Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

HOÀNG CẦM ĐỜI NGƯỜI, ĐỜI THƠ

Nhà thơ Vi Thùy Linh trong đêm thơ tưởng nhớ tác giả Lá diêu bông đã viết: "Không ai biết Hoàng Cầm đã yêu bao nhiêu, có bao nhiêu cuộc tình. Ông đã đi mải miết trên con đường tình, qua mùa mùa ái ân và không ngừng khắc khoải. Cả hụt hẫng, khổ đau, yếu đuối cũng không gục ngã".
Nhà thơ Hoàng Cầm (1922 - 2010). Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Mối tình si của cậu bé 12 tuổi

Nói về đời thơ Hoàng Cầm không thể không nhắc đến những mối tình lạ lùng nhất trong thơ ông. Theo lời ông Bùi Hoàng Anh, con trai của Hoàng Cầm, những năm cuối đời, tuy không còn sức khỏe, nhưng ông vẫn rất hóm hỉnh và hài hước khi được hỏi về cái thuở ban đầu lưu luyến, lúc mới bước chân vào văn chương, trường tình, trường đời.

Mối tình năm lên tuổi 12 là một câu chuyện tình đơn phương của ông với một cô gái hơn nhà thơ rất nhiều tuổi. Ngày đó, Hoàng Cầm mê "chị" như điếu đổ, suốt ngày lũn cũn theo bước chân của cô gái Kinh Bắc xinh đẹp ấy. Có lẽ, đó là mối tình đầu đời của Hoàng Cầm, là giấc mơ ngọt ngào nhưng cũng là vị thuốc khác trong đời để khi ông choàng tỉnh giấc, ông cũng ngạc nhiên với chính dư âm của nó là những vần thơ kì lạ.

Cuốn sách tập hợp hồi kí Hoàng Cầm vẫn để lại những dòng tâm tư trĩu nặng về mối tình câm này. Ông viết: "Chị ấy tên là Vinh. Bố mất sớm, nhà rất nghèo. Chị ở cùng mẹ và một đứa em lên năm tuổi. Họ cất một gian nhà ở phố để bán hàng kiếm ăn. Suốt từ năm 8 đến 12, 13 tuổi, lúc nào đi theo chị được là tôi đi ngay, không rời nửa bước. Cũng nhờ đi theo chị, tôi mới có những kỉ niệm để sau này trở thành Lá diêu bông. Trong một buổi tối thanh niên, trai gái ở làng tụ họp nhau để hát đối, chị vịn lấy vai tôi mà hát. Rồi chị bảo bọn trẻ chúng tôi: "Đứa nào tìm được lá diêu bông, ta sẽ gọi là chồng". Nghe thấy thế, mặt tôi đỏ lên. Rồi một hôm nắng vàng giời lạnh, buổi chiều tha thẩn ra sân, tôi thấy chị đi ra phía cánh đồng liền cũng đi theo. Giữa đồng, chị một mình mê mải vạch từng cái lá, cành cây như đang tìm một cái gì đó. Tôi liền hỏi: "Chị Vinh ơi, chị tìm cái gì đấy?". Chị nhìn tôi đáp lời: "Ờ, chị đi tìm cái lá... (chị nói tên một cái lá gì như là lá thuốc)".

Hai mươi lăm năm sau, năm 1954, sau khi trở về Hà Nội mấy năm, một đêm, trong chính căn nhà 43 Lý Quốc Sư, tôi trằn trọc không sao ngủ được. Độ 2, 3h sáng, giữa tĩnh lặng như thế, chợt tôi nghe cất lên một giọng đọc rất thong thả, rõ ràng: "Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng... ". Bài thơ Lá diêu bông đã ra đời như thế. Có lẽ, nó đã ăn sâu vào trong mình rồi bật ra thành thơ, khiến những lúc say sưa viết lại kỷ niệm đó, tôi cứ tưởng có ai đó đang đọc cho mình chép".

Cùng với "Lá diêu bông", "Cây tam cúc", "Quả vườn ổi"..., tập thơ "Về Kinh Bắc" được viết trong những năm 1959-1960, khi nhà thơ ngồi ở nhà lặng lẽ với những ưu tư về cuộc sống, không giao du với ai đã trở thành tác phẩm xương sống trong đời thơ Hoàng Cầm.

Và những người đàn bà đẹp...

Với thời gian, những bóng hồng trong mộng sẽ chỉ còn lại mãi mãi trong những vần thơ của Hoàng Cầm. Còn ở ngoài cuộc đời, mỗi người lại có một thân phận khác nhau. Nói về chị Vinh - mối tình đầu đẹp nhất của cậu bé 12 tuổi, nhà thơ từng chỉ thốt lên một câu thật ngắn ngủi, buồn thương: "hồng nhan bạc mệnh". Một người "chị" khác với mối tình Cây Tam Cúc, nghe đâu hiện đang ở Thủ Đức, nhưng bà không dám nhận mình là người đã từng "gọi đôi cây trầu cay má đỏ, kết xe hồng đưa Chị đến quê em" (thơ Hoàng Cầm).


Đời ông có bút danh là Hoàng Cầm thì gần như cũng gắn liền với chữ "Hoàng". Người vợ đầu là Hoàng Thị Hoàn, do cha mẹ ông cưới cho, mất lúc ông đi kháng chiến. Bà đã sinh hai đứa con cho thi sĩ. Con trai đầu là nhà báo Hoàng Kỳ, thứ nữ là nghệ sĩ kịch Hoàng Yến tài sắc vẹn toàn nhưng bạc mệnh đã sớm qua đời.

Người vợ thứ hai của nhà thơ, bà Tuyết Khanh, vào vai Kiều Loan (vở kịch nổi tiếng của Hoàng Cầm), đã hạ sinh cho ông một nàng tố nữ đặt tên nhân vật vở kịch để kỷ niệm, cũng là mối tình lớn mà những thi sĩ cùng thời thường hay trầm trồ, bàn tán. Nhất là khi thuở trẻ, bà còn là mối tình si của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Chính điều này đã tạo nên câu chuyện tình tay ba nổi tiếng có một không hai trong lịch sử kịch thơ Việt Nam thuở ấy.

Mối lương duyên giữa Tuyết Khanh và Hoàng Cầm tuy đẹp nhưng cũng để lại nhiều vết thương đau lòng. Sinh hạ được Kiều Loan, bà Tuyết Khanh phải bế con về Hải Phòng để nuôi dưỡng và chờ ngày thắng lợi đón chồng trở về. Nhưng sức chịu đựng của người đàn bà cũng chỉ có giới hạn. Sau mấy năm, trước một cảnh ngộ éo le, bà đã đành "đi bước nữa", rồi cùng con riêng và chồng vào Nam năm 1954.

Ở lại chiến khu đến năm 1950, Hoàng Cầm đã gặp một thiếu nữ tài sắc tên là Minh Xuân. Khi ấy Minh Xuân đang ở trong một hoàn cảnh trớ trêu, bà bị ép phải lấy một cán bộ chỉ huy mà không hề có tình yêu. Cảm thương cảnh tình đó, Hoàng Cầm đã đem lòng yêu Minh Xuân và cũng được giai nhân đáp lại một cách nồng nàn. Song chiến dịch biên giới đã khiến họ mất liên lạc với nhau. Mãi sau khi Hoàng Cầm gặp lại một người bạn chung của hai người thì mới được nghe câu chuyện tang thương về giai nhân bạc mệnh này. Nàng đã trẫm mình xuống dòng suối sâu vì nỗi cô đơn, trống vắng sau sự xa cách với nhà thơ và bị ép duyên đến nghiệt ngã.

Người vợ thứ ba, người sau cùng đã sống với nhà thơ cũng là người sống với ông lâu nhất là bà Lê Hoàng Yến. Nhưng bà cũng đã mất từ trước ông rất lâu, để ông ở lại với những năm tháng bĩ cực. Hoàng Cầm đã viết những câu thơ tê tái sau cái chết đột ngột của bà: "Em xa anh và rất gần nước mắt".

Ngôi nhà ở 43 Lý Quốc Sư là nhà bà Hoàng Yến. Người đàn ông phong tình, đa đoan là Hoàng Cầm chỉ sống một mình 25 năm đằng đẵng. Trong ba người vợ của Hoàng Cầm thì bà Lê Hoàng Yến là người cùng chồng chịu đựng bao thăng trầm suốt ba mươi năm có lẻ (từ năm 1955 đến khi bà mất, năm 1985). Bà cũng là người dinh dưỡng cho nguồn thơ Hoàng Cầm, trong đó có Về Kinh Bắc bất hủ.

Ngoài những bóng hồng có tên cụ thể, Hoàng Cầm còn có những mối tình chóng vánh, không tên nhưng cũng không kém phần lãng mạn, mãnh liệt. Câu chuyện tình của ông trong quá trình theo học ở Hà Nội (mặc dù đã có vợ con) với một cô gái nhảy có tên Phương Tuyết từng làm xôn xao dư luận lúc bấy giờ. Nghe nói nàng đã từng nuôi dưỡng chàng đèn sách suốt nửa năm ròng. Mặc dù chóng vánh nhưng cô gái cũng đã kịp trở thành một nàng thơ nồng nàn, tha thiết trong tâm hồn ông.

Nhà thơ Vi Thùy Linh trong đêm thơ tưởng nhớ tác giả Lá diêu bông đã viết: "Không ai biết Hoàng Cầm đã yêu bao nhiêu, có bao nhiêu cuộc tình. Ông đã đi mải miết trên con đường tình, qua mùa mùa ái ân và không ngừng khắc khoải. Cả hụt hẫng, khổ đau, yếu đuối cũng không gục ngã".

Số phận của vở kịch thơ “Kiều Loan”

Hoàng Cầm viết vở kịch thơ Kiều Loan năm 1942, năm ấy ông mới 20 tuổi. Ấy vậy mà phải 65 năm sau, tuyệt tác đó mới được công diễn. Tác phẩm kể về câu chuyện của một chinh phụ dưới chế độ cũ, có lòng yêu chung thủy, sâu sắc nhưng cuối cùng lại đau đớn vì sự thay đổi nghiệt ngã của chính người chồng.

Ngoài số phận long đong, nghiệt ngã của tác phẩm, ít ai biết đến câu chuyện bi thảm về nguyên bản nàng Kiều Loan thật ở ngoài cuộc đời. Nàng là hoa khôi xứ Bắc Giang, 18 tuổi đã từng làm tan nát trái tim bao anh học trò làm thơ như Hoàng Cầm, nhưng thật bi thảm vì bị giết chết vào một buổi tối mùa hè năm 1940.

Năm đó, quân Nhật đổ bộ vào Việt Nam, Bắc Giang thành trại lính, hàng chục sĩ quan xứ Phù Tang vì mê cô hoa khôi đã sinh ghen ghét, thù hận nhau. Viên chỉ huy thấy không thể để mất danh dự của quân đội Thiên Hoàng nên chỉ có cách tốt nhất là trừ tận gốc nguyên nhân. Kiều Loan bị bắt uống thuốc ngủ khi đang ốm. Cái chết của cô gái khiến Hoàng Cầm đau đớn đến sững sờ. Mười ngày sau ông bắt tay viết tác phẩm này. Năm 1942, công sứ Bắc Ninh không cho diễn. Về Hà Nội cũng bị trả lại bản thảo và rơi vào sự im lặng. Cho đến tháng 11/1946, vào một buổi sáng sớm, Kiều Loan được công diễn một buổi duy nhất. Sau lần đó, vì nhiều lý do, vở kịch lại rơi vào sự im lặng và im lặng thật lâu. Vì sau đó, bà Tuyết Khanh vì chiến tranh gian khổ mà không thể chờ đợi người chồng, đành bỏ đi biệt xứ, cách xa đến nửa vòng trái đất. Hoàng Cầm mải mê theo kháng chiến, qua "Bên bia sông Đuống" mà đánh mất cả người vợ xinh đẹp, cô con gái bé nhỏ.

Cả vở kịch đã viết bằng máu và nước mắt cũng phải chìm đắm trong sự câm lặng cho đến 59 năm sau lần công chiếu đầu tiên.Và phải đến năm 2005, kịch thơ Kiều Loan mới lại được công chiếu. Vở kịch đã thực sự làm xúc động sâu sắc những ai có mặt trong buổi biểu diễn hôm đó. Không ít khán giả đã trầm trồ nuối tiếc cho một tuyệt tác đã bị lãng quên và phủ bụi quá lâu. Sau đêm diễn, Hoàng Cầm đã khóc. Ông nói trong nước mắt: "Vậy mà tôi cứ tưởng số phận của Kiều Loan chỉ có được một đêm duy nhất ngày ấy"

ĐÀO BÍCH
Nguồn: ANTG

Thứ Tư, 8 tháng 8, 2018

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP - TƯỞNG NGƯỜI NÊN LẠI THẤY NGƯỜI VỀ ĐÂY

Trong các thi sĩ của phong trào Thơ Mới (1932 - 1945), Nguyễn Nhược Pháp là người qua đời khi tuổi còn trẻ nhất. Nếu như Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) hưởng dương 28 tuổi, Bích Khê (1916- 1946) hưởng dương 30 tuổi thì Nguyễn Nhược Pháp từ giã trần gian khi mới chỉ 24 tuổi đời, vừa tròn hai vòng con giáp, sinh và mất đều vào những năm Dần: Giáp Dần (1914) và Mậu Dần (1938).
Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.

Cũng trong các thi sĩ lãng mạn đương thời, Nguyễn Nhược Pháp là người làm thơ ít hơn cả, tập thơ duy nhất “Ngày xưa” (in năm 1935) chỉ vỏn vẹn có 10 bài. Thế nhưng như Hoài Thanh đã viết trong những lời mở đầu giới thiệu về thơ ông: “ Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”. Còn theo ý kiến của tôi, chỉ cần với một tập “Ngày xưa” thôi, Nguyễn Nhược Pháp đã tạo dựng được một thế giới thơ thật riêng biệt, một không khí riêng biệt, không lẫn vào với bất kỳ tác giả nào cùng thời.

Một ấn phẩm đặc biệt chưa từng có

Trong lịch sử xuất bản thơ ca Việt Nam hiện đại từ trước đến nay, có lẽ chưa bao giờ có một tập thơ mỏng như vậy, với số lượng thi phẩm chỉ đúng 10 bài. Ấn bản đầu tiên của “Ngày xưa” do Nguyên Dương in năm 1935. Tròn 80 năm sau (2015), Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam tái bản lại tập thơ này với phần phụ bản minh họa của Lý Thu Hà, trên khổ giấy 18 x 22,5cm, ấn phẩm cũng chỉ dày đúng 50 trang. Mười bài trong tập “Ngày xưa” theo thứ tự có các nhan đề như sau: Sơn Tinh Thủy Tinh, Mỵ Châu, Giếng Trọng Thủy, Tay ngà, Mỵ Ê, Một buổi chiều xuân, Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống, Đi cống, Mây và Chùa Hương.

Tại sao tên tập thơ lại là “Ngày xưa” dù trong tập không có một bài nào tên như vậy? Bởi vì,  Nguyễn Nhược Pháp đã “làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tràng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa gồm những sắc màu tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh” (Thi nhân Việt Nam).

Cũng theo cảm nhận của Hoài Thanh, thơ Nguyễn Nhược Pháp “lúc nào hình như cũng thoáng thấy một bóng người đang khúc khích cười”. Nhưng theo tôi câu chuyện không hẳn như vậy. Ý thứ nhất của Hoài Thanh thì đúng. Đọc qua nhan đề các tác phẩm, có thể thấy ngay có tới 6/10 bài thơ lấy cảm hứng từ những câu chuyện trong lịch sử, gắn với những nhân vật lịch sử, đó là Sơn Tinh Thủy Tinh, là Mỵ Châu Trọng Thủy, là nàng Mỵ Ê, là chuyện đi cống đi sứ, là Lê Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống. Chỉ 4 bài là mang âm hưởng của đương đại, của thời kỳ tác giả đang sống: Tay ngà, Một buổi chiều xuân, Mây và Chùa Hương. Trong đó, Chùa Hương theo ý tôi là thi phẩm hòa trộn hai gam màu vừa cổ điển vừa hiện đại. Đây cũng là bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Nhược Pháp bởi có đến hai bản phổ nhạc: bản phổ của GS Trần Văn Khê và bản phổ của NSƯT Trung Đức.

Chùa Hương cũng chính là một trong hài bài thơ được Hoài Thanh – Hoài Chân chọn đưa vào tuyển tập Thi nhân Việt Nam bên cạnh bài Tay ngà, cũng là một thi phẩm ngũ ngôn đầy trong trẻo và mơ mộng: Đêm nay chờ trăng mọc/Ngồi thẩn thơ trong vườn/Quanh hoa lá róc rách/Như đua bắt làn hương (…) Ta còn đang luyến mộng/Yêu bóng người vẩn vơ/Tay ngà ai phủ trán?/ Hiu hắt ánh giăng mờ… Trở lại với ý thứ hai của Hoài Thanh mà tôi chưa đồng tình, tôi cho rằng thơ Nguyễn Nhược Pháp không chỉ có những “tươi vui”, “ngộ nghĩnh”, “khúc khích cười”; thơ ông còn có cả không ít những buồn thương, chia lìa, xót xa, đắng đót. Hãy xem ông viết về cái chết của Mỵ Châu và nỗi đau đớn của Trọng Thủy: Đêm đêm gió khóc thổi ru cành/Núi bạc âm thầm, bể uốn xanh/Hiu hắt Mỵ Châu nằm, giăng phủ/Ầm ầm sóng thảm vỗ vờn quanh(…) Thiêm thiếp ai bên đường hỡi ôi!/Chàng ôm khóc nghẹn chẳng ra lời/ Đầu non mây bạc êm đềm phủ/Phơn phớt hồn em bay, ngậm cười… Ông viết về sự quyên sinh của nàng Mỵ Ê: Thân liễu gieo đưa chìm vực biếc/Lời thương bay lảnh động rừng vang/Hoa trôi. Thành cũ vờn mây lửa/Lau gợn. Chùa cao gió tiếng vàng. Và nỗi u sầu yếm thế khi tả làn mây: Khi thấy hồn người thân/Nhìn mây lệ khôn cầm!/Trên bầy xe tứ mã/Tiếng bánh lăn âm thầm(…) Ngày nay ta nhìn thấy/Mây đen luồng gió lay/Hồn xưa tìm chẳng thấy/Tóc theo luồng gió bay… Như vậy, thơ Nguyễn Nhược Pháp dường như là sự hòa quyện của cả hai dòng cảm xúc đối lập: vừa tươi tắn trong trẻo nhưng cũng vừa bi thương não nùng.

Những câu chuyện đời

Sẽ thật thiếu sót nếu kể về người thơ mà không nhắc  gì đến lịch sử gia đình của ông. Thân phụ Nguyễn Nhược Pháp chính là học giả - nhà báo – nhà hoạt động chính trị danh tiếng Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936), người đã sáng lập tờ Đăng Cổ Tùng Báo (1907) là tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ. Ông còn giữ vị trí chủ bút của một số tờ báo khác như Trung Bắc Tân Văn và Đông Dương Tạp chí. Nguyễn Văn Vĩnh là nhà báo đã dũng cảm thể hiện những tiếng nói mang tính phản biện gay gắt với chính quyền thực dân đương thời nên cuối đời rơi vào hoàn cảnh khó khăn, bị tịch biên gia sản và chết ở bên Lào khi đang đi tìm vàng với mục đích trả nợ.

Nguyễn Nhược Pháp có một tuổi thơ khá đặc biệt khi ông là con của người vợ không hôn thú. Cái tên của thi sĩ gắn với sự kiện thực dân Pháp bị quân Đức đánh bại nhiều trận thê thảm trong thời kỳ đầu của đại chiến thế giới I (1914). Năm Nhược Pháp được 2 tuổi thì mẹ ông, bà Phan Thị Lựu đã tự tìm đến cái chết khi phát hiện ông Nguyễn Văn Vĩnh có thêm người phụ nữ thứ ba. Khi bà Lựu qua đời, cậu bé mới 2 tuổi đầu ấy đã được người vợ cả đón về phố Mã Mây, nuôi ăn học, trở thành một người anh đầy tin tưởng, gương mẫu, đẹp trai, học giỏi của những đứa em. Một người anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Nhược Pháp là Nguyễn Giang (1910 - 1969) cũng là một trong những thi sĩ được Hoài Thanh giới thiệu và đăng thơ trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam.

Thời kỳ học phổ thông ở ngôi trường nổi tiếng Đông Dương Albert Sarraut, Nguyễn Nhược Pháp chơi thân với Phạm Huy Thông (tác giả Tiếng địch sông Ô, cũng là một thi sĩ trong Thi nhân Việt Nam). Hai thi sĩ sau này còn tiếp tục học cùng nhau ở Đại học Luật, cùng có nhiều hoạt động văn chương nghệ thuật với nhau. Từ khoảng những năm 1930 trở đi, khi kinh tế gia đình Nguyễn Văn Vĩnh gặp nhiều khó khăn, Nguyễn Nhược Pháp ngoài thời gian học ở trường đã đi làm thêm ở tòa soạn báo An Nam mới, vừa viết báo vừa làm thơ để có thêm thu nhập trang trải cuộc sống. Chính ở thời kỳ này, ông đã gặp gỡ và có thêm những mối giao tình với các nhân vật sau này đều trở thành những thi sĩ tài danh, đó là Thế Lữ và Nguyễn Bính. Cái chết đột ngột của Nguyễn Văn Vĩnh năm 1936 cùng sự ra đi của hai chị gái, một anh trai đã khiến Nguyễn Nhược Pháp đau buồn tới mức suy sụp rồi mắc bệnh lao hạch – một căn bệnh được coi là nan y của thời bấy giờ.

Ngày 19 tháng 11 năm 1938, người thi sĩ tuổi còn hoa niêm trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Đồn Thủy (Hà Nội), thi hài ông được mai táng lúc đầu ở nghĩa trang Hợp Thiện, Quỳnh Lôi, Mai Động; về sau được bốc mộ về làng Phượng Dực, quê cha. Năm 1989, Nguyễn Nhược Pháp được công nhận là danh nhân văn hóa Việt Nam và Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây (cũ) đã dựng bia tại cụm nghĩa trang với dòng chữ: Khu mộ danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh – Nguyễn Giang – Nguyễn Nhược Pháp. Tuy vậy, trong bối cảnh thực tế lúc ấy, hài cốt Nguyễn Nhược Pháp đã bị thất lạc. Mãi tới hơn 20 năm sau, vào ngày 17/12/2011, cùng với sự tạo điều kiện giúp đỡ của chính quyền địa phương, gia đình mới tìm thấy phần hài cốt của người thi sĩ bạc mệnh và đưa về quy tập vào khu nghĩa trang chung vào buổi chiều ngày 22/12/2011.

Khi Nguyễn Nhược Pháp vừa qua đời, thi sĩ chân quê Nguyễn Bính đã viết bài thơ cảm động khóc viếng ông: Buồn xao xuyến quá sương mù/Buồn xao xuyến quá, mùa thu vừa tàn/Ai đem bứt hết lá vàng/Dệt làm khăn liệm đám tang muôn đời/Thương anh, nói chẳng hết lời/Giờ đây, anh đã ra người ngàn xưa!/Ví dù còn một đường tơ/Cũng xin rút nốt thành thơ khóc người/Ngài xanh cái kén bay rồi/Nhả tơ xây tổ trên đời bao năm/Kéo dài kiếp số trăm năm/Cũng mang tiếng một con tằm mà thôi/Thương anh nói chẳng hết lời/Giờ đây anh đã ra người ngàn xưa! (Khóc anh Nguyễn Nhược Pháp).
Ngoài tập Ngày xưa in năm 1935, Nguyễn Nhược Pháp còn xuất bản vở kịch Người học vẽ năm 1936. Ông cũng đã kịp đưa vở kịch này lên sân khấu để trình diễn một lần vào tháng 6/1936, cùng sự trợ giúp của người bạn mình là thi sĩ Phạm Huy Thông, như một khúc tưởng nhớ Nguyễn Văn Vĩnh, người cha vừa mất trước đó không lâu – một trong những ngọn cờ tiên phong của nền báo chí và văn chương quốc ngữ hiện đại.

Nguyễn Nhược Pháp đã đi xa tròn 80 năm nhưng tác phẩm của ông thì vẫn còn sống mãi trong lòng người đọc hôm nay. Và cho dù thế giới thơ của ông có đủ các cung bậc đối lập thì độc giả vẫn chủ yếu nhớ về thơ ông như những cảm xúc trong trắng tinh khôi của một thời hoa niên yêu dấu, như thể mùi trầm hương bay cùng những bước chân nhỏ xinh, tinh khôi của người thiếu nữ thuở nào trong tuyệt phẩm Em đi chùa Hương: Khăn nhỏ đuôi gà cao/Em đeo dải yếm đào/Quần lĩnh áo the mới/Tay cầm nón quai thao(…) Làn gió thổi hây hây/Em nghe tà áo bay/Em tìm hơi chàng thở/Chàng ôi, chàng có hay?

ĐỖ ANH VŨ
Nguồn: Đại Đoàn Kết

ĐỌC THƠ TRẮNG CỦA LA MAI THI GIA

Người đàn bà thơ La Mai Thi Gia, là thơ từ khi mới được sinh ra, lần đầu tiên riêng tư góp mặt với thế giới thơ ca bằng Thơ trắng (NXB Hội Nhà văn, 2017)…
Nhà thơ La Mai Thi Gia

Tựa Thơ trắng của La Mai Thi Gia được lấy từ cảm hứng ý tưởng của nữ sĩ người Pháp Hélène Cixous (bà sinh ra ở Algeria năm 1937). “Dòng chữ trắng” (L’Encre Banche, The white ink) là dụng ngữ nổi tiếng của bà trong bài viết rất có giá trị mang tên Tiếng cười của Medusa (Le Rire de la méduse) ấn hành năm 1975, 1976. Trong bài viết này bà nói: “Bao giờ cũng thế, bên trong người phụ nữ luôn luôn là một chút tốt lành của dòng  sữa mẹ. Nàng viết bằng chữ trắng”.

Và như vậy Thơ trắng là chữ trắng, là tố chất của thân xác cũng như linh hồn của người nữ, là địa hạt riêng tư của họ. Thơ của La Mai Thi Gia cũng thế, là tố chất của thân xác và linh hồn của người đàn bà sinh ra với cái tên nghe đã là thơ.

Người đàn bà hát thơ như mình là thơ, cắm hoa như mình là hoa.

Người đàn bà cất lên tiếng hát bằng làn da, hát ca bằng thân xác ngân nga, cười khóc mà la mai thi gia.

Người đàn bà, gió trong tóc ngàn xưa phong ba, sóng trong ngực mà nghiêng thuyền lạ, sương trong mắt mà chiêu nắng tà.
 
Tập Thơ trắng của La Mai Thi Gia

Người đàn bà làm thơ cho nàng thôi phôi pha, làm thơ cho nàng quên yêu ma.

Người đàn bà, giọt nước mắt còn lay bay phù sa, giọt sữa ấm còn đong đưa nụ hoa, dòng chữ trắng còn long lanh ngân hà.

Người đàn bà đem chăn gối làm sông làm núi, đem châu thổ nguyên sơ làm ngả ba, đem châu thân huyền bí làm nhà.

Người đàn bà thân thể từng đêm kinh thánh, ngàn năm réo rắt nhã ca.

Người đàn bà, ra đi từ đại dương con gái, xuống đêm đời làm giọt tình, làm giọt thơ pha

Người đàn bà đường tơ bay trong đêm tối, trong âm vang của một nửa là…, và vẹn nguyên trong cõi ta bà

Người đàn bà ném vào lửa những đêm dài tự vắng, trong nắng hồng từ đó bước chân ra.

Người đàn bà thơ La Mai Thi Gia, là thơ từ khi mới được sinh ra, lần đầu tiên riêng tư góp mặt với thế giới thơ ca bằng Thơ trắng (NXB Hội Nhà văn, 2017).

NHẬT CHIÊU
(Lời tựa tập Thơ trắng)



Thứ Hai, 6 tháng 8, 2018

TRIỆU TỪ TRUYỀN - HÀNH TRÌNH THƠ - HÀNH TRÌNH KHÁT VỌNG NHÂN VĂN


50 năm cho cuộc hành trình lịch sử và thơ - hành trình ứa lệ máu khát vọng nhân văn. 50 năm và giờ anh đang “trước đèn” ở Thụ triết trang hay đang lang bạt dọc đường gió bụi phù sinh? Nhưng chắc hẳn một điều rằng những “hồng cầu thơ” vẫn lặng thầm sinh nở từng giây, từng khắc trong tâm thức anh…
Hai nhà thơ Triệu Từ Truyền và Phan Hoàng

1. Cầm tập văn trên tay, “Dòng thơ giữa đôi bờ tri thức và tâm thức” dậy lên trong tôi nhiều xúc cảm khó tả. Một thoáng đời mà đã hơn bốn mươi năm. Một buổi chiều bức bối, ngột ngạt ở một xóm nghèo Phú Nhuận - Sài Gòn năm 69 của thế kỉ trước trên chiếc đi-văng sờn gỗ trong căn nhà của gia đình thuê lại, anh đọc tôi nghe mấy bài thơ trong tập “Đêm lên cơn dài” với bút danh Triệu Cung Tinh. Tôi trở thành bạn thơ của anh từ buổi chiều đó. Do thời cuộc và sinh kế cũng như khoảng cách địa lý, chúng tôi ít gặp lại nhau. Nhưng qua thông tin bè bạn, cho dù ở cương vị lãnh đạo cấp quận thuộc thành phố nhất là từ khi về lại với cõi đi về (Trịnh Công Sơn) anh vẫn làm thơ, cho in nhiều tập thơ với bút danh mới Triệu Từ Truyền. Thật là tuyệt, hóa ra anh vẫn nồng nàn hết mực với người tình thơ, tiếp tục sáng tạo và làm mới thơ ca của mình.

Anh đã chọn Thơ hay Thơ đã chọn anh? Một đời làm thơ và tập Bình Luận về thơ anh, Triệu Cung Tinh – Triệu Từ Truyền đã có lời đáp. Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc cũng đã nói về anh như thế “… hai lần nhập cuộc chơi đã chọn…” kiên định bằng bản lĩnh của một tài năng đẫm “khí chất lãng mạng.”(Nhập cuộc với chính mình, báo Tuổi trẻ 3/5/1994). Còn nhà thơ  Đoàn Vị Thượng khi viết Lời tựa cho Tuyển thơ song ngữ (Nxb Trẻ - 2010) của anh khi trích một đoạn cuối ở bài “Cát Tiên ca”, đã viết: “Ứng vào anh, con đường thơ của Triệu Từ Truyền cũng: Bắt đầu sinh sôi và kết thúc cũng sinh sôi? Người thơ này không có tuổi”.

Tất nhiên ta cũng hiểu được đây không phải là tính đếm tháng năm đời người sinh hạ trong cõi nhân gian mà muốn nói đến con đường thơ – hành trình thơ của Triệu Từ Truyền, hành trình tâm thức suốt dọc một đời thơ của anh. Tính đến nay đang băng đến ngưỡng “thất thập” (sinh tháng 4.1947), Triệu Từ Truyền đã gởi đến bạn đọc 11 tác phẩm, gồm thơ, tản văn – tiểu luận,  truyện dài và nhiều bài viết mang đậm thể cách, tư tưởng khó nhầm lẫn với những cây bút khác trên các báo viết, báo mạng có uy tín trong và ngoài nước. Đó là chưa kể hoạt động sôi nổi làm báo, chủ biên nhiều tạp chí văn học, thơ ca…của anh.

2. Đánh giá sự  nghiệp văn học của một tác gia, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học thường nói đến số lượng cùng tư tưởng, thông điệp tác phẩm mà người sáng tác cống hiến cho đời, cho nhân loại. Văn xuôi có đến hàng chục, vài mươi, vài trăm tác phẩm. Thơ có đến hàng trăm đến hàng nghìn bài, tập thơ đếm từ 2, 3 con số trở lên…Làm sao mà không thán phục. Bởi đó tim chảy, óc vắt đến kiệt cùng của tài năng sáng tạo, những người tự nguyện làm nô lệ-tự do (chữ dùng của nhà văn Ma Văn Kháng) cho văn học. Nhưng luật “kiểm định” nghiệt ngã của Thời Gian và Bạn Đọc-Công Chúng Văn Học nhất là Bạn Đọc, người đồng sáng tạo với tác giả lại đòi hỏi tinh thể văn chương lắng sâu lâu dài trong con tim, tâm tưởng của họ. Và khi ấy mới thực sự tỏa sáng những Mặt Trời, những Tùng Bách vỉnh cửu xanh tươi.Điều đó cho thấy thước đo “ chất lượng” sản phẩm văn học nghiêm ngặt nhất vẫn là “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Trong chiều hướng ấy ta hãy đến với Tập bình luận về 6 tập thơ, số lượng khiêm tốn nếu không nói là it ỏi của Triệu Cung Tinh – Triệu Từ Truyền.

3. Tìm hiểu về cuộc đời của nhà thơ Triệu Cung Tinh – Triệu Từ Truyền  những người yêu thơ anh và các cây bút phê bình văn học đều có chung một nhìn nhận: “li kì” và dám bứt phá trong đời và cả trong thơ. Triệu Từ Truyền tên khai sinh là Triệu Công Tinh Trung, sinh ngày 9.4.1947, Sa Đéc
Đồng Tháp. Anh làm thơ và tham gia hoạt động cách mạng ở độ tuổi còn rất trẻ, 15, 16 tuổi. Hai lần (năm 1966 và 1971) trãi qua chốn địa ngục trần gian, nhà tù Côn Đảo. Năm 1975, hòa bình lập lại đang làm việc ở cương vị lãnh đạo cấp quận chưa tròn mười năm (1975 - 1983) thì anh đột ngột “dứt áo quan trường”  để phiêu bồng với thơ, sống chết với thơ!

Nói cuộc đời anh “li kì” có vẻ như mang màu sắc trinh thám mà phải nói sát hợp hơn là “dữ dội’ như nhà văn Phùng Quán viết về “tuổi thơ dữ dội” của mình. Từ lúc chào đời, tuổi thơ anh đã nếm trãi gian nan. Ấn tượng khó phôi phai trong tâm trí, tình cảm là chiếc xuồng tam bản dập dềnh trên sông nước. Bởi ba mẹ anh đều là nhà giáo, tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ chở theo. Bao bọc tâm hồn trẻ thơ anh là những vần thơ yêu nước, yêu người của Phan Văn Trị, Tản Đà, Xuân Diệu… và nhất là “không khí anh hùng ca, sống trong khói bom, đạn pháo và chết chóc ở bưng biền cho đến khi Hiệp định Genève được ký kết”.(Trả lời phỏng vấn báo Vietnamnet ngày 21.3.2009) Sự tàn khốc của chiến tranh phi nghĩa, ám ảnh anh ghê gớm, hằn sâu thành nhận thức, thành ý thức tự nguyện đến với Cách mạng, với phong trào đấu tranh của HS, SV Sài Gòn, Gia Định ngay khi còn học lớp đệ Tam, đệ Nhị (lớp 10, lớp 11 bây giờ). Tất nhiên trong anh có dòng chảy dạt dào của truyền thống một dân tộc anh hùng, của mẹ cha yêu nước, kháng chiến nên đã đặt tên anh theo một câu thơ cổ “tinh trung báo quốc”. Anh mang tuổi thanh xuân hiến nguyện cho Cách mạng hòa vào cuộc đấu tranh sục sôi của tuổi trẻ đô thị giữa những dòng kẻm gai, ma trắc, lựu đạn cay... Anh trãi qua những tháng năm đen tối đọa đày trong nhà ngụcChí Hòa, Tân Hiệp… 6 năm “bầu bạn” với “Hạt trắng hộp sọ bãi Hàng dương Côn đảo” (Sài Gòn – tôi, Triệu Từ Truyền). Song hành trên bước đường làm Cách mạng anh vẫn sáng tác thơ ca, vẫn in thơ, vẫn làm báo. Vì nhiệm vụ được giao cũng có, nhưng thẳm sâu ở anh là tình yêu Thơ ca, niềm đam mê sáng tạo văn học, khát khao đổi mới văn học. Có đến hai con người trong anh chăng? Khi hồi tưởng về cái thời anh và bạn “trúng bùa của thi ca” anh cũng từng nói: “… Không hiểu sao trong tôi chưa bao giờ xung khắc giữa đam mê văn học và hoạt động cách mạng…” (Tiếc nhớ Nguyễn Tôn Nhan – Triệu Từ Truyền). Nhưng Nguyễn Tôn Nhan, tức Trần Hồng Nhan được đề cập trên, bạn tri âm của anh và cũng là người đồng sáng lập nhóm Bộ Lạc Mới năm 1966  lại viết: " …Triệu Cung Tinh sớm có những hoạt động cách mạng từ những ngày còn học Trung học. Anh luôn băn khoăn về số phận của đất nước lúc ấy đầy tràn những bóng lính Mỹ. Có lẽ từ lòng yêu thơ, yêu cái đẹp mà càng ngày Triệu Cung Tinh càng tiến đến gần cách mạng giải phóng dân tộc chăng? (Chút kỷ niệm thơ với Triệu Cung Tinh - Sài gòn 7.1991).  Yêu Cái Đẹp, yêu Thơ, tôi cho rằng  từ mẫu tâm tình của Nguyễn Tôn Nhan giúp chúng ta có một nhìn nhận đầy đủ về anh, Tư Truyền – bí danh thời hoạt động máu lửa “…làm cách mạng luôn là nhiệt huyết tuổi thanh xuân…” trong lòng địch cùng đồng đội  “…chống quân phiệt đòi dân chủ, thiết lập chính quyền dân sự và đòi quân đội Hoa Kỳ rút quân…” (Bài phỏng vấn đã dẫn) khỏi miền Nam giành lại Hòa bình, Độc Lập, Tự do cho Dân Tộc. Anh yêu và chiến đấu vì Tự Do cho con người trong đó có hàng triệu, hàng triệu đồng bào nghèo khổ của mình, Hòa Bình cho dãi đất chữ S mến yêu là khí trời, tinh túy của Cái Đẹp mà nhân loại trên hành tinh này đều muốn thụ hưởng. Tôi cho rằng đó là cảm thức nhân văn đã được đắp nền ở anh, một chủ thể sáng tạo ngày càng vững chắc trên bước đường kiên định thực hiện hành vi sáng tạo xã hội, hành vi dữ dội (Những chữ qua cầu tâm linh - Triệu Từ Truyền) trong đời mình: làm cách mạng, chiến đấu vì Cái Đẹp - Tự Do, Hòa Bình. 

4. Năm 1966, anh và những người bạn đã đưa ra tuyên ngôn trong bài “Ý thức Thơ  Bộ Lạc Mới” khá sớm lúc 19 tuổi: “Thơ là những ngôn-ngữ-cử-động, chứ không phải như ngôn từ xuất phát từ triệu cửa miệng hàng ngày. Ngôn-ngữ-cử-động có thể chất chứa ý nghĩa hoặc tự nó xuất hiện ý nghĩa trong tâm trí con người...”. Trên hành trình cầm bút của mình, anh nhọc nhằn kiên trì sáng tạo thơ ca, làm mới thơ ca chứ không chỉ phát sáng nhất thời. Nhà thơ Cung Tích Biền, một trong những cây bút tiếng tăm của Văn học niền Nam trước 1975 từng đọc thơ anh viết từ năm 18 tuổi đã vui mừng, sau ba mươi năm chờ đợi đã tìm thấy nơi anh “một dòng thơ khác”: “…Triệu Từ Truyền đã ý thức vươn tới, luôn khắc khoải làm mới để  triệt để từ bỏ mình, tự hủy để hóa thân cùng chữ nghĩa…” (Tình trí, thực mộng một cách hồn nhiên thổn thức). Và tất nhiên ở anh còn có cả một chủ kiến trong công việc sáng tác văn học, đặc biệt là sáng tác thơ ca. Bằng vốn tri thức phong phú, một chặng đời dài sống hết mình và cũng viết hết mình (Từ Kế Tường) anh nghiền ngẫm, vận dụng có chủ đích kiến thức triết học Đông Phương, Tây Phương, kiến thức Vật lý học đương đại trình bày chủ kiến về mối tương tác giữa năng lượng tâm linh và sáng tạo thơ ca qua 21 bài viết  trong tập Tản văn và tiểu luận Những chữ qua cầu tâm linh trong mười bảy năm ròng  (1991 – 2008). Tiếp nhận, đồng thuận kể cả phản biện những kinh nghiệm có tính hệ thống này (có thể xem là quan niệm sáng tác được chăng?) ở giới cầm bút, các nhà nghiên cứu văn học, hoạt động lý luận văn học nước nhà…xem ra anh và chúng ta phải còn kiên lòng chờ đợi. Nhưng dù sao đây là nổ lực tâm huyết đáng trân trọng.

5. Tập văn này với nhiều góc nhìn khác nhau. Những con mắt xanh của những người yêu thơ anh, những nhà phê bình văn học, những thi hữu đã thành danh hoặc có vị thế trên văn đàn Việt. Trong đó không ít người cầm bút đã từng đồng hành qua những thác ghềnh cuộc đời, cùng hít thở “ bầu khí quyển văn nghệ Sài Gòn trong trẻo và hấp dẫn” (Tiếc nhớ Nguyễn Tôn Nhan – Triệu Từ Truyền) đắm say sáng tạo và yêu thích những bài thơ đầu tiên mấy mươi năm trước của anh cho đến những dòng năng lượng tâm linh ( Sách đã dẫn - Triệu Từ Truyền) chảy thành những câu, chữ - những linh tựtrong những bài thơ, tập thơ mới nhất hôm nay. Mỗi con mắt xanh là một góc nhìn đồng điệu tri âm. Còn tôi chỉ là một bạn thơ gắn bó với anh bằng mối duyên tình văn chương bất chợt, chỉ nói thêm đôi điều:

-  Ơ buổi đầu làm thơ, xúc cảm thơ ở anh đã manh nha một khát vọng nhânvăn như trong bài “Quê hương” anh viết năm 15 tuổi. “… Chiều chiến chinh ngủ trong lòng/ màu than nhuộn đỏ mấy dòng nước xưa/ mộ con đất lấp chưa vừa/ nhà hiu quạnh dọn cơm thừa ẩm thiu/ người em mắt rã trong chiều/ người du mục dựng vẹo xiêu mái lều…”

Cảm thức ấy càng lắng sâu, không thôi day dứt  trong tập thơ “ Đêm lên cơn dài”. Đương thời, Như Trị người giữ vườn thơ của tuần báo “Văn Nghệ Tiền Phong”  Sài Gòn, số 217 tháng 9 năm 1963 đã nhận ra nỗi ám đó : "..Những vần thơ chua xót, gợi sầu, thể hiện được tất cả những băn khoăn của tuổi trẻ giữa thế giới u ám ngày nay". Ở một người viết khác, nhà thơ Từ Kế Tường (bộ ba chủ lực của nhóm Bộ Lạc Mới) năm 1966 với cái tên Cung Nhự Thức đã viết một bài giới thiệu “nồng nhiệt, trang trọng” trên tờ Nghệ Thuật Sài Gòn, đáng chú ý là đoạn viết về tờ bìa tập thơ thôi cũng gợi ra nhiều điều. “Tập thơ ra đời trong thiếu hụt chạy bén gót nằm tràn lan để rồi tỉnh bơ khi ra mắt với cái bìa vội vàng của Trần Hồng Nhan, một gương mặt bầu dục hai cánh tay xương xẩu với những giọt nước mắt. Bao nhiêu đó có đủ để nói một cái gì đó không?Hiển nhiên là không…”. (Về một tập thơ bị bỏ quên – Đêm lên cơn dài của Triệu Cung Tinh). Cũng phải nói đến Nguyễn Lệ Tuân trên tuần báo Hồn Trẻ - Sài Gòn năm 1967 đã nhiệt tình đồng cảm với tiếng thơ anh khi đọc các bài thơ “hai tôi”, tâm trạng”, nước mắt”: “…Tôi nằm xuống và lắng nghe hơi thở trong lòng đất: - nước mắt vẫn chảy đều thành suối, thành sông, thành biển cả. Tôi hình dung Triệu Cung Tinh đi ngược dòng nước lũ qua thi phẩm Đêm lên cơn dài – một sự thật bi thảm được thể hiện trong thơ tiếng nói ước vọng của tuổi trẻ một phần đất tang thương”. Và ở cuối bài viết: “…Tập thơ Đêm lên cơn dài mang hành trang vì đã thắp sáng dồn nén trong bóng tối…”.

Những dòng cảm xúc của những tác giả của thời xa xưa, những người cùng độ tuổi  18, 20 đang sống ở giai đoạn  phần đất tang thương – miền Nam đang ngập tràn bóng tối  là những cảm nhận chân thực về thơ anh.  Tiếng thơ anh là tiếng thơ tranh đấu trãi dài trong tập Đêm lên cơn dài , nhất là thi phẩm Bài thơ bắt đầu  được viết nên bởi một thanh niên đang nhiệt huyệt dấn mình trong lửa đỏ đấu tranh cách mạng với cách thể hiện rất riêng, rất mới.

- Nhưng  phải chăng nên tìm đến căn cơ tâm thức của chủ thể sáng tạo, đó là cảm thức nhân văn bên cạnh tinh thần tranh đấu trong thơ Triệu Từ Truyền thời ấy. Bởi ở bài thơ Bé thơ Sơn Mỹ, bài thơ viết về cuộc thảm sát hàng trăm đồng bào ta do một trung đội lính Mỹ gây ra ngày 16/3/1968 tại làng Sơn Mỹ, Quảng Ngãi, ký tên Lê Dân đăng trên tuyển tập thơ  “Ta đã lớn lên bên này Châu Á” (Triệu Từ Truyền, người viết bài thơ Sơn Mỹ - Nhà báo Lê Văn Nuôi). Uất nghẹn hờn căm và thúc giục kêu gọi hành động, mà phải hành động ngay là lẽ đương nhiên: “ Sơn Mỹ, vết thương đau nhức từng giây/ Ta không đợi một giờ hay chiều tiếp/ Phải hành động ngay mới còn cứu kịp/ Những mẹ già, em nhỏ phút giây này”. Tuy vậy vẫn khác rõ với kiểu giọng thơ khẩu hiệu mà ở đây ẩn chứa nỗi đau đớn trước những mầm sinh linh bị hủy diệt bên cạnh những xác mẹ, xác bà. Tội ác và bản chất phi nghĩa bị phơi bày đến tận cùng qua một loạt hình ảnh chạm đáy tình người cả những người Mỹ tiến bộ lúc đó trên đất nước có tượng đài Nữ thần Tự do sừng sửng cũng phải lên tiếng nói! (một năm sau, bài “Bé thơ Sơn Mỹ” đã được dịch ra tiếng Anh với tựa “Child of My Lai” đăng trong tuyển tập thơ “We Promise one another” (Chúng tôi cùng ước nguyện), được xuất bản tại Mỹ bởi The Indochina Mobile Education Project-Wasshington, D.C.-1971) ( Bđd – nhà báo Lê Văn Nuôi)

      “…Bé sinh ra như mới được trổ mầm/ Nhờ nhựa sống của thân cây dân tộc/ Bé nào biết ông cha là rễ gốc/ Nào có hay bà mẹ là nhựa đường/…Bé có ngờ đâu mấy chục triệu người thương/ Chúng giết bé như diệt mầm cổ thụ...”.

      “…Lời vĩnh biệt, nhưng không là lời sau hết/ Vì các bé sẽ sinh nhiều nữa, nhiều hơn/ Sẽ lớn lên như Phù Đổng để trả ơn/ Cho cả dân tộc không sờn lòng nuôi bé/ Như cổ thụ muôn đời sừng sững thế/ Những mầm xanh sẽ trổ rậm trên cành…”

Trở lại với tập thơ Đêm lên cơn dài, nhiều tác giả trong tập bình luận gặp nhau ở điểm chung chọn, trích dẫn những bài thơ mà anh bày tỏ những ưu tư đầy dằn vặt về thân phận tuổi trẻ “bị lưu đày trên chính quê hương mình” (Thơ và sự lương thiện – Nguyễn Miên Thảo), đang tồn tại một kiếp người tang thương, không mùa xuân, không  mặt trời, hiện tại, tương lai bị đánh cắp… (bài thơ cho hôm nay, người và thành phố, xứ nóng, chưa tới, tâm trạng, nghĩ tới em, hai tôi, khóc, nước mắt, tù 1, 2, 3…). Cảm thức nhân văn, khát vọng nhân văn là dòng cảm xúc chủ đạo của tập thơ, ngay cả khi anh thể hiện chủ đề tình ái, tình yêu. (chia xa, em sang năm, tỏ tình, dòng tóc, khu vườn, mưa, hoang mang…)

…tôi không muốn gieo điêu tàn sỏi đá
nên nỗi buồn tuyệt vọng đã sinh sôi
thành mặc cảm giữa lòng đời man trá
chỉ tình yêu còn biết thở trong tôi… (khu vườn)
…khuất em trong mắt đuối mềm
hay tình yêu rụng đầy thềm hoang vu
cánh hoa máu giữa mịt mù
anh xuôi thân thế hoài u tủi hờn (hoang mang)
…anh đấu tranh giữa giọt sáng trong mây
thì xương máu thì em thành con nước
đất mềm dẽo mọc tóc rừng xanh mướt
phải không em mưa nắng của miền nam (tỏ tình)

và còn nhiều nữa…

- Năm 2011, trong hồi ức về bài “Bài thơ bắt đầu” mà anh tặng năm 1969, một kỷ niệm nhỏ, đẹp và khó quên, tôi có nhận xét về thơ của anh, “…Thơ phải đến với đời bằng một diện mạo mới, lắng sâu giá trị nhân văn trong tứ thơ, trong từng con chữ sản sinh từ hồn thơ ray rứt, đau đau với đời không thôi”. (Triệu Từ Truyền và Bài thơ bắt đầu, Nguyễn Nguyên Phượng). Cảm nhận này chắc hẳn chưa bao quát con người thơ, một tư duy sáng tạo thơ chưa bao giờ thôi tiến về phía mời gọi của nghệ thuật thi ca. Hay nói về anh một cách chí tình như “cô gái Huế”, bạn thơ đồng niên thời được gởi tặng tạp chí Bộ Lạc Mới năm 1965, “..thơ là hơi thở của anh, không có thơ Truyền chết. Thơ đã bức tử anh để cho anh một cuộc sống khác đầy hân hoan, thống khổ trong hạnh phúc. Nếu không có thơ, không mê đắm thơ, anh phải đi con đường khác không lối quay về…” (Bđd- Nguyễn Miên Thảo). Và tôi cũng rất thích cách dùng chữ của nhà thơ Đoàn Vị Thượng khi lấy điều sở nguyện bi tráng của Boris Pasternak để nói về hành trình thơ của anh, Triệu Từ Truyền, “Làm thơ đến tận cùng đâu phải chuyện chơi”(Bđd). Định vị từ tập Đêm lên cơn dài  (1965) anh gởi đến người yêu thơ các thi phẩm Bên dòng Măng thít (1986), Dật dờ trong sương (1990), Mảnh vỡ hồn Nhiên (1994), Va chạm hư không (1999), hai tập tuyển thơ song ngữ (2001 và 2010) và mới đây là Lục bát Triệu Từ Truyền. Nếu tính từ năm 1962, sáng tác bài thơ “Quê hương”, anh đã trãi đời, đắm hồn vào cõi huyền hoặc thi ca 50 năm!

50 năm cho cuộc hành trình lịch sử và thơ - hành trình ứa lệ máu khát vọng nhân văn. 50 năm và giờ anh đang “trước đèn” ở Thụ triết trang hay đang lang bạt dọc đường gió bụi phù sinh? Nhưng chắc hẳn một điều rằng những “hồng cầu thơ” vẫn lặng thầm sinh nở từng giây, từng khắc trong tâm thức anh.“Bằng tài năng và liên tục sáng tạo ngôn ngữ bằng tâm thức, bằng chính nghiệp thơ của mỗi người được dòng năng lượng tâm linh chuyển tải…” (Sđd - Triệu Từ Truyền), anh vẫn “chiến đấu” vì Chủ nghĩa Nhân văn mang hồn cốt triết minh triết phương Đông cho nền Văn học Việt Nam.

6.  Tập bình luận Triệu Từ Truyền giữa đôi bờ tri thức và tâm thức đầy đặn với 30 bài viết của những cây bút có tầm và có tâm gần xa các vùng miền đất nước, yêu mến soi rọi từ  nhiều phía tri thức, nhiều chiều thấu cảm về 50 năm - hành trình thơ Triệu Cung Tinh – Triệu Từ Truyền.

Còn tôi chỉ là một người bạn thơ, yêu thích thơ anh từ 40 năm về trước và giờ đây, muốn là “con mắt xanh” khi đến với thơ anh, một đời thơ luôn bỏng cháy khát vọng đổi mới thơ mình và truyền lửa đổi mới Thi ca. “…Thơ là luôn lập kỷ lục mới, là tinh thể kim cương, thơ còn tỏa sương sớm bao quanh độc giả. Hơi sương ấy có thấm vào da thịt nhiều ít là tùy lớp áo dày mỏng của khách thăm vườn thơ” (Sđd - Triệu Từ Truyền). 

Chỉ mong tôi và nhiều, có thêm nhiều khách thăm vườn thơ thấm vào tâm hồn hơi sương đồng điệu theo cách nói khá lý thú của anh về mối quan hệ tri âm giữa bạn đọc và thơ ca. Mong là được như vậy…   

TT Gia Ray - TP.HCM, đầu năm 2013
NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG
Theo NVTPHCM



Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018

NHÀ THƠ THANH QUẾ: MŨ NỒI & XE ĐẠP

Ðặc điểm lớn nhất của nhà văn, nhà thơ Thanh Quế là ông... không biết đi xe gắn máy. Giữa phố phường Ðà Nẵng đông đúc, cứ thấy ông nào treo vắt vẻo cái cặp to đùng trên ghi đông xe đạp, đầu đội bê rê hoặc mũ lưỡi trai, nhẫn nại đạp vẹo vọ trên đường, ấy là... nhà văn Thanh Quế.
Nhà thơ Thanh Quế

Nhưng thực ra ông là người chính gốc Phú Yên. Tại xứ Nẫu ấy, ông còn mẹ già và các em gái. Còn mình, sau chiến tranh, ông "định đô" ở thành phố Ðà Nẵng, nơi ông đã gắn bó và cầm bút gần nửa thế kỷ qua. Ông là học sinh miền Nam, ra bắc học ở trường học sinh miền Nam số 24 Hà Ðông rồi vào học khoa sử Ðại học Tổng hợp Hà Nội. Rồi vào chiến trường khu năm năm 1969. Thuở còn sinh viên, lứa như chúng tôi đã được đọc văn ông, những tác phẩm viết về chiến tranh, nóng hôi hổi mùi bom đạn và trắng đến nhức mắt, khô không khốc những cồn cát miền Trung mà chúng tôi ở miền Bắc thời bấy giờ nhờ đọc văn ông mới biết. Ông đồng lứa với các nhà văn Chu Cẩm Phong, Trần Vũ Mai, Bùi Minh Quốc, Dương Thị Xuân Quý, Cao Duy Thảo... những người đã gắn cả tuổi trẻ của mình vào chiến trường Quảng Ðà khốc liệt. Rất nhiều nhà văn đã mãi mãi nằm lại ở vùng đất này, có người đến giờ vẫn chưa tìm thấy di hài. Ðồng đội cũ đã dựng ở bảo tàng quân khu năm một tấm bia khổng lồ bằng đá quý từ Bình Ðịnh khắc tên các liệt sĩ văn nghệ hy sinh. 

Và vì thế, nhà văn Thanh Quế bây giờ ngoài việc viết văn như trả một món nợ với cuộc đời, với quê hương, còn lặng lẽ làm một cái việc là viết hồi ký về những tháng ngày hào hùng đã qua ấy, về những nhà văn, những văn nghệ sĩ đồng đội đã anh dũng ngã xuống với tư thế là những người lính. Văn, thơ và hồi ký là ba thể loại đang song hành cùng ông. Ông cũng viết rất nhiều cho thiếu nhi, điều mà không phải nhà văn chuyên nghiệp nào cũng làm được. Thoạt nhìn, ông giống bác đưa thư hơn là nhà văn. Xuề xoà, vui tính, nói to, hay cười, cả nể, luôn luôn cố hữu một cái mũ trên đầu vì ông bị... hói, nhưng thơ ông nén chặt tinh tế đến kỳ lạ. Thơ ông thường ngắn, rất ngắn, nhưng dung lượng rất lớn. Ông không câu nệ chữ, không câu nệ vần mà chú trọng tứ và ý tưởng lấp lánh sau những hàng chữ. Và vì thế mà nó có khả năng công phá. Ðây là một bài thơ của ông, bài "Hành trang":

Cái ngày bàn tay thần chết sờ lên sống lưng tôi
Phả hơi lạnh như băng của nó
Tôi mỉm cười bảo: "Hãy chờ tôi tí
Tôi còn chuẩn bị hành trang"
Tiền bạc, của cải, nhà cửa, áo quần
Những thứ đó không cần gì cho tôi cả
Những tuyển tập Văn, Thơ, Triết học của những bậc thiên tài
Tôi cũng chẳng mang đi nổi
Trước sự thúc giục của thần chết đứng bên
Tôi chỉ cầm theo một cây bút nhỏ
Ðể từ thế giới bên kia tôi viết cho những người đang sống
Ðó là những gì tôi mang theo vào giây phút cuối đời
Khi bàn tay thần chết sờ lên sống lưng tôi.
1993

Có bạn đọc quen đã hỏi tôi rằng: Thế này mà là thơ à? Mà lại được nhiều người khen hay, được chọn vào tuyển thơ Việt Nam 1975 - 2000. Quả là so với thơ thông thường, nó hơi khó đọc thật. Ngay so với tạng thơ của tôi, nó cũng khác một trời một vực. Nhưng đấy chính là quy luật sống còn của thơ: Ðơn nhất, không lặp lại. Và thơ cũng có nhiều cách để thể hiện. Có thơ thiên về hình ảnh, vần, tính nhạc. Có thơ thiên về lập tứ, vượt qua mọi ràng buộc để giải phóng tư tưởng, nói hết, nói tràn được những điều muốn nói. Có thơ dồn nén ngôn ngữ như ta dồn bộc phá, có sức bung nổ rất cao. Có thơ chỉ chú trọng đến âm thanh... Thanh Quế thiên về triển khai tứ theo một quy luật ngôn ngữ nghiêm nhặt. Bài thơ này khiến ta xúc động ở chỗ: Viết về những giây phút cuối cùng của cuộc đời mà vẫn vô cùng bình thản, thậm chí có chất u mua. Thông điệp của ông chính là: Từ thế giới bên kia tôi viết cho những người đang sống. Một thông điệp đầy chất nhân văn cộng sản chân chính của một nhà văn đã lăn lộn qua chiến tranh, đã từng nhiều lần bị thần chết sờ lên lưng, đã dùng ngòi bút của mình thắp đuốc tìm về cuộc sống. Và vì thế mà yêu cuộc sống đến cháy bỏng, đến chết rồi vẫn muốn viết cho những người đang sống.

Thanh Quế sinh đúng năm đất nước độc lập tại huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ðến nay ông đã xuất bản khoảng hai chục đầu sách. Có những câu thơ của ông cứ găm vào tâm trí tôi: Mênh mông vườn nối vườn/ Anh vừa đi vừa hái bao nhiêu quả/ Ðến lúc mệt nhoài trong nắng hè ngồi nghỉ/ Lấp loáng sau vòm cây/ Anh bỗng nhận ra/ Chùm quả anh chưa gặp bao giờ... Cái quy luật kiếm tìm của con người nó như thế. Nhiều khi vì một phút lơ đãng, ta đã bỏ qua một cái đích kiếm tìm. Cuộc đời luôn trộn lẫn cái bình thường và cái phi thường. Nhận ra nó là cả một cuộc kiếm tìm không ngừng không nghỉ. Và kiếm tìm chính là một mục đích cao cả của con người chân chính, là hành vi biểu hiện cao nhất khả năng người của con người, những con người luôn vươn lên tự hoàn thiện nhân cách một cách cao đẹp nhất...

Ðặc điểm lớn nhất của nhà văn, nhà thơ Thanh Quế là ông... không biết đi xe gắn máy. Giữa phố phường Ðà Nẵng đông đúc, cứ thấy ông nào treo vắt vẻo cái cặp to đùng trên ghi đông xe đạp, đầu đội bê rê hoặc mũ lưỡi trai, nhẫn nại đạp vẹo vọ trên đường, ấy là... nhà văn Thanh Quế. Có lần tôi và nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng bay từ Hà Nội về, phải transit ở ga Ðà Nẵng 2 tiếng, thế là đi taxi vào tìm Thanh Quế. Ông rủ chúng tôi sang thăm nhà văn Ðà Linh ở NXB Ðà Nẵng, tiện thể... nhậu luôn. Nhưng ông không cho chúng tôi đi taxi mà kêu một cái xích lô để tôi và Nguyễn Thanh Mừng ngồi, còn ông nhấp nhổm đạp xe bên cạnh, nói chuyện oang oang, nhiều người đi đường ngoái nhìn, chắc tưởng ba lão... gàn. Gần đây ông được trang bị điện thoại di động, mà cái cách ông dùng cũng có một không hai. Ấy là ông chỉ biết ai gọi tới thì bấm cái nút xanh rồi quát lên rất to "ai đấy". Còn gọi cho ai thì ông rất cẩn trọng tay trái giữ máy, dùng ngón trỏ tay phải chọc từng số trên bàn phím, tất nhiên trước mặt là cuốn sổ ghi số điện thoại. Có một lần gọi cho tôi, ông hoan hỉ quát rất to trong máy "Sao chú biết anh gọi?" khi nghe tôi vừa mở máy đã lễ phép chào đúng tên ông. Thế mà hiện nay, ông giữ rất nhiều trọng trách trong làng văn chương: Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Liên lạc các nhà văn miền Trung (một vị trưởng ban mẫn cán và đầy trách nhiệm trong việc giục các nhà văn sáng tác và thăm hỏi tặng quà mỗi khi có vị nào đó ốm đau. May mắn là tôi chưa được ông... thăm hỏi lần nào...), Phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật thành phố Ðà Nẵng, Tổng biên tập Tạp chí Non Nước, Tổng thư ký Hội Nhà văn Ðà Nẵng... 

Ông là người rất tận tình với bạn bè, dù đó là đàn em như chúng tôi. Nhớ cái lần có cuộc họp các nhà văn ở Ðà Nẵng, trước khi ai về nhà nấy, ông đến và lôi trong cái cặp to đùng ra mấy xâu tré, đặc sản Ðà Nẵng, "của ít lòng nhiều", ông biếu mỗi người mấy cái về... uống rượu. Có hôm khuya rồi, ông vẫn đi bộ đến khách sạn: Tớ mới lĩnh chút nhuận bút còm, đãi các cậu chầu bia. Ra vỉa hè cho mát. Tôi nói thêm: cho... rẻ. Hàng năm bận mấy, ông vẫn về Phú Yên thăm mẹ, nhưng ông đã trở thành một phần Ðà Nẵng rồi. Một nhà văn trẻ Ðà Nẵng nói với tôi: Sẽ ra sao nhỉ, nếu một ngày nào đó Ðà Nẵng không còn cái dáng bê rê xe đạp kia? không còn những trang văn, bài thơ thấm đẫm tình yêu và trách nhiệm của nhà văn, nhà thơ Thanh Quế?...

Ông vẫn viết rất khoẻ. Ta vẫn thường ngày thấy tên ông trên các báo tạp chí trung ương và địa phương. Sách vẫn ra đều đều. Và điều quan trọng, cậu con trai của ông, cháu Phan Tuy An, mấy năm nay cũng liên tục có thơ in trên các báo, đặc biệt là dịp tết. Hổ phụ sinh hổ tử. Ông rất tự hào vì khả năng "cha truyền con nối" văn chương này... Hôm qua, ông mới gửi tặng tôi tập sách mới nhất, tập "Những kỷ niệm, những gương mặt"...

Gia Lai 2003
VĂN CÔNG HÙNG

____________

Bài này viết từ 2003 nên thông tin giờ đã thay đổi, bác Thanh Quế giờ đã nghỉ hưu, và vẫn sống cần mẫn ở Đà Nẵng (VCH).

 Nguồn: NVTPHCM



TÔN PHƯƠNG LAN: MỘT GÓC NHÌN XUÂN DIỆU

… Cho nên, tôi nghĩ, cả Bình Định, Hà Tĩnh và đương nhiên là Hà Nội nữa, tự hào vì có Xuân Diệu. Cả ba quê đó đã hoà hợp để hình thành nên tư chất văn hoá nơi ông.
Nhà phê bình Tôn Phương Lan

1.
Tôi nhìn thấy Xuân Diệu lần đầu tiên ở quê tôi - làng Nhượng - khi đó còn chưa có chiến tranh. Trong hành trình về quê hương Hà Tĩnh nói chuyện thơ thì quê tôi là một điểm đến của ông. Đó là một buổi tối đẹp trời.

Cử tọa vòng trong vòng ngoài kín cả sân trụ sở Ủy ban xã: ngoài giáo viên, học sinh còn có nhiều người làm nghề chài lưới và các chị ở nhà chuyên nuôi con và nội trợ. Trước một cử tọa đông và háo hức, Xuân Diệu nói rất say sưa về thơ mình. Mỗi lần bình xong một bài, đọc lại toàn bộ bài thơ đó, ông lại cúi đầu chào và tất cả cử tọa lại vỗ tay nồng nhiệt.Người nghe như bị ông hút hồn vì ở một miền đất vốn yêu và khát văn chương (thời bấy giờ phương tiện truyền thông quá hiếm so với bây giờ) mà lại được thực mục sở thị một nhà thơ danh tiếng như Xuân Diệu là một điều hiếm nên dường như không có ai bỏ về giữa chừng. Đang lúc cao trào thì một chị mang theo con nhỏ bị nó đòi đi tiểu. Chắc bỏ ra thì tiếc, lại sợ mất chỗ ngồi tốt, chị ta đành hồn nhiên mà cho con tè tại chỗ. Nhiều người thấy vậy khó chịu vì cảm thấy quá mất thể diện với ông. Nhưng Xuân Diệu không lấy điều đó làm vì, vẫn tiếp tục một cách say sưa. Sau này, tôi mới biết rằng, ông ghi nhận đằng sau những cử chỉ không được lịch sự lắm đó của những người dân quê là tình cảm, nhiệt tình của độc giả đối với ông và tình yêu đối với văn thơ. Với ông, điều đó rất cần.

Có hàng trăm buổi bình thơ trước công chúng thôn quê, tôi chắc những trường hợp như trên không là hy hữu. Bởi khi Xuân Diệu bình thơ, nói chuyện thơ, ông có một sức hấp dẫn lạ lùng.

Một trường hợp khác mà gần đây Giáo sư Hà Minh Đức có kể lại trong cuốn Xuân Diệu - vây giữa tình yêu. Hồi đó tôi, Mai Hương và Bích Thu còn trẻ và cùng mới về nhận công tác tại Viện Văn học. Một buổi tối, Giáo sư dẫn chúng tôi đến thăm Xuân Diệu tại nhà riêng trong biệt thự có cây hoàng lan nằm trên một con phố yên tĩnh. Căn phòng ông ở không thật rộng, có lát gạch hoa, lại có nhiều giá xếp đầy sách. Trên bàn làm việc có mấy bông hồng trắng cắm trong chiếc cốc thuỷ tinh càng tôn thêm vẻ quý phái, lịch lãm của chủ nhân. Trong không khí thoải mái, câu chuyện giữa ông với thầy trò chúng tôi đã diễn ra rất thân mật.

Tôi ngồi nghe ông nói và tranh thủ quan sát khuôn mặt, mái tóc bồng bềnh của ông, nhất là mỗi khi ông ngúc ngắc cái đầu lúc này tóc đã bạc. Tôi còn nhớ lúc ra về tôi nhanh nhảu giơ tay bắt tay ông và buột miệng chào ông bằng bác (vì lúc đó tôi nghĩ ông hơn tuổi bố tôi nên xưng hô thế là phải phép). Không ngờ, ông lại ngắc ngắc cái đầu theo thói quen tỏ vẻ thật sự ngạc nhiên với cái giọng Bình Định nhấn và kéo dài từng âm tiết một như đay đả: là bác à. Cái đại từ này tôi nghe nó lạ quá.

Tôi lúng túng chưa biết nói thế nào thì may quá, thầy Hà Minh Đức đã đỡ lời. Các cô này cũng còn trẻ cả đấy. Tuy nhiên, chỉ nên gọi bằng anh cho dễ vì anh Xuân Diệu đây là nhà thơ tình…. Rút kinh nghiệm sau lần đó, tôi cũng đỡ lúng túng hơn khi chọn đại từ xưng hô với các nhà thơ, kể cả các nhà thơ lớn tuổi như Huy Cận và Tế Hanh. Nhưng với Tô Hoài thì tôi vẫn gọi bằng bác, dù Tô Hoài ít tuổi hơn. Có lẽ vì ông không phải là nhà thơ tình?

Lần cuối cùng tôi gặp Xuân Diệu là dịp Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc năm 1985 mà tôi được tham dự. Tối hôm trước, có cuộc giao lưu giữa các đại biểu và các nhà văn Thủ đô. Chúng tôi chỉ biết là ông đang bị mệt vì không thấy ông đến. Sáng hôm sau, vừa đến hội trường chúng tôi bàng hoàng nhận được thông tin là ông mất đêm qua do nhồi máu cơ tim. Khi Ban tổ chức chính thức thông báo, chúng tôi đã dành thời gian để mặc niệm ông. Không khí trong Hội trường trầm hẳn xuống khi nhà văn Lữ Huy Nguyên thay mặt Ban tổ chức đọc bài viết dài 20 trang đánh máy cuối cùng vốn là tham luận ông viết cho Hội nghị.

Chúng tôi lắng nghe và hình dung ra trước mắt mình vẫn là một nhà thơ Xuân Diệu với thói quen thỉnh thoảng lại ngúc ngắc cái đầu đang ân cần dặn dò lớp nhà văn trẻ bằng sự trải nghiệm của cuộc đời hơn năm mươi năm cầm bút, bằng tình thương yêu đối với lớp trẻ chúng tôi và bằng tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp văn học của dân tộc. Sau đó, một số đại biểu rủ nhau vào ngay bệnh viện Việt-Xô. Một số tham gia lo việc tang lễ. Hôm đưa tang ông, một trong số những đại biểu trẻ được vinh dự khiêng linh cữu ông vào nhà tưởng niệm, túc trực rồi sau đó khiêng quan tài ông đưa ra xe tang.

Tôi đã chứng kiến nhiều đám tang của văn nghệ sĩ ở trụ sở 51 Trần Hưng Đạo. Có lẽ sau đám tang Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh thì đám tang Xuân Diệu là đông và xúc động nhất: cả một rừng người và một rừng những vòng hoa màu. Rất nhiều người khóc. Những ai đến viếng ông chắc họ đều hơn một lần đọc và thuộc ít nhiều thơ ông. Biết đâu những câu thơ tình của ông từng là nhịp cầu tình yêu cho bao đôi lứa?

Trong đám tang đó, duy nhất có một bó hoa trắng (màu hoa chỉ sự trinh trắng, thường dùng trong đám tang của người chưa lấy vợ lấy chồng hoặc trẻ em) rất đẹp - giống như hoa tết dùng cho sinh nhật bây giờ, là của đạo diễn Bạch Diệp đến viếng. Tôi đi bên xe tang cạnh nhà thơ Hoàng Trung Thông lúc này cũng đang im lặng nhưng mắt thì đỏ hoe. Chúng tôi nhìn màu trắng của hoa - những bông hoa từ chính người đàn bà danh chính là vợ duy nhất của ông dầu họ sống chung với nhau trong một quãng thời gian không dài; và đưa mắt cho nhau, ngậm ngùi ngẫm nghĩ về ông mà thương ông khôn xiết. Tôi chợt nghĩ: liệu trong bấy nhiêu thành quả lao động đồ sộ mà ông để lại cho đời có bao nhiêu phần trăm là kết quả của một sự lao động để mà lãng quên nỗi bất hạnh về giới tính của mình?

2.
Theo như cách nghĩ của tôi, Xuân Diệu là người có ba quê : quê cha, quê mẹ và quê nơi mình lớn lên, lập nghiệp và trưởng thành. Cả ba quê ấy, theo những cách khác nhau đã thẩm thấu vào tâm hồn ông, tạo nên tính cách, con người ông khá rõ.

Với Xuân Diệu sự sống đúng là không bao giờ chán nản. Ông là người lao động cần cù với cái nghĩa đúng nhất, đầy đủ nhất. Không biết có phải do hoàn cảnh? Do bẩm sinh? Do tính cách? Hay là sự lựa chọn? Ông lao động chữ nghĩa như một người khổ sai suốt cả cuộc đời mình. Có mặt gần như trên hầu hết các thể loại văn học: thơ, văn xuôi, tiểu luận phê bình, nghiên cứu, dịch thuật, ông còn làm báo, làm tuyên truyền, làm cán bộ xuất bản, làm công tác bồi dưỡng những người viết trẻ, đi bình thơ trước công chúng, giới thiệu văn học nước ngoài vào Việt Nam và giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài.

Chỉ riêng công việc khảo cứu các nhà thơ cổ điển của ông, từ góc nhìn của một người làm nghiên cứu, chúng tôi hoàn toàn tâm phục khẩu phục! Chưa kể ông còn là một người tham gia hoạt động xã hội tích cực, sẵn sàng phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp lớn. Trong chiến tranh, ông đã vào tuyến lửa khu IV không dưới mười lần.

Sau ngày đất nước thống nhất, dù đã bước vào tuổi lục tuần và giao thông ngày ấy không hề thuận lợi ông vẫn tranh thủ đi khắp miền Nam. Đi đâu, đến đâu, ông cũng tìm cách “giao cảm với đời” và có được những bài thơ mang dấu ấn của miền đất đó. Những năm cuối đời nhìn sang lớp bạn bè đi kháng chiến một số đã lần lượt ra đi, ông ý thức cái chết như một quy luật tự nhiên sẽ đến vì quỹ thời gian của ông đã như miếng da lừa đang ngày càng co nhỏ lại. Ông hiểu rằng “con người cần phải biết nhìn về nơi chốn cuối cùng của mình để những ngày tồn tại trên trái đất này sao cho xứng đáng”. Nên ông dồn hết mọi thời gian, tranh thủ từng phút, từng giờ để làm việc.

Những kỷ niệm, những câu chuyện, giai thoại về sự cần cù, về ý chí, nghị lực của ông đã tỏa ra quanh ông một vầng hào quang nửa hư nửa thực về một sức làm việc phi thường vào thời điểm trên bom dưới đạn, vào thời buổi gạo châu củi quế, người người chỉ lo vào việc mưu sinh. Cố nhà thơ Phạm Tiến Duật từng viết về ông “Suốt một thế kỷ qua hầu như ngày nào anh cũng viết, đến nay đã có mấy nghìn trang sách. Thế mà không hề có một dòng nào thờ ơ, không có một dòng nào lãnh đạm. Xuân Diệu không khi nào nói để mà nói, viết để mà viết. Trong ngôn ngữ của anh, khi cởi mở, khi cay nghiệt, lúc tỉnh táo, lúc mê say, luôn đập một trái tim trung thực, luôn hồi hộp một nỗi niềm khám phá”.

Nhiều bạn văn của ông cũng đều nói rằng Xuân Diệu là một người rất trung thực, lắm khi trung thực đến hồn nhiên nên dễ bị người khác nghĩ ông có phần nghiệt ngã (chỗ này người ta không tiện nói là ông vụng). Ông không ngần ngại nói ra những bài thơ nổi tiếng trước cách mạng của ông đã ảnh hưởng nhà thơ Pháp nào kể cả khi ông sang Pháp nói chuyện trước Việt kiều đã đành mà đối với thơ của một số cây bút vào nghề, ông cũng vạch ra một cách thẳng thừng, dù rất tận tâm về cái được và chưa được, khiến họ thoạt đầu không khỏi khó chịu, nhưng qua cơn tự ái thì lại cảm phục và kính trọng ông. Tôi nghĩ đức tính cần cù, ham học, giàu ý chí, nghị lực kể cả tính trung thực đến vụng về này là một đặc tính của người xứ Nghệ mà chắc ông được di truyền từ dòng máu của cha mình.

Trong số những câu chuyện “đời thường” được nhiều người kể lại thì ấn tượng hơn cả là việc Xuân Diệu rất coi trọng chất của bữa ăn. Đặc điểm này gắn rất chặt với tính mục đích cao vốn là một phẩm chất nổi trội trong cung cách làm việc của ông. Là người có quan niệm sống thiết thực, luôn coi trọng hiệu quả cụ thể, ông quan niệm một cách rất thực tế rằng “có thực mới vực được đạo”.

Ngót ba mươi năm ông đi xa rồi thế nhưng những người trẻ tuổi đọc và yêu thơ ông giờ đây chắc cũng khó hình dung nổi một ông hoàng thơ tình - tác giả của những câu thơ nồng nàn tinh tế, những câu thơ đã thành kinh điển cho những người đang yêu của nhiều thế hệ - mà lại phải tính toán lượng calo cần thiết cho cơ thể mỗi khi mua thức ăn và tằn tiện trong chi tiêu!

Mẹ Xuân Diệu là người Bình Định nhưng từ nhỏ, ông đã bị bố “bắt” về ở với mẹ già và những năm ông sống ở Hà Nội, người mẹ già ấy đã ở cùng ông. Dân Nghệ xưa nay vẫn được (hay bị) gọi là dân cá gỗ vì họ vốn nghèo nên phải tằn tiện, chắt chiu trong sinh hoạt. Xuân Diệu là người gốc Nghệ. Tính tằn tiện, căn cơ đó của ông chắc có yếu tố di truyền, thậm chí là được củng cố cả từ ảnh hưởng những bạn bè là dân “cá gỗ”. Như chúng ta đã biết, đó lại là những năm kinh tế đất nước rất khó khăn… Nhưng mặt khác cũng phải thấy rằng vì coi trọng chất lượng bữa ăn mà những năm bao cấp khó khăn đó, Xuân Diệu vẫn đủ sức khỏe để đảm đang một khối lượng công việc đồ sộ đến vậy.

Ông là người sống theo điều mình thích, vẫn ham viết, ham đọc, cần mẫn như một con ong thợ. Theo Vũ Quần Phương thì trong sổ ông lúc nào cũng có thơ chưa in, trong lòng lúc nào cũng có điều định viết và bao giờ cũng có tác phẩm xếp hàng ở nhà xuất bản. Ông kể là một bài của ông thường phải quay vòng đủ 4 lần: viết cho hội thảo, hội nghị, sau đó đọc ở Đài phát thanh, in báo và sau cùng là in vào sách. Chưa kể xuất bản miệng!

Tôi không biết trong con người Xuân Diệu có nét nào là đặc trưng của Bình Định quê dừa, ngoài giọng nói còn mang âm sắc miền Nam rất rõ. Nói rằng ông là người có trái tim đa cảm, mặn mòi, có tâm hồn luôn rộng mở… là riêng từ người mẹ truyền sang thì tôi e nói lấy được! Thì Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và bao danh nhân khác của đất Hà Tĩnh đấy thôi. Cả Huy Cận bạn ông nữa: tâm hồn và trái tim của họ như cây đàn muôn điệu.

Có nhiều người đã nói về cái chất trữ tình trong tư chất của con người Hà Tĩnh khi so sánh cụ thể với người anh em song sinh Nghệ An vốn chất cách mạng đậm đà hơn! Có lẽ nói cho công bằng thì đó là cái phần hoà hợp giữa hai tâm hồn bố mẹ để rồi có một Xuân Diệu thi sĩ, một Xuân Diệu đa tình trong… thơ. Tư chất đó đã góp phần làm nên một trong những gương mặt sáng giá nhất của nền thơ Việt Nam thế kỷ XX. Như ông từng viết Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con/ Cảm ơn Thầy vượt Đèo Ngang bất kể/ Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ/ Nên máu con chung hoà cả hai miền.

Đương nhiên, để có nên một Viện sĩ, một nhà văn hoá Xuân Diệu thì phải có Thăng Long - Hà Nội. Hà Nội không chỉ là nơi ông học Đại học, là nơi ông sống để rồi trở thành một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới. Hà Nội là nơi để cho tài năng Xuân Diệu trưởng thành và phát triển, là nơi ông bước qua những mặc cảm về một tuổi thơ nghèo khổ để hoà nhập vào một môi trường văn hoá, thâu nạp vào mình những kiến thức từ sách vở, từ công việc, bạn bè. Đó là nơi có căn phòng nhỏ mà ông đã sống trong ba mươi năm cuối cuộc đời cùng một mái nhà với người bạn tri ân tri kỷ Huy Cận, là địa chỉ tin cậy, nơi lui tới thường xuyên của mấy thế hệ nhà thơ, nhà văn - những người chủ chốt đã làm nên nền văn học cách mạng. Cho nên, tôi nghĩ, cả Bình Định, Hà Tĩnh và đương nhiên là Hà Nội nữa, tự hào vì có Xuân Diệu. Cả ba quê đó đã hoà hợp để hình thành nên tư chất văn hoá nơi ông.

Những người làm công tác nghiên cứu chúng tôi cũng rất cảm ơn ông đã để lại một gia tài đồ sộ, phong phú và đặc sắc. Tinh thần làm việc cần cù, nghiêm túc với một ý chí, nghị lực phi thường, một tinh thần dũng cảm vượt qua những khó khăn, bất hạnh để “nhìn đời bằng đôi mắt xanh non” của Xuân Diệu cũng là bài học lớn cho những ai muốn đi xa trên con đường học tập và nghiên cứu.

TÔN PHƯƠNG LAN
Nguồn: Văn Nghệ

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU