sát bên đầu 
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ 
Đồng chí! 

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày 
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay 
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. 
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, 
Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. 

Áo anh rách vai 
Quần tôi có vài mảnh vá 
Miệng cười buốt giá 
Chân không giày 
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! 
Đêm nay rừng hoang sương muối 
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới 
Đầu súng trăng treo.
(02/1948)

Sau này bài thơ đã được phổ nhạc cho bài hát Tình đồng chí. Bài hát đã khơi dậy những xúc động mạnh mẽ trong lòng nhiều thế hệ. Hơn thế, với Đồng chí, Chính Hữu đã có trong tay một tấm căn cước, một thẻ thông hành về thơ để bước lên văn đàn thơ Việt hiện đại.

Xem ra, câu mà người ta thường gọi là quý hồ tinh bất quý hồ đa, tức là văn chương, nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng cần hay, tinh túy, chứ không cần  nhiều, ứng vào trường hợp của nhà thơ Chính Hữu dường như đúng tuyệt đối. Ông không phải là người thường xuyên có mặt và gây tiếng vang lớn trong quá trình phát triển thơ ca cách mạng, nhưng ngay ở thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã có một dấu mốc quan trọng với bài Đồng chí, khiến nhiều đồng nghiệp, đồng chí phải ngỡ ngàng. Thậm chí thơ ông còn cắm những mốc son, mang tính chất định vị, định hướng cho cả dàn hợp ca thơ cách mạng xét cả về nội dung tư tưởng lẫn phong cách sáng tác.

Chính Hữu là người không liên quan gì đến Phong trào Thơ mới, nhưng ông lại học Tú tài Triết học và là người mang hồn cốt Việt Nam, nên thơ ông dù khúc chiết, hàm súc đến mấy cũng rơi vào những suy diễn vòng vo, triết lý rối rắm, nên không khó hiểu. Vả lại, ngay từ khi cầm bút theo cách mạng, Chính Hữu là người rất ý thức tự đổi mới mình và theo đó là đổi mới thơ ca cách mạng. Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sự ngây thơ, hồn hậu, có vẻ nặng về kể lể ở bài Đồng chí thời kỳ chống Pháp, nay được thay bằng nhịp thơ thôi thúc, câu thơ ngắn nhiều vần trắc và thanh không; ngôn ngữ khoáng đạt nhiều động từ nhấn mạnh tạo nên khí thế sôi động, cuốn hút như vẫy gọi bao lớp thanh niên lên đường tòng quân diệt giặc Mỹ cách đây gần 40 năm ở bài Ngọn đèn đứng gác.

Đi nhanh đi nhanh
Chiến trường đã giục
Đầy núi đầy sông
Đèn ta đã mọc
Trong gió trong mưa
Ngọn đèn đứng gác
(Ngọn đèn đứng gác)

Bài thơ đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc và trở thành bài hát quen thuộc đối với bao người trong nhiều thập niên đánh giặc. Giờ nghe hát hay đọc bài thơ lên, thế hệ những người lính đánh Mỹ năm xưa như được sống lại khí thế hào hung của một thời đạn bom, những ngày máu lửa.

Sau chiến tranh, thơ Chính Hữu thiên về suy cảm. Nhà thơ muốn nhận thức và lí giải một cách sâu sắc hơn những giá trị tinh thần của thời đại mình thông qua những trải nghiệm của cuộc đời: Nụ cười, Kỉ niệm trung đoàn, Nghĩa trang liệt sĩ, Trong vũ trụ im lặng, Dọc theo tường điện Kremlanh…Trong Nụ cười, Chính Hữu thành thực tâm sự rằng, trong cuộc đời cũng đã “đôi lần chán nản”. Những lúc ấy ông đã phải vịn vào những giá trị tinh thần để tìm ra “cách hiểu mới nhất / về sống và chết, được và mất?”.
Sau những tháng năm “ồn ào lứa tuổi” nhà thơ trở lại khám phá sự “im lặng” trong ý thức và trong tư duy một thời của mình. Không phải ngẫu nhiên ông gọi Nghĩa trang liệt sĩ là “đất hành hương”, nơi ta đến để suy nghĩ, nơi ghi “không phải cái mất đi/ mà cái để lại”. Với nhà thơ, những hàng tên trong nghĩa trang vẫn rầm rì, một cuộc sống vẫn đập mãi mãi:

Tôi chưa thấy nơi nào sáo động lòng tôi
Bằng nơi yên nghỉ đời đời
Tôi chưa bị ai phê bình dữ dội
Bằng người đang lặng im không nói.

Bài Người bộ hành lặng lẽ của Chính Hữu được gợi ý từ tên một cuốn sách nổi tiếng, cuốn Những mơ mộng của người bộ hành cô độc của J.J Rousseau (nhà văn Pháp thế kỷ XVIII). Theo Rousseau, đi bộ là một “hành vi đẹp nhất của con người”. Đi bộ để nghĩ được nhiều hơn; Đi bộ tránh xa được sự rắc rối; Đi bộ để khám phá ra được nhiều nên “càng đi càng yêu” và Đi bộ thấy được thời gian đang bước, “thấy được sự khác nhau giữa các mùa hạ”, “thấy được sự khác nhau giữa các mùa đông”. Có người cho rằng đây là bài thơ triết lý về cuộc đời hay nhất của Chính Hữu. Bài thơ làm năm 1996, tức là khi ông vừa bước vào tuổi 70, cái tuổi “xưa nay hiếm”:

…
Tôi càng muốn xa
Những sự rắc rối
Chỉ thích nhìn đời một cách đại khái
Để càng yêu hơn…
Vì tôi chỉ đi, chỉ ngắm, chỉ nhìn
không nói nên không phải cãi…
(Người bộ hành lặng lẽ)

Có thể thấy bài thơ chất chứa sự chiêm nghiệm về cuộc đời cầm súng và cầm bút, vừa đánh giặc, vừa làm thơ dằng dặc hơn nửa thế kỷ qua mà Chính Hữu vừa muốn tự nhủ lòng mình, vừa muốn nói lại với những người đi sau, với con cháu của ông?

Lấy nguồn cảm hứng từ bài thơ Người bộ hành lặng lẽ của Chính Hữu, nhà thơ Hữu Thỉnh viết bài Gửi người bộ hành lặng lẽ, đề tặng nhà thơ khá xúc động và có thể nói là một dấu mốc quan trọng, như là báo hiệu một sự đổi mới thi pháp của Hữu Thỉnh:

Ông là khách quen của những buổi chiều
Bạn thân cùng im lặng
Ông chỉ mong tạo ra nhiều khoảng trống
Khoảng trống dịu dàng quà tặng của mùa thu
 ...
Thế kỷ sóng to
Ông lặn qua tận đáy
Lấy khoan dung làm chiếc phao bơi
Khiến cay đắng cũng nhuốm màu tha thứ
...
Cây vẫn đây mà năm đã qua
 Xuân lại đến giúp Ông làm gậy chống
(Gửi người bộ hành lặng lẽ)

Giản dị, hồn hậu và có pha chút hào sảng, nhưng vẫn đầy ắp sự chiêm nghiệm suy tư trong Thế kỷ sóng to, nhưng một người như ông vẫn có thể lặn qua tận đáy. Bởi lẽ ông luôn biết Lấy khoan dung làm chiếc phao bơi. Điều đó còn có cả sự hàm ơn người đồng chí, người anh đã đem đến cho mình một bài học quý giá về lối sống và lẽ sống ở đời. Có lẽ một trong số những người hiểu về tính cách lặng lẽ của Chính Hữu nhất là người đồng chí, người đàn em, nhà thơ Hữu Thỉnh. Người Hữu trước hiểu người Hữusau đến mức bài thơ Gửi người bộ hành lặng lẽ  trở thành một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Hữu Thỉnh trong tập Thương lượng với thời gian. Đấy cũng là nét mới về thi pháp của nhà thơ Hữu Thỉnh trong mảng thơ về đề tài thế sự của ông.

Đúng là sau khi đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, dân tộc ta bước vào công cuộc dựng xây, phát triển đất nước sau chiến tranh. Cơ man những việc cần phải làm, trong đó còn có cả việc dẹp yên lòng người và yên lòng mình. Sau chiến tranh, thường nổi lên những kẻ công thần, những người đòi quyền lợi. Không ít người tự cho mình đã đóng góp, cống hiến nhiều nên phải được đãi ngộ cao hơn so với đồng chí, đồng đội và đồng bào mình. Rỗi các cuộc đấu đá tranh giành quyền chức, địa vị, đem công trạng trong quá khứ cá nhân để mặc cả với tổ quốc, dâ tộc trong hiện tại và tương lai. Những điều ấy khiến những ai có lương tâm và trách nhiệm trước cuộc sống còn nhiều khó khăn của dân tộc mình như nhà thơ Chính Hữu không khỏi chạnh lòng:       

Cháu dắt ông đi 
Hai ông cháu mình vừa đi vừa học 
Ông dạy cháu biết tất cả những gì 
Có ở trên trời dưới đất 
Còn cháu thì dạy ông biết 
Cuộc đời này ngắn, nhưng ông đừng buồn 
Vì nó - vĩnh hằng - tiếp tục 
Đường vào thế kỷ hai mốt, 
Hai người bộ hành một cháu một ông 
Những bước đầu tiên đi song song, 
Bên những bước cuối cùng. 
(Hai người bộ hành)

Điều đáng nói là bước sang thế kỷ XXI, người ta đi bằng ôtô, máy bay, tàu ngầm siêu tốc, còn ông, nhà thơ Chính Hữu vẫn đi bộ cùng đứa cháu nội mới 16 tháng tuổi. Phong cách sống chậm ấy của ông không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận và có thể làm được như ông.  

HUYỀN VÂN
Nguồn: VHQN


Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

DIỄN TRÌNH SINH THÁI TRONG VĂN XUÔI NAM BỘ

Khi con người rời xa thiên nhiên, trái tim họ sẽ trở nên khô cằn
                        (Ngạn ngữ Mỹ) 
Nhà phê bình Bùi Thanh Truyền

Quan hệ tương hỗ giữa văn học và môi trường đã được nói đến từ lâu.

Tiếp cận văn xuôi Nam Bộ từ góc độ sinh thái là một vấn đề quen mà lạ. Quen, bởi tự nhiên đã song hành với tiến trình kiến tạo con người, xã hội loài người đến nỗi đôi khi ta hồ như không còn ý thức về sự hiện tồn của nó. Lạ, bởi sinh quyển tự nhiên, xã hội với bao phẩm tính, quan hệ phức tạp, trong bối cảnh hiện nay, là mối quan tâm hàng đầu của các ngành khoa học, trong đó có khoa học văn chương, để góp phần giải bài toán về sự phát triển bền vững của nhân loại. Vừa lên án sự tàn nhẫn, vô trách nhiệm của con người đối với sinh thái, cảnh báo nguy cơ sinh thái đối với con người, văn xuôi của vùng đất phương Nam cũng khẩn thiết kêu gọi, cổ vũ chúng ta biết sống vô sự, sống có trách nhiệm với tự nhiên, biết tự điều chỉnh nhận thức, hành xử của bản thân với môi trường để xứng với danh hiệu “Người ta - hoa đất” - một triết lí sống mang đậm tinh thần sinh thái nhân văn của dân tộc. Sự hồi đáp của nghệ thuật ngôn từ trước môi trường là tư tưởng xuyên suốt trong văn xuôi hiện đại Nam Bộ. Việc gắn nối với những vấn đề quan thiết như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường sinh hoạt, văn hóa khiến mảng sáng tác này bộc lộ rõ tính thời sự, dân tộc và nhân loại. Điều đó cũng cho thấy sự nhạy cảm, bản lĩnh, cái tâm và trách nhiệm công dân của nhà văn đối với thực trạng xã hội hôm nay trên tinh thần môi trường kêu gọi, văn chương đáp lời.

1. Tinh thần sinh thái - một yếu tính của văn xuôi hiện đại Nam Bộ 

Lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Nam Bộ là lịch sử của sự dịch chuyển trong mối quan hệ giữa con người với môi trường sống: từ vị trí, tâm thế của người phụ thuộc đến chinh phục rồi chan hòa với tự nhiên, môi trường. Đây cũng là sự chuyển dịch hệ hình (paradigm) trong đời sống văn học. Chỉ xét giai đoạn sau 1975, từ những cây bút thuộc thế hệ “chuyển tiếp” (chiến tranh - hòa bình) như Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Động… sang thế hệ “tiền đổi mới”: Khôi Vũ, Dạ Ngân, Lý Lan, Văn Lê, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Trần Văn Tuấn, Bích Ngân, Lưu Thị Lương, Trần Đức Tiến, Trầm Hương,… đến thế hệ “đổi mới” và “hậu đổi mới”: Mai Bửu Minh, Thu Trân, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Trí, Trần Tùng Chinh, Nguyễn Lập Em, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Thị Châu Giang, Trần Thu Hằng, Nguyễn Thị Diệp Mai, Vũ Đình Giang, Trương Anh Quốc, Dương Thụy, Lê Minh Nhựt, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Trần Huy Minh Phương, Văn Thành Lê, Nguyễn Thu Phương, Lê Hữu Nam, Nguyễn Trần Thiên Lộc,…; từ những tác giả được xem là “người hiền của văn học Nam Bộ” (Nguyên Ngọc) đến những cây bút chưa qua “tam thập” tất cả đều hòa chung một quan tâm, một trách nhiệm với “cõi trọ” của mình. Trong bối cảnh hiện nay, vùng đất này đang từng ngày đối mặt với nguy cơ xâm nhập mặn, triều cường, sạt lở đất, đô thị hóa nông thôn,… Đó là những vấn đề bức thiết kéo nhà văn vào cuộc.

Về mặt thể loại, tinh thần sinh thái như một bản hợp xướng nhiều bè, nhiều tông điệu, trong đó nổi trội là tiểu thuyết, truyện ngắn và tản văn. Nếu tiểu thuyết đánh dấu bằng những sáng tác của đội ngũ nhà văn cầm súng như Đoàn Giỏi, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Động… thì truyện ngắn khẳng định sự tiếp nối thế hệ qua cả hai chặng đường trước và sau ngày thống nhất đất nước. Sự xuất hiện của Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Trí, Võ Diệu Thanh, Lê Minh Nhựt… bên cạnh những tiền bối như Sơn Nam, Trang Thế Hy đã khẳng định dòng chảy sâu bền của văn chương sinh thái. Tản văn Nam Bộ xác lập vị thế chủ yếu từ đầu thiên niên kỉ mới. Với giới viết chuyên nghiệp, đây vẫn được xem là thể loại ẩn chứa nhiều thách thức. Dễ viết (nhưng viết hay thì không dễ), có sự giao thoa giữa văn chương và báo chí, những tri nhận lí tính “người thật việc thật” với rung ngân cảm tính, bó buộc và tự do, thói “bới bèo ra bọ” và chất nghệ sĩ, nét truyền thống và hiện đại trong xuất bản, tương tác với độc giả…, những ưu thế này khiến tản văn có uy lực không hề nhỏ trong việc thể hiện tiếng nói sinh thái, trở thành một viện bảo tàng mini của cuộc sống. Đó là những thỏi nam châm xoáy hút tâm trí người đọc vào những số phận môi sinh cùng với đó là phận số con người.

Đội ngũ sáng tác văn xuôi Nam Bộ là những người đang nhẫn nại góp phần hoàn nguyên những mẩu thiên nhiên tốt lành, giữ sạch môi trường, cả trên phương diện vật chất lẫn tinh thần, kiến dựng một nguyên tắc mới trong tương tác văn hóa giữa con người và không gian sống - một vấn đề cốt lõi, sinh tử trong sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn, khiến mỗi cá nhân không thể vô tâm với môi sinh trong cả suy nghĩ và hành động. Dù tiếp cận tự nhiên, xã hội từ quan điểm nào, người viết cũng đều nỗ lực khám phá mối quan hệ của con người đối với thế giới ngoài con người, thế giới phi nhân (nonhuman world), tập trung vào vị trí của con người và tự nhiên trong một chỉnh thể sinh thái cân đối. Dấu vết của các vấn đề sinh thái là một phương diện chính yếu làm nên sự độc sáng về phong cách, sự vượt trước về tư tưởng nhân văn trong sáng tác, đặc biệt đối với mảng văn xuôi bởi những thế mạnh của thể loại này.

2. Từ “nhân loại trung tâm luận” (anthropocentrism)… 

Chủ nghĩa nhân văn, với quan điểm “nhân loại trung tâm luận” có mầm mống từ trào lưu văn hóa Phục hưng. Ngay khi bước ra khỏi đêm trường trung cổ, từ chỗ Thượng đế trung tâm luận, chúng ta đã chuyển hướng sang Nhân loại trung tâm luận và từ đó mặc nhiên xem vị trí trung tâm của con người như một điều hiển nhiên - một huyền thoại. 

Tác phẩm của những nhà văn Nam Bộ thành danh trước Đổi mới (1986) như Sơn Nam, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Động… đã triển diễn tư tưởng sinh thái chủ yếu qua sự gần gũi giữa con người với tự nhiên, nỗ lực của con người làm cho tự nhiên trở nên thân thiện, hữu ích hơn đối với cuộc sống của mình, ở cách con người không xem tự nhiên như nơi lánh trú để đạt bình yên tự tại mà cùng hoạt động năng động trong môi trường thuộc vùng đất mới. Một biểu hiện quan trọng của nhân loại trung tâm luận trong sáng tác của thế hệ này là hành động cải tạo và chinh phục tự nhiên. Với nhiều truyện ngắn trong tập Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam), sông nước, hoang địa trở thành một thách thức của thiên nhiên và một trở ngại nhân tình được lặp đi lặp lại, đó là trở lực trong hành trình đi tới, hành trình mở cõi, cũng là minh chứng cho sự thắng vượt ngoại cảnh của con người. Xuất hiện trước những cây bút đương đại khá lâu, Đoàn Giỏi với Những chuyện lạ về cá, Tê giác giữa ngàn xanh, Rừng đêm xào xạc và cả Đất rừng phương Nam đã cho thấy những quan tâm về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Con người đã xã hội hóa thiên nhiên, biến chúng thành phương tiện sinh lợi của thương mại. Người viết đưa ra những biểu hiện rất cụ thể về việc con người lấy mình làm trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và trong các hoạt động liên quan đến nó. Trong Rừng đêm xào xạc, ta thấy được mong muốn cải tạo thiên nhiên để phục vụ cuộc sống của con người. Ở Những chuyện lạ về cá, tác giả xem tự nhiên như một đối tượng để khai thác, một vật mẫu cho các nghiên cứu của con người. Nhà văn nhiều lần nhắc đến việc săn bắt cá, từ những loài cá nhỏ đến cá mập, cá sấu. Suy nghĩ của An (Đất rừng phương Nam) sau khi ông Hai hoàn thành việc bắt cá sấu có thể xem như một tuyên ngôn của huyền thoại nhân loại trung tâm luận trong toàn bộ sáng tác của Đoàn Giỏi: “Hỡi thiên nhiên dữ dội và nham hiểm, ngươi hãy coi chừng. Không một sức mạnh nào ẩn chứa trong ngươi mà con người không khuất phục nổi đâu!” Đó là quan điểm thường trực của chủ nghĩa nhân văn sơ khởi: thiên nhiên là đối tượng để con người chinh phục và chiếm lĩnh, để con người thi triển bản lĩnh, sức mạnh, phẩm chất vượt lên hoàn cảnh, nghịch cảnh của mình. Vợ chồng Ba Đô - Sáu Xoa (Cánh đồng hoang - Nguyễn Quang Sáng) giữ gìn “sự sống duy nhất còn sót lại trên cánh đồng”. Không gian truyện hầu như chẳng có gì khác ngoài đồng nước, cỏ dại. Trong cảnh ấy, thiên nhiên và con người có một sợi dây giao cảm, nhiều lúc như hòa làm một. Mùa nước nổi, cánh đồng ngập trong nước, hai vợ chồng sống bằng tôm cá, lợi dụng con nước nuôi giấu bộ đội. Đến mùa khô, họ lại trồng lúa; những cánh đồng cỏ, những bụi lau sậy thành lớp áo ngụy trang đưa bộ đội vào chiến khu. Không gian sống của gia đình này phản ánh sự gian khổ của người Nam Bộ trong kháng chiến, chứng minh sức sống tiềm tàng cùng vẻ đẹp tâm hồn của những người con chân đất anh hùng.

Điểm chung của các sáng tác theo quan điểm triết mĩ “nhân loại trung tâm luận” là tập trung thể hiện thiên nhiên và con người trong mối quan hệ đối kháng và con người cần phải đấu tranh, chinh phục tự nhiên. Con người đã đặt lợi ích bản thân lên trên lợi ích của tự nhiên, sẵn sàng phá vỡ cân bằng sinh thái nguyên sinh để phục vụ cuộc sống của mình. Quá trình nhân loại hóa tự nhiên xây dựng một viễn cảnh tương lai tưởng chừng tốt đẹp khiến con người nghĩ rằng mình đang cải tạo chứ không tàn phá, song bất cứ sự tác động nào đến tự nhiên xuất phát từ quyền lợi một phía của con người, không xét đến tự nhiên đều ảnh hưởng đến sự hài hòa sinh thái vốn có.

3. … đến “sinh thái trung tâm luận” (ecocentrism) 

Gần 60 năm trước, Sơn Nam, qua sáng tác của mình, đã nêu ra quan hệ người với thiên nhiên và quan hệ người với người. Truyện ngắn của ông mở một con đường riêng biệt vào những đề tài chưa được khai phá trong văn học Việt Nam thời hậu thuộc địa: tìm kiếm và tái tạo cội nguồn văn hóa, căn cước dân tộc và đặc sắc ngôn ngữ. Chúng chạm tới những vấn đề nóng của thế giới hậu hiện đại: lưu dân (immigration), lạc địa (displacement), giạt ra rìa (marginalization), đa chủng tộc (multirace), giao lưu văn hóa (acculturation), văn học sinh thái (ecoliterature). Sự vượt trước trong mảng “văn học xanh” (green literature) này, với tác giả, cũng là biểu hiện của tinh thần yêu nước. “Yêu nước là yêu cây cỏ sản vật con người lao động quê xứ mình, nói chung là yêu văn hóa và thổ nhưỡng xứ mình, giữ nước là giữ cái đó”(1). Nhà văn đã sớm nhìn thấy một hậu họa buồn khó tránh khỏi cho quê xứ ông khi mượn lời nhân vật trong truyện Nhứt phá sơn lâm đưa ra cảnh báo: “Duy có hai nghề phá sơn lâm đâm hà bá là dễ làm ăn. Nhưng lưới trời lồng lộng không ai chạy khỏi: phá rừng, chài cá khiến con người phải nghèo mạt”. Lời của cụ Lục chùa Sóc Ven trong Hương rừng Cà Mau như một sự “sám hối”, “phản tỉnh” trước Mẹ - Thiên nhiên: “Mình có lỗi với đất với nước. Đất và nước cho mình tất cả cuộc sống, mà mình lại làm nhiều điều không phải với đất, với nước”.

Với truyện ngắn Trang Thế Hy, sinh thái phân vùng rõ rệt thành khu vực thành thị và đồng quê, ngày qua và hiện tại, tương lai. Thành thị trong các truyện tiêu biểu: Bơ vơ, Thèm thơ, Người bào chế thuốc giảm đau, Tiếng khóc và tiếng hát, Nguồn cảm mới… thường gắn với sự tha hóa, trụy lạc trong khi đồng quê - nông thôn chuyên chở trong nó vẻ đẹp của tình người, tình yêu trong sáng, thủy chung (Con cá không biệt tăm, Giả đò yêu, Trong trắng, Sách và chim, Trời xanh như mắt em…). Tương tự, hiện tại gắn liền với sự sa ngã, đọa lạc trong bối cảnh môi trường bị tàn phá nặng nề, đối nghịch là quá khứ nên thơ khi hệ sinh thái chưa có sự áp đặt của nền văn minh; còn tương lai gắn với những niềm tin không tưởng mang nghĩa chuộc lỗi từ hiện tại. Nhà văn đã xoáy sâu vào bản chất thuận theo tự nhiên, vô sự cùng tạo hóa. Có lẽ vì thế, không chỉ trong sáng tác mà ngay trong đời thực, chủ nhân của câu nói nổi tiếng ngang tàng ngạo nghễ “đi chỗ khác chơi” đã chọn chơi với mảnh vườn yên tĩnh của mình.

Sự chiêm nghiệm về vị trí của con người với thiên nhiên thể hiện cái nhìn sâu sắc hơn, biểu hiện rõ nét suy tư của nhà văn về mối quan hệ giữa con người với môi trường sinh thái. Lời trăn trối của vợ Tám Mun (Rừng đêm xào xạc - Đoàn Giỏi) đã xác tín điều này: “Gì thì gì, tía con mầy cũng phải gấp gấp trồng lại rừng đi. Chuyện sống chết như chuyện đánh Mĩ đó”. Là “như” chuyện đánh Mĩ - tức dù cho không có cuộc chiến tranh này đi nữa, thì việc mất rừng cũng sẽ mang đến những hậu quả ghê gớm. Đặt việc trồng rừng, khôi phục tự nhiên ngang với việc chiến đấu gìn giữ đất nước và sinh mệnh nhân dân, thông qua nhân vật của mình, Đoàn Giỏi đã một lần nữa khẳng định vai trò chủ chốt của tự nhiên trong sự tồn sinh của con người. Nhân loại chỉ là một mắt xích trong sinh quyển hài hòa. Giữ gìn cân bằng sinh thái cũng là gìn giữ sự sinh tồn của con người và tất cả các hữu thể phi nhân khác. Thông qua các biến cố của cá nhân, dân tộc, nhà văn đã lật đổ quan điểm lấy con người làm trung tâm thế giới, xác lập một cái nhìn tự nhiên trung tâm luận. 

Tập truyện Lên núi thả mây của Lê Văn Thảo tuy không chủ đích đứng trên lập trường sinh thái nhưng ý nghĩa sinh thái hàm ẩn qua mỗi trang văn là một thực tế không thể phủ nhận. 20 truyện ngắn là hơn hai mươi số phận lặng lẽ tồn vong trong những môi trường sống khắc nghiệt. Đằng sau câu chuyện về thiên nhiên là câu chuyện xã hội, ẩn dưới diễn ngôn về môi sinh cỗi cằn là câu chuyện về sự tha hóa nhân tính của con người. Giữa bối cảnh đô thị hóa chóng mặt, gây áp lực lên môi trường sinh thái, trang viết của ông phần nào đã cho thấy góc tối của văn minh cơ giới và sự lâm nguy của thế giới hiện tồn, bộc lộ khao khát quay về với tự nhiên nguyên sơ, với “thời hồng hoang nguyên thủy vạn vật sống giao hòa” (Kể chuyện nghe chơi). Công cuộc thay đổi, kiến tạo nhân sinh quan mới nhằm xây dựng môi trường sinh thái phát triển bền vững vẫn còn trăm bề khó khăn, đó là một thực trạng đáng lo, đáng buồn. Lê Văn Thảo, bằng trách nhiệm và bản lĩnh của mình, đã không bi quan, thất vọng. Nhà văn vẫn luôn khát khao một sự đổi thay, luôn mơ về một nơi mà ở đó con người sống hòa ái, có trách nhiệm với tự nhiên, với chính môi trường sống của mình. Xuất phát từ quan niệm đó, nhiều truyện đã không che giấu nỗ lực quá khứ hóa hiện tại: phục sinh những hạnh phúc bình dị khi con người được sống như một phần tất yếu của tự nhiên, có thể giao tình cùng vạn vật.

Trong đội ngũ nhà văn viết từ cảm hứng sinh thái đầu thế kỉ XXI, Nguyễn Trí là một “ca” đặc biệt bởi không phải ai đi làm đồ tể, phu đào vàng, khai thác trầm hương… cũng sẽ trở thành văn nhân. Chính những trải nghiệm cuộc đời đã cho tác giả một cái nhìn sâu sắc về sinh thái. Bên cạnh cảm quan đô thị, bốn tập truyện ngắn Bãi vàng, đá quý, trầm hương; Đồ tể; Ảo và sợ; Bay cao thì mặc bay cao và tiểu thuyết Thiên đường ảo vọng cũng nổi bật cảm quan về mối quan hệ và ứng xử của con người với tự nhiên. Để tồn tại, con người không thể sống thiếu tự nhiên; nhưng tư duy con người trung tâm đã dẫn chúng ta tới sự thái quá trong ứng xử với tự nhiên, tàn phá cùng kiệt tự nhiên để phục vụ nhu cầu nhiều khi rất ích kỉ của mình. Môtip quả báo, nghiệp báo là một âm hưởng chủ đạo trong những sáng tác về sinh thái của cây bút miền Đông Nam Bộ này. Linh thiêng hóa tự nhiên, đề cao sức mạnh huyền bí của tự nhiên là ẩn dụ của sự giải thiêng tinh thần “nhân loại trung tâm luận”. Nhà văn để cho những kẻ ăn của rừng phát ngôn như một sự tự nhận thức về lẽ công bằng sinh thái - cũng là ý hướng trung tâm hóa tự nhiên: “Rừng linh hiển lắm, không nghe ăn của rừng rưng rưng nước mắt sao?” (Tiền rừng). Chừng nào con người chưa Giã từ vàng, chưa nhận thức Nhãn tiền, Quả báo mà Đổi nghề thì tự nhiên vẫn còn bị tàn phá, hủy diệt và vô hình trung con người đang tự hủy diệt chính mình.

Nếu Nguyễn Trí viết từ cảm hứng chiêm nghiệm của người vì cuộc mưu sinh mà lỡ gây sự với tự nhiên, xử sự chưa đẹp với ngàn thiêng, sông suối thì Nguyễn Ngọc Tư, cả truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết đều ra đời trong cảm thức của đứa con ngày ngày đối diện với nỗi đau của Mẹ - Thiên nhiên. Bằng thiên tính nữ, với một tình yêu gần như là máu thịt, chị đã tái hiện chân thực những đổi thay của môi trường bởi làn sóng di cư chặt cây, phá rừng, lấn biển, để rồi “ước mơ đất của em tôi, của người yêu thiên nhiên đã đau đớn gục xuống”. Một trong những hình ảnh trở đi trở lại trong tập tản văn Đong tấm lòng là cây xanh (Xứ cây, Cúi xuống che chung, Một cách khóc,…). Song hành với cây là vườn; chúng không phải thuộc quyền sở hữu của riêng chủ nhân mà họ là đồng sở hữu với cỏ cây, chim chóc. Những khu vườn này không những nuôi sống con người mà còn dạy người ta về đạo lí làm người. Đó là lòng biết ơn tạo hóa, biết khiêm cung khi sống giữa muôn loài và chỉ nhận cho mình những gì mình đáng được nhận. Trọng thị và tôn thờ các giá trị tự nhiên là điểm nhấn của cuốn sách. Tác giả không phủ định hoàn toàn giá trị của nhân loại trong cuộc sống nhưng chị đã bày tỏ một phong cách, thái độ hòa đồng, cầu thị trong ứng xử với vạn vật.

Bên cạnh mảng sáng tác có bề dày truyền thống và đạt nhiều thành tựu về sinh thái nông thôn, những tác phẩm về đề tài đô thị của Dạ Ngân, Lý Lan, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Nhật Ánh, Võ Đắc Danh, Phan Thị Vàng Anh, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Thu Phương, Trần Huy Minh Phương,… đã kịp thời cấp báo về hậu quả của lối sống thờ ơ, vô cảm của con người trước thảm họa môi trường, khiến họ trôi dạt, vong thân, trở thành tha nhân cả với chính mình giữa phố thị triền miên kẹt xe, đào đường, cây đổ, nước ngập… Vi rút vô cảm trước môi trường cũng gây hậu quả khôn lường cho con người, không thua gì các bệnh truyền nhiễm, nan y. Phải chung tay phục sinh môi trường, đó là thông điệp mà người viết muốn gởi đến cư dân đô thị nói riêng và độc giả nói chung: “Hãy cứu lấy những khoảng xanh, hãy cứu lấy những thảm cỏ công viên úa tàn vì bị dẫm nát chỉ sau một tuần hội chợ đầy người mua sắm. Hãy cứu lấy những hàng cây cổ thụ bị đốn ngã không thương tiếc để mở đường hay xây dựng chung cư. Đừng đành lòng làm kẻ vô tâm quá đỗi nếu còn xem thiên nhiên là bè bạn” (Những khoảng xanh Sài Gòn - Huỳnh Như Phương).

Chuyển từ quan niệm thế giới tự nhiên được nhìn thấy chủ yếu như là một nguồn tài nguyên cho con người sang cái nhìn về vị trí chủ đạo của tự nhiên đối với đời sống sinh thái trên trái đất, nhà văn đã hoàn thiện con đường giải huyền thoại bằng việc cho thấy những nỗ lực của con người trong việc phục hồi tự nhiên, sửa chữa sai lầm của chủ nghĩa nhân văn kiêu ngạo. Trực diện phản tư về chính tư duy nhân loại trung tâm luận, văn chương của họ không hề che giấu ý hướng xem thiên nhiên như một người bạn trầm tĩnh và minh triết, thiết thân mà lạ lẫm, gọi mời. Ở đó, con người, để khai tâm dưỡng tính, hoàn thiện bản thân phải biết thường xuyên thực hiện “nghi lễ trò chuyện với thiên nhiên”, nhìn vào thiên nhiên để nhận diện chính mình. Từ chỗ nhân loại hóa tự nhiên, con người đã bắt đầu thiên nhiên hóa vị trí của mình: “Đất thảo thơm nên người thảo thơm, cây cỏ thảo thơm” (Vườn cũ - Nguyễn Ngọc Tư).

4. Thông điệp môi trường - thông điệp văn chương 

Văn xuôi mang tinh thần sinh thái ở Nam Bộ là nơi nhà văn gởi gắm ước mơ, khao khát về một thế giới mà con người và vạn vật đều được chung sống hòa thuận trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng, cùng có lợi. Ở đó, con người có được may mắn lớn nhất là không còn xa lạ với thiên nhiên quanh mình, hòa chung trong một cuộc chuyện trò không bao giờ ngưng nghỉ giữa bản thân và thiên nhiên để có được những niềm vui, hạnh phúc nguyên lành, thánh thiện, bình dị mà đằm sâu, đơn sơ mà bền chặt. Có lẽ vì thế, mô típ về với Mẹ - Thiên nhiên thường xuất hiện trong văn xuôi Nam Bộ. Nhiều nhân vật biết lắng nghe lời thôi thúc, vẫy gọi của tự nhiên để lên đường về với “một vùng xanh an ủi”. Chung tay kiến dựng một môi trường thật đàng hoàng, tử tế để sống thì rất cần; nhưng càng cần hơn là làm sao đặt vào đó những con người biết sống đúng nghĩa đàng hoàng, tử tế.

Tư tưởng chia sẻ môi trường sống giữa các giống, loài trong tự nhiên cũng là tư tưởng cấp tiến trong thế giới hiện nay. Chống lại việc giam hãm, bức tử môi trường (cả môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa) là một trong những chủ trương và đường lối chủ đạo của văn học sinh thái. Đó là lí do mà những nhà văn phương Nam, từ lớp người hiền ngấm trải nhiều thời cuộc, cảnh ngộ đến các cây bút trẻ thời kinh tế thị trường thường nhận mình là người “bào chế thuốc giảm đau” cho những vết thương thành thị, đồng quê.

Khuynh hướng yêu thiên nhiên, quan tâm đến môi trường, có tinh thần hòa bình, có cách sống vượt ra những chiêu dụ cùng ảnh hưởng của đời sống đô thị hóa, của kinh tế tiêu thụ trong văn xuôi Nam Bộ đã xây dựng và cổ vũ quan niệm thẩm mĩ sinh thái: con người chỉ đẹp khi làm đẹp thiên nhiên. Hòa ái, trân quý tự nhiên, làm đẹp môi trường từ những điều nhỏ nhặt nhất là biểu hiện thành thật của văn hóa, nhân tính. Với người sáng tác, một khi quay mặt, xa cách, đánh mất tự nhiên cũng chính là cầm tù, tha hóa bản thân, chặn đường đến với công chúng của tác phẩm. Trước khi trở thành nhà văn viết về môi trường, phải biết yêu quý nó, sống có trách nhiệm và thiết tha với nó - cũng chính là trung thực, đắm đuối cùng trang viết - cuộc đời mình: “Lãnh đạm với nơi ta ở, xét ra cũng bạc tình khác nào hờ hững với người ta yêu. (…) Đó là sự khác nhau giữa nghệ thuật và cuộc đời và cũng là cái giá phải trả cho một kinh nghiệm sống chung mà không thực lòng gắn bó!” (Ngổn ngang phố xá - Nguyễn Nhật Ánh).

Sinh thái như một cái áo; và người viết, muốn qua lớp áo đó, mục kích thực trạng đất nước, con người, để hiện thực hóa quyền được là mình, quyền được cất lên tiếng nói, nghĩa vụ công dân của mình. Những quan niệm mới mẻ, tích cực như thế đã góp phần làm cho mảng sáng tác này luôn có sức hút từ ý thức trách nhiệm đối với môi trường, với sự bền vững của môi sinh, yêu thương, cứu chuộc song hành với những ân hận, mặc cảm trước thiên nhiên, cây cỏ… Đó là nét đáng trân quý của nhân văn sinh thái. Vang lên từ những trang viết ấy là thức nhận: với con người, đặc biệt là nghệ sĩ, có lẽ “hạnh phúc nhất là được chơi với thiên nhiên. Lẽ dĩ nhiên là phải ráng chơi làm sao cho coi được” (Người thì chơi với ai? - Trần Nhã Thụy).

Tôn trọng lối sống cộng sinh giữa con người và môi trường, khẩn thiết rung hồi chuông cảnh báo con người về những nguy cơ tha hóa sinh thái nhãn tiền và mai hậu, đó là một thái độ đầy tính xây dựng mà các nhà văn Nam Bộ hôm qua và hôm nay đang chung tay kiến tạo. Đó cũng là nền tảng của giá trị vừa bền vững vừa đậm tính thời sự của văn học, khẳng định tầm vóc văn hóa - tư tưởng của tác phẩm, của nhà văn.

BÙI THANH TRUYỀN
Theo T/c Sông Hương

___________________
(1) Lý Lan, Bày tỏ tình yêu, Nxb. Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 2009, trang 55.



Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019

CÓ MỘT DÒNG SÔNG ĐÁY TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU

Mỗi nhà thơ đích thực đều kỳ vọng tạo lập một vùng đất, một địa danh, một không gian văn hóa xác tín chân thi của mình, từ đó mà tỏa vọng đến một không gian rộng lớn hơn, sâu sắc hơn trong thế giới và vẻ đẹp của thi ca. Có nhà thơ “địa danh” là phong cách, giọng điệu, là dòng chảy ngôn ngữ, hệ thống thi ảnh,…; lại có nhà thơ có cả giọng điệu và tiếng nói từ thẳm sâu tâm hồn, sự giăng níu về một vùng đất máu thịt, tạo dựng nên không gian thi cảm riêng, và lớn hơn, không gian văn hóa của thơ mình. Trên góc nhìn này, Nguyễn Quang Thiều có một sông Đáy.
Nhà thơ Trần Quang Quý tham luận tại toạ đàm
Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều

Khởi nguồn

Sông Đáy của Nguyễn Quang Thiều như biểu tượng nguồn chảy sáng tạo, đánh thức mọi ký ức, xúc cảm và suy tưởng của thơ ông. Dòng sông ấy vừa trở nên kỳ vĩ, vừa đau đáu trong tâm thức thi ca và vẻ đẹp thẩm mỹ lộng lẫy. Mặc dù, trước ông đã có một sông Đáy mảnh, dịu dàng, thật lãng mạn trong thơ Quang Dũng: “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc/ Sáo diều vi vút thổi đêm trăng”. Một sông Đáy dùng dằng, xao xuyến thế niềm thương và thi sĩ, một đặc trưng thơ Hữu Thỉnh: “Sông Đáy ở đâu về/ Chia hai bờ nội ngoại/ Bên lở và bên bồi/ Cùng tương tư đất bãi”. Và giờ đây, sông Đáy trong tâm thế Nguyễn Quang Thiều hiện lên thế này: “Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được thấy/ Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ được dàn dụa nước mưa sông”. Nỗi nhớ chảy miên man sông Đáy qua cấu trúc câu thơ dài, gần văn xuôi, như muốn chảy mãi, bứt khỏi cái hữu hạn của biểu hiện.

Đó là vùng của những thi ảnh giàu sắc thái tình cảm, đa biểu tượng, những suy tưởng vượt ra không gian vốn rất bó hẹp của những ngôi làng Bắc bộ thông thường, hay một sông Đáy đơn mảnh, liu điu đời thực. Con sông của hình bóng những người thân giăng níu, của cảnh vật và thiên nhiên vừa gần gũi, như đâu đó trong không gian tương tự, lại vừa lạ, vừa huyền ảo, ăm ắp và dào lên dòng chảy ký ức Nguyễn Quang Thiều. Con sông như ông tự sự: “Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả/ Tôi dụi mặt vào lưng người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm…”. Con sông của miền tâm tưởng, “cơn mơ vang tiếng cá quẫy tuột câu như một tiếng nấc”; nơi những chú bống thường về làm tổ; nơi “một cây ngô cuối vụ khô gầy/ suốt đời buồn trong tiếng lá reo”.

Cái con sông bùi ngùi thế phận, đằm sâu hơi thở quê làng: “Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi… chiều nay tôi trở lại/ Mẹ tôi đã già như cát bên bờ/ Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi/ Tôi quỳ xuống vốc cát ấp vào mặt…”. Con sông mà ít nhất, ông lặp lại hai lần về sự “già như cát” khi kể về nó, đủ để nói những ám ảnh dòng sông nguồn cội của ông: “Chiều nay con ngồi ho bên cửa/ Bao sợi mưa đứt hết cuối trời/ Con chờ đợi nỗi niềm già như cát/ Lặng lẽ suốt đời cởi áo thả vào sông” (Những con thuyền sông Đáy). Và, con sông ấy dường luôn chuyển động trong giằng xé hệ tầng tâm thức nhị trùng dòng chảy thực và ảo, đau đáu niềm quê: “Ta chạy đến hai phía bờ, quỳ xuống trước sông/ Sông ở giữa đôi ta - một chân trời chuyển động/ Những vầng mây xỉn màu vì gió/ Những cánh buồm khổ đau tự xé và tự vá lại mình/ Những con bống sông, những chiếc chìa khóa vàng, đang mở cửa” (Dòng sông). Và cũng thật lạ, con sông Đáy thực ra, về tầm vóc, dòng chảy,… đâu có bằng những dòng sông cuồn cuộn sử thi: Hồng Hà, Đà Giang, Cửu Long mà nhiều câu thơ đẹp, thi sĩ đến thế của nhiều thế hệ các nhà thơ!

Rõ ràng, con sông Đáy được sống, vươn lên bằng một tâm hồn khác, một đời sống khác. Nó trở nên kỳ vĩ và lay động trong nhớ thương của một tâm hồn đa mang nguồn cội, tâm hồn Việt, mà ta thấy cấp độ cảm thức nguồn cội còn ở nhiều bài khác: Bài hát về cố hương, Mười một khúc cảm,... Ở đó, những cảm thức và khát vọng, tưởng như là phi lý, siêu thực, “dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy” lại như là điểm nhìn ấn tượng, điểm nhấn của không gian văn hóa vùng sông Đáy, nó cũng báo hiệu những thi ảnh lộng lẫy, những cảm xúc và liên tưởng lạ, những suy tưởng phong phú từ chiều sâu linh hồn đời sống vật thể của Nguyễn Quang Thiều. Sông Đáy, trong tâm thế thi sĩ và tinh thần ông, nó có quyền vươn chảy ngạo nghễ như sông Đà, Hồng Hà, Cửu Long, Volga, sông Hằng, sông Nile,… những con sông kỳ vĩ khác của thế giới.

Sông Đáy của những khát vọng giải phóng

Khi đọc những câu thơ: “Người nông dân bế tôi lên và đặt vào thùng xe/ Dưới vành nón của người cất lên trầm trầm giọng hát/ Như tiếng lúa khô chảy vào trong cót/ Như đất ấm trào lên trong lóe sáng lưỡi cày…/ Và sau tiếng huầy ơ như tiếng người chợt thức/ Những ngọn ban mai mơn mởn rướn mình”, tôi có cảm giác con đường và bánh xe trâu đi trong cõi ảo huyền của thiên nhiên, của những bánh xe cổ tích; lại vừa có cảm giác như đó là chiếc xe ngựa trên thảo nguyên mênh mông Nga một sáng tinh sương. Những câu thơ thật đẹp, biểu lộ một khả năng khơi gợi và lôi cuốn người ta vào những câu chuyện làng và cõi huyền thi của ông. Trên con đường chập choạng tối sáng ấy, thấy một ban mai tràn trề sức sống “mơn mởn rướn mình”, ánh sáng nguyên thể của thiên nhiên trong khao khát soi chiếu và giải phóng những thân phận, những nỗi buồn cô thế và mơ ước làng. Ta sẽ còn gặp thứ ánh sáng toàn hệ của tinh thần thơ ông sau nữa.

Trong số những “nhân vật”, hay những thân phận mà Nguyễn Quang Thiều dành sự quan tâm đặc biệt là người phụ nữ nông thôn. Như trên ta thấy, hình bóng người mẹ luôn gắn với những thức trở sông Đáy. Mẹ cũng là dòng sông cần lao, dòng sông nhân nghĩa, bao dung nhất. Ngoài ký ức sâu đậm về mẹ, những người đàn bà ở vùng quê sông Đáy thường hiện ra trong thơ ông bằng những nét khắc lạ lùng, ấn tượng, như người họa sĩ có phong cách vẽ chân dung “bóp” hình, tạo những “dị biệt” về hình và các dấu nhấn về mảng khối. Đây là khuôn hình những người vợ liệt sĩ: “Những người đàn bà góa bụa làng tôi từ sau cỏ trở về. Họ đi trên ánh trăng gồ ghề dọc con đường phơi đầy rơm rạ tháng Mười. Mái tóc đẫm hương lá bưởi của họ chảy lênh láng trong trăng. Bầu vú họ vươn về phía ngọn lửa giới tính vừa nhóm lên sau đó” (Những ví dụ). Ánh trăng huyền ảo, ma mị vừa xoa dịu nỗi đau trần thế nơi những người vợ liệt sĩ, vừa nhóm lên trong họ những khát vọng vươn về phía ngọn lửa nhân sinh.

Cũng trên cơ sở biểu hiện và thi ảnh ấn tượng này, một mảng đời sống khác của người phụ nữ hiện ra: “Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải sát mép đại lộ/ Họ lặng lẽ như đội quân thất trận/ Cán dậm chúi xuống mặt đường – những nòng súng hết đạn/ Những tấm áo rách sặc mùi bùn phơi trong lòng dậm như cờ ngày việc làng giã đám/ Vảy cá bám trên áo họ lấp lánh những tấm huân chương” (Trên đại lộ). Sự lam lũ, nhếch nhác của những người phụ nữ nông thôn ví như đoàn quân thất trận, cán dậm như nòng súng hết đạn, vảy cá là những tấm huân chương lấp lánh… lối ví chẳng lạ và ấn tượng sao! Trường liên tưởng mới lạ, và cấu trúc câu dài, không vần, “văn xuôi hóa”, tạo nên ấn tượng rung thức mới, sắc hình mới trong thơ Nguyễn Quang Thiều, ngay cả ở những hình bóng quê làng, tần tảo mà người ta vẫn nhìn nó một cách khuôn mẫu, bất biến muôn thuở. 

Và cuộc sống cứ nối nhau như thế ở một miền sông Đáy, như một bản trường ca bất tận về thế phận những người phụ nữ, đại diện cho thế phận người, thế phận làng: “Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái/ Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy/ Những người đàn bà xuống gánh nước sông/ Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt/ Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi/ Bàn tay kia bấu vào mây trắng” (Những người đàn bà gánh nước sông). Nhưng thế phận ấy dường không chịu cầm cố mười lăm năm, ba mươi năm hay nửa đời người, dẫu thế, mà luôn nuôi khát vọng vượt thoát, khát vọng về ánh sáng: “Đâu đây thơm mùi sữa bà mẹ khe khẽ tràn vào đêm/ Đâu đây những bầu vú con gái tuổi mười lăm như những mầm cây đang nhoi lên khỏi đất” (Bài hát về cố hương).

Sự soi chiếu của tinh thần ánh sáng

Có thể nói, ánh sáng là nguồn “năng lượng” đặc biệt được sử dụng trong thơ Nguyễn Quang Thiều, sau nữa là linh hồn. Ánh sáng không chỉ đơn thuần làm phong phú, tương phản, sống động bức tranh thiên nhiên, rung động tâm hồn mà nó là triết lý của soi chiếu, thức tỉnh, giải thoát và hướng đích. Có lẽ vì vậy, cả một tập thơ được đặt tên Sự mất ngủ của lửa. Ngay cả cái tên này cũng gây tranh cãi một thời, rằng lửa có ngủ đâu mà mất ngủ.

Một giai tầng ánh sáng, cấu trúc ánh sáng. Tần suất xuất hiện nhiều nhất trong ánh sáng là ánh trăng và ban mai. Ánh trăng, bề mặt, như biểu tượng giải thoát bóng đêm mờ mịt, xoa dịu cực nhọc của nông thôn. Và ban mai là ánh sáng gợi thức, ánh của hy vọng, mở ra một sinh quyển mới. Ánh sáng trong thơ Nguyễn Quang Thiều còn có nhiều tầng cảm thức khác trong vận động đời sống. Ít nhất trong tuyển thơ Châu thổ, Nguyễn Quang Thiều có hai bài thơ trùng tên Ban mai (trang 36, 290). Hàng loạt bài thơ có tên về ánh sáng (chưa kể rất nhiều câu thơ ánh sáng): Bình minh đang lên (“Và bình minh đang lên như khói, như nước, như da non, như răng mọc lẫy/ Như hai cánh tay trần con gái trinh tiết vươn lên vấn tóc phía sau…/ Cho đến khi từ vòm miệng nồng hôi, nhớp nháp/ Những cái lưỡi của người tìm được lối ra), Những ngọn đồi ban mai, Ngôi sao xanh, Những ngôi sao đổi ngôi, Ngôi sao xanh mọc phía ngọn đồi, Bài ca ban mai trên những quả đồi Achill, Cây ánh sáng,…

Một ánh sáng nói về nguồn cội: “Tôi hát về cố hương tôi/ Trong ánh sáng đèn dầu/ Ngọn đèn đó ông bà tôi để lại/ Đẹp và buồn hơn tất cả những ngọn đèn” (Bài hát về cố hương). Một ánh sáng lãng mạn của tình yêu: “Đêm đã trải tấm khăn của tình yêu xuống cỏ/ Sao xanh/ Sao xanh/ Bay về đồng cỏ” (Một bài hát tình yêu của làng Chùa). Một ánh sáng của sinh tồn: “Đó là lúc con bống đen/ Nổi lên giữa dòng sông Đáy/ Đôi mắt sáng đôi vầng Nhật, Nguyệt/ Đẻ cho ban mai một dải trứng hồng” (Con bống đen đẻ trứng).

Nhưng ánh sáng còn được “dựng” bằng những mảng khối động, những sắc thái rất khác nhau: “Cát nóng bỏng mải miết chảy qua cổ họng ta/ Ta nuốt từng vốc sa mạc vào ngực…/ Những lá buồm lóe lên ánh sáng thủy thần/ Ta nghe tiếng dây buộc chèo xiết rên tóe máu”; “Em quẫy trong tay ta như một con cá/ Rồi bỏ ta chạy vào lối ngõ không trăng” (Mười một khúc cảm, khúc VII). Sự chuyển động của ánh sáng bằng những động từ nhanh, mạnh, tạo nên ấn tượng biểu cảm rất năng động của ngữ nghĩa. Nó dựng dậy trạng thái chữ, hồn chữ, từ đó làm sống động, “mọc chân” và “chạy” của đời sống phản ánh.

Ánh sáng, rất nhiều lần được so sánh phi hiện thực: “Bầy ốc sên bò qua vườn trong ánh trăng chói gắt như nắng trời mùa hạ. Những chóp vỏ chói sáng như hạt kim cương đính trên vương miện nữ hoàng đêm dạ hội. Những tấm thân mềm và ướt lướt đi trong êm ái rợn người… Vệt bò của chúng để lại những dòng sáng đặc lóng lánh, những vệt sao đổi ngôi đọng mãi trên trời” (Chuyển động). Quả là cả một sự chuyển động của hình khối, không chỉ là cái cớ bầy ốc sên (ốc sên quá nhỏ bé), mà là chuyển động dòng sáng, dòng ý thức. Có thể cảm nhận được không, cái ánh trăng “chói gắt như nắng trời mùa hạ”? Lối ví, lối so sánh cường điệu, thậm chí phi lý, siêu thực để tạo nên một ánh sáng khác lạ, những ý niệm khác về không gian và chuyển động của sắc màu đời sống. Thấy đây nữa, cái khoảnh khắc chuyển động lạ kỳ của ánh sáng: “Lưỡi dao rọc giấy lóe sáng như hàm răng một người lạ đang cười/ Tiếng con dế bị giam cầm trong góc nhà vươn lên một con đường cỏ dại” (Mười một khúc cảm); và “Hai bàn tay tôi hai chiếc thìa nạm bạc nham nhở/ Đang múc từng thìa trăng” (Dưới trăng và một bậc cửa). Ánh sáng khai quật bóng đêm vật thể, bóng đêm tiềm thức. Và ở đây, thi sĩ như nhà thiết kế ánh sáng, các góc chiếu, phối màu cho một sân khấu hoành tráng thi phẩm của ông.

Thức động những linh hồn

Không gian sông Đáy của Nguyễn Quang Thiều còn là bầu sinh quyển đa dạng, không chỉ con người, dòng sông, cánh đồng, vườn tược. Một thế giới cảnh vật, từ loài côn trùng nhỏ bé, lạ lùng như: “Bầy kiến đen đi qua bàn tiệc/ Như lang thang qua bãi chiến trường/ Đầy mảnh thịt của gia súc/ Đầy xác chết của rau thơm/ Quả ớt đỏ như lá cờ rách nát/ Bầy kiến ôm lên đắng cay nhòa mắt”, đến vũ hội đầy bọ chó, con cóc già lơ đễnh, nhện cỏ, ốc sên, chim đêm, chó, mèo, bò,… Mỗi vật thể, sinh thể là một đời sống, một thế giới, và vì vậy chúng đều có linh hồn. Ánh sáng soi chiếu và thức động linh hồn vật thể là cách nhìn căn bản nhất, tôn trọng thế giới cả tâm linh vô hình, lẫn hiện thực hữu hình. Đó là cái nhìn nhân bản, bình đẳng về sinh quyền. Ta như lạc vào xứ sở của những điều kỳ lạ trong tâm hồn thơ ông. Cũng là những khát vọng được trở về với thiên nhiên, nguồn cội mãnh liệt.

Dưới cách nhìn ấy, thơ Nguyễn Quang Thiều nhiều nhân tố “linh hồn”. Ông muốn thổi vào mọi vật thể một linh hồn, hay đúng hơn là đánh thức linh hồn ấy. Nghĩa là, mỗi vật thể quanh ta, dù nhỏ bé đến đâu, đều có ngôn ngữ, có khát vọng, có đời sống tinh thần của nó. Có điều, nhà thơ có tiếp cận, có chạm vào được, đánh thức được những tâm hồn còn khép kín đó hay không. Có thể kể ra hàng loạt những câu thơ được gieo cấy “linh hồn” như vậy: “Rượu câm lặng chở những linh hồn rắn/ Có một kẻ say hát lên bằng nọc độc trong bình” (Trong quán rượu rắn); “Linh hồn của đàn bò/ bay trên cánh đồng/ của những con bò khác” (Linh hồn những con bò); “Có ai đó gọi tôi qua linh hồn của ô cửa sổ/ Có ai đó gọi tôi dọc linh hồn của những ngõ sâu” (Con bống đen đẻ trứng); “Linh hồn cây vục dậy từ ổ lá mục” (Dưới trăng và một bậc cửa); “Linh hồn của những người chết trên mảnh đất này/ Bay lượn nặng nề cùng linh hồn những chiếc thuyền thúng/ Và linh hồn những con chó chạy ra mép nước sủa vang đón linh hồn những ông chủ…/ Và bên này hồ nước linh hồn những người đàn bà góa bụa/ Đang xé tan linh hồn những váy và linh hồn những yếm/ Đang cào xước linh hồn những bầu vú đắng cay và khát vọng cháy…/ Linh hồn của những quạ khoang đậu trên cành của những linh hồn của một cái cây cụt ngọn…/ Dưới gốc thông già, linh hồn cái đầu của một nhà thơ đang đọc một linh hồn sách” (Bài ca những con chim đêm). 

Những lớp lớp linh hồn có vẻ không tiết chế, cứ nối nhau câu thêm câu, hình thêm hình, đến mức có cảm giác thi sĩ lạm dụng sức tưởng tượng phong phú của mình làm cho ý thơ, câu thơ cầu kỳ, tá hỏa những linh hồn; dựng dậy cả bãi tha ma những linh hồn bay lượn, giống những bộ phim kinh dị về hồn ma của Hollywood. Nó nhắc ta, có một thế giới khác, một năng lượng khác mà người ta không thể chỉ nhìn bề mặt, một mặt phẳng.


Hợp lưu

Sông Đáy của Nguyễn Quang Thiều có thể gọi là dòng năng lượng cảm xúc dồi dào, nội lực sáng tạo mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, trường liên tưởng rộng, mới lạ. Những câu thơ phức, nhịp dài, góc cạnh, như những mảng khối của sắc màu và cảm xúc tuôn chảy, với cấu trúc dòng ý thức “tõe” (chân gà) và ào chảy của dòng sông, không chú trọng vào logic tuyến và sự tập trung khái quát, làm rõ cho một tư tưởng chủ đạo trên khung thi tứ, mà chú trọng sự tự biểu hiện, “tự quyết” của “liên minh” những hình tượng, những vụt sáng của tâm trạng trong một trật tự khá tự do. Tuy những câu thơ của ông có xu hướng trải dài, tõe rộng, nhưng người đọc không có cảm giác loãng, bởi lôi cuốn của tốc độ và bộn bề hình tượng; thậm chí nhiều khi cảm thấy chật chội thi ảnh, bịt bùng ý tưởng như bước vào một cánh rừng rậm, khó nhận biết phải đi bằng lối nào.

Sau Sự mất ngủ của lửa (Nxb. Lao động, 1992; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1993), Nguyễn Quang Thiều viết nhiều thơ dài, nhiều nội hàm phản ánh, những “tổ hợp” thơ nhiều khúc, nhiều chương, vẫn là tông sự chuyển động của nhiều hình tượng lạ, nhiều khi mờ mịt biện lý, những va đập của khúc thức và tâm trạng… Và như vậy, đọc ông thì quả là mệt, nếu không kiên nhẫn cuốn theo cách tư duy và ngôn ngữ biểu hiện đa tầng thơ ông. Theo tôi, trên con đường cao tốc, cuồn cuộn bánh xe thơ từ những ngả tiềm thức và tinh thần quật khởi dồn về, cần có những “trạm nghỉ”, những khoảng lặng, giúp người ta thả lỏng tâm hồn để thẩm thấu nguồn năng lượng tiềm ẩn thơ ông. Những khoảng lặng sau mỗi khổ thơ, câu thơ, là những ngân rung, vang xa, ngẫm ngợi, mà bâng khuâng thư thái (thưởng thức), thậm chí “chết lặng” sau vẻ đẹp tự nhiên của câu chữ, thay vì trĩu nặng và dồn dập của suy tưởng. Là nói vậy, bởi đó là phong cách, giọng điệu riêng của tác giả, muốn điều chỉnh, cũng khó chẳng khác gì khi lựa chọn, kiến thiết và định hình nó.

Có lẽ vì thế, từ Sự mất ngủ của lửa trở đi, dư luận đa chiều khen chê thơ ông khá sôi nổi. Có nhiều người yêu thích thơ ông, thậm chí photocopy cách biểu hiện của ông, đặc biệt là ở một số nhà thơ trẻ. Sự yêu mến của thi hữu đến mức bối rối, khi cho rằng ông “đã xác lập một trường phái thơ mới” (trường phái phải gọi được tên, phải có chủ thuyết, phương pháp sáng tác và có nhóm thực hiện), hoặc “vừa xuất phát đã chạm đích thơ”? (nghệ thuật đích không cùng, khám phá mãi mãi)… Lại không ít người cho rằng thơ ông là “tây dịch”, là mịt mù, hũ nút, là làm hỏng thơ ta. Nói như Mai Văn Phấn: “Nhiều bạn trẻ say thơ ông như điếu đổ. Cũng không ít các nhà thơ lớp trước chửi như hát hay… Nhưng sau cơn bốc đồng chê như hắt nước đổ đi, họ cũng lặng lẽ nhận ra: từ nay họ không thể viết như cũ”.

 Thực ra, thơ Nguyễn Quang Thiều không quá khó hiểu và nó vẫn là hơi thở Việt thấm đẫm trong hồn sông Đáy. Có chăng, nó được “trình diễn” dưới một hình thức và nội cảm riêng, mới mẻ, khác lạ so với cách nói thông thường, quen thuộc của số đông, trong thơ Việt suốt nhiều thập kỷ trước đó, mà người ta cũng rất dễ bị đánh lừa bằng thói quen cảm thụ. Có chăng, ông nhìn bản chất sự vật, những chớp lóe “linh hồn” đời sống bằng hệ quy chiếu ngôn ngữ của ông, trí tưởng tượng của ông. Trí tưởng tượng phong phú, mạnh mẽ là tiềm lực và nền tảng quan trọng bậc nhất của tài năng. Và sự khen chê, tranh cãi trái chiều lại là điều khá thú vị về thơ ông, bởi ít nhất họ đã đọc ông, bị tác động mạnh bởi giọng thơ ông. Cũng là sinh hoạt dân chủ trong cảm thụ và thưởng thức, ngoại trừ những động cơ khác.

Nhưng điều quan trọng là, Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra một nguồn lực mạnh mẽ, mới lạ, đặc biệt của mình, đó là nguồn sông Đáy, vẻ đẹp huyền thi sông Đáy của riêng ông. Tôi cho rằng, với việc tạo dựng nên vùng văn hóa sông Đáy, với đầy đủ biểu tượng thi ca của nó như đã đề cập, là sự thành công và đóng góp quan trọng nhất của Nguyễn Quang Thiều, bằng thi pháp và nội cảm, để tạo dựng nên không gian thơ mình, trong sự chuyển động và hội nhập của không gian thơ Việt; ngoài ý nghĩa đó, ta cũng có thể gặp những suy tưởng lạ lùng, những cấu trúc thơ đa phức, những tư duy thơ mạnh mẽ, táo bạo của thế giới, những trường phái này nọ, nó không phải là “đặc sản” Việt Nam, chỉ mới có ở Việt Nam. 

Hà Nội, ngày 14.5.2012
TRẦN QUANG QUÝ
Tham luận tại toạ đàm “Thơ VN hiện đại và NQT”


LÊ CHÍ VÀ THƠ

Tôi làm xuất bản, mấy lần bảo Lê Chí làm tuyển tập, anh phản đối. Tôi hỏi vì sao, anh bảo, mình tự biết mình, thương người đọc lắm ông ơi! Thời buổi này ai đọc thơ mua thơ. Mà không bán được thì…
Nhà thơ Lê Chí

Trước khi quen nhà thơ Lê Chí tôi luôn luôn nghĩ tính khí người Nam bộ phóng khoáng rộng dài, không có chuyện phải cân đo đong đếm chi li trong mọi chuyện như kiểu đa phần dân Bắc. Lúc quen rồi, chơi thân với anh ngay tại xứ Cà Mau và Cần Thơ, về ở hẳn trong nhà anh cả tháng trời, khi vô miệt vườn, theo anh đi nhậu. Khi ra chợ, cùng đánh đu với bạn bè thơ phú văn chương nhậu nhẹt. Có hôm trắng đêm. Có bữa thấu ngày. Thấy Lê Chí uống rượu dai dẳng, không ồn ào như tôi. Cũng không vội vã tất bật như Nguyễn Trọng Tín. (Tín kêu Lê Chí là chú). Anh lúc nào cũng tà tà điềm tĩnh, chơi với ai cũng cần mẫn chỉn chu. Ngồi với ai cũng ngồi hết chuyện, tàn cuộc. Tôi đi với anh ngày nào cũng “lên bờ xuống ruộng” mà anh thì chỉ cười cười. Nhiều lúc thấy anh chu đáo như bà chị: tỉ mẩn, gọn gàng, chả thấy anh rộng dài phóng túng “nam bộ” chút nào. Anh lo cơm áo gạo tiền cho bạn đi nhậu cũng tỉnh bơ. Nhà cửa lúc nào cũng gọn gàng tinh tươm, mực thước. Thấy anh ân cần nhiều khi rất ngại, nhưng riết thành quen, thành buông tuồng suồng sã. Có lần tôi hỏi, sao cứ phải kỹ lưỡng quá vậy làm gì. Anh cười, bảo tính trời vậy rồi ông ơi. Có lần kiếm được con lươn to ngang cườm tay, anh bỏ vô bị, tha lên Sài Gòn gọi tôi và Lê Văn Thảo ra “xử”. Anh có cái thú chỉ thích ngồi nhìn bạn bè đánh chén một bữa, rồi lặng lẽ quay về. Ai nói gì tùy ai. Lê Chí nghe và không mấy khi bình luận. 

Tôi đi Nga, ở chung với anh ba tháng. Ngày ấy người người tất bật lo mua bán, riêng Lê Chí cứ bình chân như vại. Hai anh em tôi cũng đi xem, cũng xáp vô xếp hàng lo mua bàn là may-so nhưng không phải mồ hôi mồ kê như một số bạn. Thế mà lúc về nước cũng đủ “định lượng” mỗi anh mấy thùng như ai. Tôi rất ấn tượng khi ra sân bay rồi, Lê Chí đưa cho tôi mấy phong sô cô la, bảo “đem về cho con bé”. Hồi ấy tôi chưa biết gì việc mua quà cáp, lại càng dốt nát cái khoản sô cô la với lại nước hoa, thế mà ông anh rủ rỉ rù rì lại hóa ra “sành điệu” lo trước cho tôi cả hai thứ. Thật ra, không phải anh ít nói, càng không phải hiền lành, mà có lẽ cái tính cực đoan, đã yêu ai thì yêu chí chết, đố có ai chen ngang được. Anh cần mẫn làm thơ, suy đi tính lại sau những cơn ngẫu hứng. Và sau mỗi bài thơ là cả một chuỗi lặng im. Lặng im chiêm nghiệm. Lặng im vật vã. Lặng im cười cợt. Tự giễu mình. Phức tạp hóa mình. Lâu rồi cả thiên hạ lao vô kinh tế thị trường, riêng Lê Chí trước giờ như một. Không tháo vát thêm một tí nào. Thậm chí còn không rục rịch.

Tôi nhớ hồi nhà văn Nguyễn Linh còn sống, ở Cần Thơ, tôi và Nguyễn Trọng Tín ở trong nhà Lê Chí, nhưng suốt ngày đi nhậu với Nguyễn Linh. Tối tối ba thằng say ngất ngưởng về, anh chị lo cơm nước đậy lồng bàn. Tụi tôi toan ăn cơm nguội. Không anh thì chị lụi cụi hâm nóng đặt lên bàn. Nguyễn Linh vốn là anh cán bộ con nhà “quan to” nên dáng vẻ tự tin, ăn nhậu dông dài, thoải mái, chơi với bạn hết mình. Mỗi lần dẫn tôi vô vườn nhậu chơi với mấy bà chị ở giá, tính tình anh phóng khoáng nhẹ nhàng chu đáo và không chút giữ ý. Anh chị em nhậu với nhau vui “quắc cần câu”. Dường như nước sông là rượu mà cá tôm dưới đìa là cá tôm ao nhà. Chúng tôi chỉ việc ra “xổ” một cái, về giũ qua loa, luộc “tốc hành” đổ lên bàn là nhậu cả buổi. Lê Chí chiều Nguyễn Linh hết cỡ. Cái tật của ba anh nhậu xỉn đòi hỏi đủ chuyện. Khi thì kêu con lịch. Lúc ưa ăn thịt rắn. Khi muốn nhậu ba ba, lúc đòi ba cái trứng vịt ung thum thủm nhậu vô bắt nghiền. Lê Chí coi rù rờ vậy nhưng Nguyễn Linh đòi cái là “ba mươi giây” đáp ứng liền. Không cằn nhằn nói qua nói lại.

Từ hồi về Hà Nội, tôi làm xuất bản, thuận hơn trước nhiều. Tôi nhiều lần gọi Lê Chí, bảo anh lo bản thảo cho tôi làm bộ tuyển thơ Lê Chí làm kỷ niệm cho vui. Anh ậm à ậm ừ.  Mãi tới lần mới rồi, tôi nhắc lại ý muốn, anh mới bảo: Thôi, ông làm tuyển cho anh em khác đi. Mình khi khác. Mình phải thư thư cái đã. Quả tình, tôi hơi bị lúng túng rồi suy đi ngẫm lại, mới  nhận ra. Phải đến cái tuổi nào đó với những cuộc hành trình vào đời sống đầy éo le, trắc trở, mới có được cách từ chối “không phiền ai” giản đơn nhẹ nhàng như thế. Anh là bạn sàn sàn cùng lứa với Nguyễn Linh, Nguyễn Thanh. Mỗi anh đi “R” mỗi khác. Mỗi anh bước chân vào ngôi làng văn chương mỗi cách. Nhưng cả ba anh có chung một cách sống kỹ lưỡng, chỉn chu, sâu nặng và tỉnh bơ. Không náo nhiệt ồn ào, kể cả khi rượu vào lời ra. Cái sự “lời ra” của ba anh cũng cùng có chung một nhịp: chậm, rề rề, nhưng quyết liệt, không khoan nhượng. Nguyễn Thanh, Nguyễn Linh viết văn xuôi, còn Lê Chí làm thơ. Thơ anh cũng chậm rãi, rề rề, thỉnh thoảng có những câu thơ bột phát, giản dị mà tinh tế giống như bè bạn trang lứa rì rầm tâm đắc trò chuyện “nghiêm trọng”cùng nhau lúc vui buồn.

“Nhớ là trăm sông đổ dồn biển cả, biển và sông triệu con sóng xôn xao vỗ đến vô cùng. Nhớ đến tự khi nào, ngày tháng ấy tôi thì vô phương nhớ…”.

Tôi nằm võng trên sân thượng nhà mình đung đưa, ngẫm nghĩ hoài về những vần thơ “Nhớ” vừa đọc lại của anh mà lòng rạo rực buồn, rạo rực nhớ thương những tháng ngày đã qua trong trăm nỗi vui buồn. Nhớ khuôn mặt khi tươi roi rói, lúc chùng xuống rầu rầu của Nguyễn Thanh. Nhớ cái dáng hào hoa phong trần của Nguyễn Linh. Ồ, thế mà đã mấy chục năm qua rồi nhỉ. Bây giờ Nguyễn Linh đã biến đi đâu mất ở nơi chốn xa xôi tít mù nào đó rồi. Rồi sẽ có ngày lần lượt cánh tôi cũng đến đó. Tôi lục trong mớ thư từ hồi trước Nguyễn Linh hay viết cho tôi. Nét chữ anh thật đẹp, thật dịu dàng, anh nhắc với tôi rằng, "tụi tao, tao và Lê Chí nhớ “mầy” dữ lắm. Mỗi lần nhậu đều nhắc hoài à". Lê  Chí  thì:  “Hạnh phúc gian nan nhưng trọn vẹn cả tấm lòng, trọn vẹn một đời đáng sống…”. Ấy vậy mà rồi hôm nay có lúc tôi chợt quên, chợt xao nhãng, để rồi có lúc vô tình “lẫn lộn những điều cần nhớ cần quên…”.

Trong sáng tác thi ca hay trong đời sống thực, cái mạnh nhất (và có khi cả là cái yếu nhất) của Lê Chí, có lẽ là đức tính chân thật quá. Thật quá đến căng thẳng. Anh có cái nhìn thẳng thấu vào tâm tư (hay nói đúng hơn, anh nhìn thẳng vào trái tim mình, trái tim người). Anh nhắc nhở mình, nhắc nhở mọi người, gợi cho tôi những cảm nhận những gì mà tôi chưa cảm nhận được: 

“…nỗi nhớ đã tạc thành bia để ta đọc buổi mai này. Không ai được phép đọc nhanh như kẻ qua đường…”.

Anh nhẹ nhàng vỗ vai bạn khi bạn có ý định thanh minh: “Xin đừng đổ vì bận thương bận nhớ mà…”. Lê Chí là người từng trải, vừa hiền lành đôn hậu, vừa nghiêm túc đến quyết liệt, không du di. Anh giản dị và chất phác đến khó chịu. Anh xuề xoà đến dễ gần, khiến ta không bị mặc cảm, khó chịu trước những lời nhắc nhở khá là ráo riết của anh. Đọc anh, tiếp thu được ở anh cái tình nhiều hơn cái lý, cái sâu lắng hiu hiu buồn của cuộc sống đời thường lúc nào cũng thao thiết chộn rộn trong lòng. Đọc thơ anh ta nhận ra tâm tính anh, vừa thật khó chịu lại dễ ưa. Có thể nhận định anh là người dễ tính nhưng không buông thả, “chịu chơi” nhưng tự biết mình, biết bạn, không ồn ào nhưng cởi mở. Đọc anh khiến tôi cứ phải tự vấn, tự chiêm nghiệm lại mình và lòng tôi không nguôi ngoai khắc khoải, đúng hơn là  không yên.

Anh khẳng định: đã là nhà văn nhà thơ thì phải trong sáng thiệt thà, không ba hoa lắt léo. Với anh, người nghệ sĩ chân chính trước hết phải trung thực với mình, trung thực với lý tưởng của mình, không phải chỉ bằng những diễn văn khẩu hiệu, những lời hứa suông. Mà nghệ sĩ là phải “lấy trái tim mình làm nhiệt kế kiểm tra…”, không phải lúc nào cũng kiểm điểm, đổ lỗi cho nhau mà cần “Tự lòng ta ta phải trả lời…”, "Ở đây không ai được cải chính bằng lời, bởi lời lẽ quanh co đang từng ngày lạm phát…”.

Thực ra, nếu trong cuộc sống chưa từng có sự nói dối thì hà tất anh phải nói tới nó! Đọc tới đây tôi chợt mỉm cười, trộm nghĩ cùng tác giả. Và tôi chợt hình dung thấy có người nhăn trán, hỏi: Lê Chí làm gì mà căng thẳng vậy? Và tôi xin giơ tay trả lời dùm: “Anh là một công dân. Anh là một thi sĩ không hài lòng với chính mình”. Tuy nhiên, anh không chỉ có vậy. Anh còn  là nhà thơ yêu thích thiên nhiên, dễ rung cảm trước thiên nhiên. Và cái rung cảm ấy dội sâu vào tâm tưởng để rồi bật ra thành những liên tưởng tinh tế.
Bài thơ văn xuôi “Nhớ” của anh, trước hết đó là thơ - đồng thời đó là tiếng chuông thức tỉnh một tấm lòng thi sĩ luôn khắc khoải trước những biến động của đời sống nhân dân. Nhưng không vì thế mà anh hoang mang. Anh vững tin vào con người: “Bài hát con người xanh thắm tương lai”.

Tôi xin mượn lời một độc giả của anh, chị Út Loan, trong bữa tiệc trên tầng lầu mất điện giữa thị xã Cà Mau: “Tôi đã đọc tập thơ “trúc trắc” của ông Lê Chí rồi. Ông không nói về ai hết mà tự dằn vặt với mình. Thấy khổ quá, buồn quá và cay đắng quá. Nhưng càng đọc, càng nghĩ thì cũng nghe được”. Theo tôi, đó là lời bình luận chân thành và chính xác nhất. Bởi vì, ngay đề từ của tập thơ, Lê Chí viết: “Thơ là nói hết tấm lòng cho nhau”. Mà nói hết tấm lòng cho nhau cũng là nói hết tấm lòng với chính mình vậy.

Lê Chí là người đầy tự tin của một cá tính trầm ấm, không phô trương nhưng có phần khe khắt. Anh khe khắt quá đã hiện lên rất rõ bản tính nhân hậu, khiêm nhường của anh. Trong thơ, Lê Chí bộc lộ nét tinh tế mà sắc sảo: “có khi nói nhiều quá hóa thành câm” (Thao thức). Anh có tấm lòng trong trắng và thành thật, mộc mạc đơn sơ, nhưng không vì thế mà thô thiển: “nhờ đất và trời - để anh được thành bông hoa nở vào buổi tối” (Thao thức). Anh kể chuyện về một cô sinh viên học dở dang khoa luật, rồi theo học y khoa mới ra trường khi miền Nam giải phóng với một tình cảm vuốt ve, nương nhẹ, trân trọng đến nao lòng. Anh kể với người yêu tâm trạng của mình khi ở nơi xa. Tìm bưu điện gọi điện thoại đường dài. Quả là bây giờ chuyện ấy chỉ cần nháy máy di động một cái, là một chuyện bình thường. Nhưng ngày ấy lại không bình thường chút nào, nhất là  khi mà “nỗi thương nhớ có thể làm đường dây cháy” (Điện thoại đường dài). Bởi anh kể bình dị nên người nghe không chút nghi ngờ. Anh ngẫm về sự kiện hoa quỳnh nở với những liên tưởng thật bất ngờ: “hoa quỳnh nở chỉ vì phải nở - như trẻ sơ sinh chín tháng mười (Hoa quỳnh).

Tôi hình dung ra một Lê Chí cứ đi được một đoạn đường đời lại ngừng lại chiêm nghiệm và ta có cảm giác nhà thơ có một quan niệm quá khắc kỷ với mình, với tình yêu và những khao khát tình cảm… Anh chân thành bộc bạch những ý tưởng và những quan niệm của mình, không dè dặt, không né tránh. Và tôi luôn cảm động với tấm lòng thành thật ấy. Ở miền sông nước mênh mông như đồng bằng sông Cửu Long mới sản sinh ra được vẻ đẹp quyến rũ không cầu kỳ phô trương như vẻ đẹp thơ Lê Chí. Đọc anh sau khi chơi bời với anh, tôi bắt gặp một thi sĩ luôn luôn tự quan sát những ý tưởng, những suy tư và nhìn sâu vào chính bản thân mình.

Thơ mang theo cả mùi khét của khói lửa…

Sống cùng Lê Chí dù không nhiều nhưng tôi cũng tự nhận ra mình. Tôi gặp sự cay đắng của đời tôi, của bè bạn tôi. Tôi hiểu ra phần nào sự nghiệt ngã khôn lường của tình yêu cuộc sống và khát vọng, nhất là thời thế hệ chúng tôi, cái sống cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Chúng tôi vui, chúng tôi buồn, chúng tôi suy tư, chúng tôi tự nhận thức, để rồi chúng tôi cùng sống đẹp hơn với thực tại…

Tôi phải tự hạn chế mình để ngưng bút khi viết những lời nhận định về Lê Chí. Nhưng tôi muốn nhắc lại rằng, thơ anh là bản tình ca khắc nghiệt của thế hệ anh, những người vừa bước từ trong “R” ra, còn mang theo mình mùi thơm của rừng  tràm rừng  đước, mang theo cả mùi khét của khói lửa của chết chóc đau thương ròng rã mấy chục năm chiến trận. Mang theo cả tiếng hát, tiếng khóc và tiếng nấc đau thương của quê hương xứ sở để sống cùng bà con nơi bến chợ, đường làng.   

TRUNG TRUNG ĐỈNH
Nguồn: Tiền Phong

NHÀ THƠ HOÀI ANH: VĂN VÀ ĐỜI

“Nói Hoài Anh là nhà thơ là nói cho gọn. Ông còn là nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà báo nữa. Đây là những cái “nhà” đúng nghĩa, đẹp, sang trọng, lịch lãm, không ai có thể hiểu khác đi được. Ông còn tuyển dịch thơ Anh, Pháp, thơ Đường”.
Nhà thơ Hoài Anh

Năm 1995, tôi ở căn phòng gần hai chục mét vuông gầm cầu thang tầng trệt chung cư 190 Nam kì khởi nghĩa, quận 3, Sài Gòn, nơi mà cả ngày không có một chút ánh sáng trời. Nghe anh bạn cùng chung cư mách rằng nhà thơ Diệp Minh Tuyền đang rao bán căn phòng lầu 6, tôi mua luôn. May quá, vì căn phòng lầu 6 của tôi có hai láng giềng rất tin cậy và nổi tiếng: Căn bên trái cầu thang là phòng vợ chồng Nhà thơ Lê Giang- Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ, rẽ phải là phòng Nhà thơ Hoài Anh, rồi đến phòng tôi.

Nói Hoài Anh là nhà thơ là nói cho gọn. Ông còn là nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà báo nữa. Đây là những cái “nhà” đúng nghĩa, đẹp, sang trọng, lịch lãm, không ai có thể hiểu khác đi được. Ông còn tuyển dịch thơ Anh, Pháp, thơ Đường. Gần đây nhất là hai tác phẩm Bảy thế kỷ thơ tình Pháp (NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001) và Một trăm bài thơ Đường (NXB Đồng Nai, 2001). Trước năm 1975, khi chưa vào định cư Sài Gòn, ở Hà Nội, ông còn viết cả kịch, chuyển thể kịch bản cải lương. Năm 2003, ông được giải A về nghiên cứu phê bình của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Tờ Tuổi trẻ Chủ nhật TP. Hồ Chí Minh có hồi nhờ ông giữ mục Nhịp cầu tri thức. Đó là chuyên mục giải đáp những câu hỏi cắc cớ của bạn đọc, kiểu tại sao lại gọi là con ông cháu cha mà không gọi là con cha, cháu ông. Hồi đó chưa có cái công cụ tìm kiếm Google như bây giờ…

***

Một bữa nọ Hoài Anh tặng tôi tập thơ tình Thơ – Thư (NXB Trẻ, 2002). Tôi mở sách ngẫu nhiên, trúng ngay bài thơ Đêm, vỏn vẹn hai câu:

Tôi bị ban ngày đánh tử thương
Nhắm mắt vào đêm tôi sống lại.

                   (Đêm, trang 94)

Phải nói Hoài Anh bị chữ nghĩa hành hạ. Chữ nghĩa như một thứ bùa ngải, thứ thuốc gây nghiện, một con ma ở trong người ông. Ông làm việc như một cái máy từ 9 giờ đêm đến 5-6 giờ sáng hôm sau, nhiều ngày liền như thế. Đêm khuya thức dậy, bao giờ tôi cũng nghe tiếng cóc cóc từ cái máy chữ cổ lỗ sĩ của ông. Ông dùng mẩu bút chì, cán bút bịt giẻ chọc nhoay nhoáy xuống các phím chữ, kiểu mổ cò. Ông bảo gõ bằng các ngón tay nhanh mệt tim lắm, đánh thế này đỡ hơn. Tôi nhìn những tập bản thảo của ông, toàn là những tờ giấy người ta đã dùng một mặt. Nét chữ ông gõ đậm nhạt không đều, có đoạn ông phải dùng bút mực dặm lại, rất khó đọc. Nghe đâu, ông nhặt ở nhà in thứ mực người ta loại bỏ về nhuộm lại các băng mực để dùng.

Hoàn cảnh ông khá đặc biệt. Ông ở một mình, ăn uống, sinh hoạt, đi lại hoàn toàn theo tùy hứng văn chương.

Có bận tôi hỏi ông:

- Bác sinh hoạt giờ giấc ăn uống như vậy, làm sao đảm bảo sức khỏe?
Ông bảo:

- Quen, quen rồi. Cơm thì nấu nồi điện, một lon gạo ăn cả ngày mới hết. Đói lúc nào ăn lúc ấy. Thức ăn thì hâm lại. Ăn bao nhiêu đâu em.

Ông chỉ có một chiếc tủ áo bằng gỗ cũ mọt, cánh cửa đã xệ, để chứa sách. Chiếc giường một duy nhất cũng chất đầy sách. Còn ông thì ngủ không cần mùng trên chiếc salon rách, thiếu một chân, kê bằng một chồng gạch. Có lẽ ông là người duy nhất ở Việt Nam không coi tivi, nghe đài. Mỗi sáng đi làm qua phòng ông, tôi thấy ông cởi trần nằm cò queo, cửa mở toang. Ông chỉ khóa cửa khi xuống phố.

Nhưng ông cũng ít xuống phố. Hình như ông cũng ít bè bạn thì phải. Ấy là tôi nghĩ thế, vì ít thấy khách tới thăm ông. Thời buổi @ này, một người không thích ăn nhậu, đàn đúm chỗ đông người, không thích đăng đàn diễn thuyết, không thích tranh luận văn chương, hồn nhiên với cái nghèo như ông thì ít bạn cũng là cái sự không có gì lạ.

Ông hồn nhiên đến độ không biết một mớ rau muống, một kí gạo giá chừng bao nhiêu. Ông đến chợ đưa tiền ra, người ta trả lại bao nhiêu, đòi thêm bao nhiêu, kệ, ông cứ xách gạo muối lững thững đi bộ về nhà.

Khả năng đi bộ của ông có thể sánh ngang với nhà văn Sơn Nam. Hoài Anh không biết đi xe đạp, càng không biết đi xe gắn máy. Ông còn giỏi hơn ông Sơn Nam ở môn leo lầu. Gần 70 tuổi, ông lên 6 tầng lầu một mạch, có người lắc đầu le lưỡi. Trong nhiều lí do ít người tới thăm ông, có thể thêm lí do người ta ngại leo sáu tầng lầu cũng có. Ông không có máy điện thoại bàn, không dùng điện thoại di động, ai dám khẳng định là leo lên tới nơi sẽ gặp được ông.

Đã có những vị khách nhiệt tình lên phòng ông rồi lặng lẽ gài lại mảnh giấy ở cửa. Có người sang phòng tôi để gửi lại lời nhắn cho ông. Mãi sau này tôi mới biết vài người siêng leo lầu ấy là những đầu nậu sách. Họ siêng vì thích làm việc với người cả tin, cả nể, không bao giờ to tiếng như ông. Tôi đã từng nhìn thấy những cuốn sách trinh thám, sách truyện kinh dị, truyện không nên đọc đêm khuya, ông dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh, có thể do các đầu nậu ấy in chăng.

Một bữa tôi bảo ông:

- Em sẽ nối từ máy để bàn nhà em thêm một máy sang nhà bác để bác dùng cho tiện.

Ông vui lắm. Nhưng lại sinh ra một cái bất tiện khác, ấy là ông luôn để kênh máy nên nhiều cuộc gọi đến cho ông và cả cho tôi không nhận được.

Lần khác tôi sang nhà ông chơi, ông than phiền máy bơm nước bị hư từ hôm qua, không có nước pha trà. Thôi chết, tôi chạy vội về kéo ống dọc hành lang phía sau nhà, từ bồn nước nhà tôi đến cái chum của ông. Chỉ một loáng, chum đầy nước.

Tôi bảo ông:

- Bác cứ dùng thoải mái, hết thì mở khóa vòi đầu ống này nhé.

Vậy mà một ngày sau tôi sang, đột nhiên ông hỏi:

- Máy bơm nhà em cũng hư à?

Tôi chạy vội ra chum nhà ông. Khô queo. Chao ơi, ông vắt cái ống dẫn nước lên sào phơi, cao hơn bồn nước nhà tôi gần cả mét rồi mới thõng đầu vòi xuống chum. Thế này thì thôi rồi, tôi… chịu ông.

Ấy thế mà nói đến thơ văn thì ông không hề đãng trí tí nào. Trông ông hoạt hẳn lên, thông thái lạ thường. Ông như một cuốn từ điển sống. Các tác giả lớn Đông Tây kim cổ ông nói vanh vách. Vốn kiến thức phong phú ông có là do tự học hoàn toàn, không hề kinh qua trường lớp nào cả. Ông bảo việc tự học với ông, giống như lượm mót, chậm nhưng chắc chắn, tùy nhu cầu, sở thích mà lựa chọn, nhặt nhạnh cất giữ làm của để dành. Kiến thức giảng đường khuôn phép thật, nhưng bắt buộc phải học rất nhiều điều không thiết thực, phải học thuộc lòng. Thi cử xong rơi vãi vô khối.

Ông bảo năm 1946, ông theo kháng chiến lúc chưa đủ tuổi, phải khai tăng. Vậy mà khi trở về tiếp quản Thủ đô 1954, ông đã trở thành Nhà thơ với những câu thơ hay bât ngờ. Ngay cả bây giờ cũng vẫn là những câu thơ mới lạ, hiện đại:

Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
Ra phố mua một bao thuốc lá
Chín năm sau anh mới trở về nhà

Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến
Chín năm rừng lòng vẫn nhớ Thủ đô.

***

Hoài Anh là người đa tài và có một sức sáng tạo nghệ thuật dồi dào bền bỉ hiếm có. Ông đã xuất bản chín tập thơ, ba tập tiểu luận phê bình văn học, trong đó đáng nể nhất là cuốn Tiểu luận Chân dung Văn học( NXB Hội Nhà văn,2001). Ông viết trong sáu năm ròng( 1995–2001), gồm 1500 trang, với 114 chân dung văn học, từ Trương Vĩnh Ký giữa thế kỷ 18 đến Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ thời kháng chiến chống Mỹ. Cuốn sách là nguồn tư liệu phong phú, rất cần thiết cho những người yêu mến văn học sử nghiên cứu, tra cứu.

Năm 2006, ở tuổi bảy mươi, Hoài Anh đã làm sửng sốt bạn đọc. Nhà xuất bản Văn học đã lập kỷ lục in liền một lúc 16 tập tiểu thuyết về đề tài lịch sử của ông( Trong tổng số 20 tập). Ông bắt đầu viết bộ tiểu thuyết đồ sộ này từ năm 1965. Thế là 20 thế kỷ lịch sử dân tộc Việt Nam được ông viết lại, mỗi cuốn ứng với một thế kỷ. Bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, thời Hai Bà Trưng đến cuối thế kỷ thứ 20, thời đổi mới.

Bốn mươi lăm năm, già nửa đời người ông theo đuổi đến kiệt sức để hoàn thành một bộ tiểu thuyết lịch sử có một không hai. Tự nhiên tôi chợt nhớ đến câu “Hữu xạ tự nhiên hương” mà cám cảnh cho hoàn cảnh của ông. Ngày nay, mọi sản phẩm dù tối ưu đến đâu, một chương trình nghệ thuật dù hàn lâm đến đâu, nhà sản xuất kinh doanh cũng dành ít nhất 20-30% trong tổng số tiền đầu tư cho quảng cáo. Sự quảng cáo giống như một trận đánh, nên người ta mới hay dùng cụm từ Chiến dịch quảng cáo. Vậy mà tôi chưa được nghe dư luận khen chê, cũng chưa được biết có một cuộc hội thảo tầm cỡ, qui mô nào của ngành văn, ngành sử về tác phẩm này của Hoài Anh cả. Đó là một thiệt thòi cho những tài năng như ông và cho cả bạn đọc nữa.

***

Cách nay chừng hai tháng, một anh bạn nhà thơ đã lớn tuổi, rất ”mê” Hoài Anh, gọi điện cho tôi hỏi rằng:

- Ông đã nhận được phiếu thăm dò chỗ ông Hữu Thỉnh gửi đề cứ các nhà văn vào danh sách Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật chưa? Nếu nhận rồi thì ông phải nhớ đề cử ông Hoài Anh đấy nhá.

Hai hôm sau anh bạn này lại gọi tôi bảo:

- Ê ông ơi, họ khen thưởng ông Hoài Anh thì họ sang trọng lên ấy chứ. Nhưng khen Hoài Anh bây giờ cũng như không. Tai ông ấy điếc đặc củ tỷ rồi, nghe thấy cái quái gì nữa đâu. Khổ!...

Sài Gòn - 20.3.2011
VŨ DUY CHU
Nguồn: NVTPHCM

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU