Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

KIÊN GIANG - HÀ HUY HÀ NHÀ THƠ CHÍNH HIỆU NAM BỘ

Nhớ đến những bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”, “Tiền và lá”… những người yêu mến thơ, mộ điệu với những vở tuồng cải lương một thời vẫn luôn nhớ đến ông, nhà thơ, soạn giả Kiên Giang – Hà Huy Hà, một cây bút tiêu biểu, mang đậm phong cách Nam bộ của nền thơ ca miền Nam cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI này…
Từ trái: Nhà thơ Phan Hoàng, nhà thơ Kiên Giang, danh hài Hoài Linh

Mới đó mà đã 1 năm ngày ông ra đi. Nhớ về ông, nghĩ về ông và qua những vần thơ của ông, có lẽ không một nhà thơ Nam bộ nào có cách viết, cách sử dụng câu chữ vừa dân dã, chơn chất đậm sệt chất Nam bộ như ông. Trong lòng tôi, ông mới chính là nhà thơ Nam bộ chính hiệu!

Trong bài thơ rất nổi tiếng “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của ông, sáng tác tại Bến Tre năm 1957, cái mộc mạc chơn chất đã thể hiện qua hai câu thơ: “Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo/ Nhưng tin có Chúa ngự trên trời…”, mà trong cuộc sống đời thường nó đã trở thành câu nói đầu môi của bất kỳ chàng trai miền Nam nào không có đạo nhưng lỡ yêu người con gái là “tín đồ của Chúa”, và tôi dám khẳng định là đến bây giờ vẫn còn nhiều người dùng câu thơ này khi đã “trót yêu”. Hay câu thơ “Thuở ấy anh hiền và nhát quá”, lời giãi bày rất chân thật, vụng về nhưng lại rất dễ thương, cũng được nhiều người yêu nhau lặp lại. Trong bài thơ ấy còn có câu thơ “Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông…”. Cái từ “ghiền” người Bắc gọi là “nghiện” lại rất dân dã, bình dị, và trong thơ miền Nam chỉ có mình nhà thơ Kiên Giang dám sử dụng, và sử dụng rất thành công trong bài thơ này. 

Cũng giống như từ “tóc để gáo dừa” (có bản in “miểng vùa”) trong bài thơ “Tiền và lá”: “Ngày thơ tóc để gáo dừa”, cũng là từ đặc trưng Nam bộ, để chỉ cách hớt tóc của con nít ngày trước, Kiên Giang là người duy nhất “sở hữu” từ này rất đặc sắc và cũng rất hình tượng. Sau này có Nguyệt Lãng “học tập” sử dụng trong bài thơ “Rau đắng đất”. Bài thơ “Tiền và lá” cũng có những câu thơ giản dị, nhanh chóng trở thành câu nói của người Nam bộ “Tiền là giấy bạc em ơi/ Tiền là giấy bạc của người làm ra” và “Người ta giấy bạc đầy nhà/ Cho nên mới được gọi là chồng em”…

Không dụng công trau chuốt câu chữ, từ ngữ hình ảnh đầy chất Nam bộ, phóng khoáng nhưng giàu cảm xúc, câu thơ “Cỗ xe bò thành cỗ xe tang” (bài thơ Nhạc xe bò), là hình ảnh thường thấy ở vùng quê của Nam kỳ lục tỉnh xưa và cũng là hình ảnh hiếm người sử dụng. Hay hình ảnh trong bài thơ “Màu mực tím”: “Mỗi lần trái mồng tơi tím/ Anh hái làm mực tím/ Tặng cô bạn nửa ve bầu/ Cô đem mực tím nhuộm màu áo thơ”. Chỉ có ở những học trò nghèo, hái trái mồng tơi làm mực, rồi hình ảnh “nửa ve bầu” tên gọi cái bình mực mới mộc mạc và cũng đơn sơ như món quà đem tặng nhưng lại rất xúc động, bởi người thương “nhuộm màu áo thơ” rất lãng mạn và cũng rất đáng yêu.

Cùng những câu thơ tả lễ hội của đồng bào Khơ-me: “Tiếng trống cơm hòa nhạc ngũ âm/ Trong ngày Đưa nước hội trăng rằm/ Dù kê hát bội vui chùa miễu/ Sống thái bình quên cả tháng năm” (Bánh ống Trà Vinh). Rồi câu thơ “Mồ hôi ươn ướt, ốc tay tròn/ In dấu lem nhòe trang giấy thơm…” (Đồng xu giấy chặm). “Ốc tay” trong thơ chính là “hoa tay” hay dấu “vân tay” và cũng chưa thấy ai sử dụng ngoài Kiên Giang? Còn nhiều, nhiều nữa câu thơ rất đặc trưng, mang lời ăn tiếng nói của người dân quê Nam bộ trong thơ ông, nhất là những bài thơ viết về mẹ, làm nao lòng những người yêu thơ và yêu mến chính ông: “Xé vạt áo may thêm tã lót/ Mùi thơm khai sánh tựa hương trầm” (Ngủ bên chân mẹ) và “Con ngỡ trở về thời bú mớm/ Nghe bên thềm vẳng tiếng ầu ơ”…

Ngoài làm thơ, viết báo, Kiên Giang còn là một soạn giả cải lương nổi tiếng với những vở tuồng kinh điển: “Áo cưới trước cổng chùa”, “Người vợ không bao giờ cưới”. Và vở cải lương “Người vợ không bao giờ cưới” đã giúp cho cố nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm, trở thành ngôi sao sáng trong giới cải lương. Cũng như nhiều vở tuồng, bài ca của ông đã giúp cho rất nhiều nghệ sĩ đoạt các giải cao trong sự nghiệp, đoạt các danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú… Nhưng suốt cuộc đời của ông, ngoài “danh hiệu” người đời phong tặng là “nhà thơ, soạn giả” ông cũng chẳng được Nhà nước phong tặng gì, và ông cũng không hề thắc mắc hay đòi hỏi điều gì. An nhiên, đắm đuối với nghiệp Tổ, với “nàng thơ” đến lúc về cõi vĩnh hằng.

Nhớ đến những bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”, “Tiền và lá”… những người yêu mến thơ, mộ điệu với những vở tuồng cải lương một thời vẫn luôn nhớ đến ông, nhà thơ, soạn giả Kiên Giang – Hà Huy Hà, một cây bút tiêu biểu, mang đậm phong cách Nam bộ của nền thơ ca miền Nam cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI này…

Gò Dầu hạ, ngày 30/10/2015
TRẦN HOÀNG VY
Theo Văn Nghệ TP.HCM

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

HOÀNG THUỴ ANH: CHUYỂN ĐỘNG THƠ NỮ VIỆT NAM

Sở thích trở lại những năm tháng ấu thơ, tự ăn thế giới nội tâm đầy nữ tính, nên phụ nữ thường sa vào “lối viết thân thể” và “lạc thú thân xác”. Nhưng “thái độ tự yêu mình của phụ nữ chỉ làm cho họ nghèo nàn đi, chứ không hề làm họ thêm phong phú: không hề làm gì khác ngoài việc tự ngắm nghía mình, rốt cuộc, họ tự thủ tiêu mình” (Giới nữ, tập II, Nxb Phụ nữ, 1996; tr.408. Tác giả Simone de Beauvoir; Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh dịch).

Sự chiếm hữu bản thân như thế, vô hình trung, phụ nữ đã thỏa hiệp với phận số mà xã hội từ bao đời nay ràng buộc, mặc định, và còn tự bó hẹp những can dự của mình đối với thế giới. Chỉ khi dám đứng lên đấu tranh, “nỗ lực phá giới”, nỗ lực “cắt đuôi hậu tố nữ” mới mong trọn vẹn tiếng nói của chính mình. Cuốn tiểu luận – phê bình “Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ (&20 tiếng thơ nữ quyền đương đại)” của Inrasara (Nxb Hội Nhà văn, 2015)  cho chúng ta cái nhìn khá rõ nét về những chuyển động của thơ nữ Việt, từ chỗ vị thế kẻ lệ thuộc, thứ yếu, phụ nữ biết “tự yêu mình”, và bây giờ đã và đang khắc phục, giải thoát khỏi thiên tính nữ để chấm dứt mọi sự phân biệt về giới tính.
Nhà phê bình Hoàng Thuỵ Anh

Thơ cũ đã cũ, thiếu cái mới. Thơ mới lạ nhưng chưa hay, còn nhiều bất cập. Trong khi trẻ là thế hệ kế tiếp, nhận “lửa” văn chương từ lớp trước và phải có trách nhiệm giữ “lửa”. Nhưng có một thực tế: “Thơ trẻ (nhất là nữ) lâu nay hay bị than phiền là quá chủ quan, quá hướng về cái Tôi cảm tính mà ít mở ra bên ngoài”(2;tr.93). Đây là nhận xét hết sức thẳng thắn và xác đáng của Inrasara về thơ nữ [trẻ]. Trong khi phụ nữ đòi bình đẳng giới nhưng chính phụ nữ lại tự giới hạn con đường đi của mình. Quẩn quanh, loay hoay ăn mòn cái tôi nữ tính, cho nên thơ nữ (trẻ) không thể đi xa hơn. Nhưng, trong cuốnThơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ (&20 tiếng thơ nữ quyền đương đại), Inrasara vẫn điểm danh được 20 cây bút nữ, đại diện cho sự chuyển hướng, hành trình “cắt đuôi hậu tố nữ”. Cuốn sách có 3 phần: “khởi động”, “hướng tâm” và “ly tâm”. Phần I, Dư Thị Hoàn, Thảo Phương và Tuyết Nga là 3 gương mặt thơ “khởi động” cho kiểu thơ “mang xu hướng khai phóng”. Tuy là đại diện “khởi động” nhưng có thể nói cả 3 cây bút đều đã làm khá tốt nhiệm vụ của mình. Tất nhiên, không ai áp đặt hay bó buộc họ phải viết thế này hay viết thế kia cả. Cái chính Inrasara đã phát hiện lối viết nữ quyền trong chính cảm thức của họ. Tinh thần nữ quyền trong thơ Dư Thị Hoàn là sự “nhẹ nhàng và khiêm cung, nhưng lời thơ kia mang tự thân sức nặng của sự phá vỡ” (tr.35), “dám bước ra ngoài, và biết nhìn ra ngoài” (tr.37). So với Dư Thị Hoàn, Thảo Phương dấn thân vào “gập nghềnh chông chênh” nên thơ có được “nỗi khát khao tự do thoát khỏi không gian chật hẹp, tù túng” (tr42). Thơ Tuyết Nga lại mang hai luồng: vừa “hướng về sự mỏng manh và tinh tế” (tr.46) vừa “mang vẻ bụi bặm đời thường” (tr.48). Như thế, âm hưởng nữ quyền đã có mặt và tác động đến thơ cả 3 cây bút nữ này. Tuy vậy, thơ họ vẫn đang “khởi động” ở mức “chấm phá bản năng tìm kiếm chính mình” (Bản nháp – Tuyết Nga).

Phần II, đại diện “hướng tâm” là các cây bút: Vi Thùy Linh, Đinh Thị Như Thúy, Đỗ Khánh Phương, Lam Hạnh, Phan Huyền Thư, Phan Thị Vàng Anh và Vũ Thiên Kiều. Thơ họ hướng/thiên về nữ quyền nhưng không giải trung tâm, chưa cởi bỏ hậu tố “nữ”. Vi Thùy Linh là gương mặt đại diện đầu tiên cho sự “quyết liệt, hoành tráng và ồn ào... nhất” (tr.56). Người đọc có thể thấy dòng chảy tình ào ạt, say đắm và khát khao thể hiện đặc tính giới trong thơ chị qua câu chuyện của em và Anh (chủ ý viết hoa của Vi Thùy Linh). Bên cạnh những cái đạt được, Inrasara chỉ ra hậu quả đằng sau “lối viết từ bên trong” của Vi Thùy Linh là “thêm đuôi vào hậu tố nữ cho nhà thơ: nhà-thơ-nữ-trẻ, góp phần làm trì trệ công cuộc giải phóng phụ nữ trong văn chương” (tr.61). Trong mối quan hệ nam nữ, phải xóa bỏ quan niệm chủ thể và khách thể. Sự bình đẳng chỉ tồn tại khi cả nam và nữ đều là những chủ thể. Nếu lấy diễn ngôn nữ quyền chống lại thống trị của diễn ngôn nam quyền thì phụ nữ mới dừng lại ở việc khẳng định tinh thần nữ quyền chứ chưa xem mình là một chủ thể, song hành và đối thoại dân chủ với nam giới. Song, những “ồn ào” của Vi Thùy Linh lại rất cần thiết, đã “lôi cuốn được công chúng (văn học và không văn học) chú ý hơn đến người nữ và thơ nữ đương đại” (tr.61). Thơ Đinh Thị Như Thúy thiên về cảm xúc. Nhưng cảm xúc này không lệ thuộc vào cặp quan hệ em-anh nữa. Đọc các tập thơ của chị, chúng ta dễ dàng nhận ra giọng thơ đều đều, kéo dài, rỉ rả, âm ỉ nhưng ngồn ngộn bất an, nhói buốt. Inrasara xem “Phía bên kia cây cầu” của chị: “như cuộc hành trình dài đi vào nội tâm để mở cuộc độc thoại với nỗi cô đơn thân phận” (tr.66). Với Khánh Phương, Lam Hạnh, Phan Huyền Thư, Phan Thị Vàng Anh, mỗi người mỗi lối thơ. Thơ Khánh Phương “đó là loại thơ khách quan, đưa cái nhìn khách quan soi lại lịch sử ở chiều hướng khác” (tr.78). Giọng thơ Lam Hạnh “không quê mùa, không hiện đại” (tr.93) nhưng “lạ và khác”. Thơ Phan Huyền Thư “khá hậu hiện đại” nhưng “chưa mang đủ đầy cảm thức phi tâm hóa hậu hiện đại” và “chưa vượt qua lằn ranh nữ quyền hiện đại” (tr.105). Phan Thị Vàng Anh “đánh thức sự vật đang có mặt trong sinh hoạt ngày thường giữa đời thường” chuyển tải vào thơ (tr.114). Thơ Vũ Thiên Kiều cũng bung phá nhưng bung phá bằng lớp áo dân dã chứ không diễm tình như ngôn ngữ thơ Vi Thùy Linh: “Ngôn ngữ thơ của Vũ Thiên Kiều làm bạo động xô ý thơ trương nở và bung phá hết cỡ” (tr.122). “Kiều biết làm sống dậy lớp ngôn từ dân dã” đưa “nhịp điệu thơ phương Nam hướng theo lối khác, nhanh, cấp tập và mạnh mẽ hơn” (tr.126).

Phụ nữ “thường thành công trong khi miêu tả cuộc sống nội tâm, kinh nghiệm và vũ trụ của mình” (Giới nữ; tr.413). Lợi bất cập hại. Sống trong bầu không khí ấy, phụ nữ đã tự thủ tiêu khát vọng giải phóng và làm cho vấn đề giải phóng càng trì trệ thêm. Theo đó, Inrasara xem Vi Thùy Linh là người nữ “khởi động” cho sự trì trệ này. Rồi từ Đinh Thị Như Thúy đến Khánh Phương, Lam Hạnh, Phan Huyền Thư, Phan Thị Vàng Anh và Vũ Thiên Kiều, dù hơi hướm sắc đẹp, dục tính hay chuyện bếp núc giảm đi nhiều, cố gắng “vượt thoát” bằng cách làm mới/mở rộng hình ảnh, chủ đề, tư tưởng, ngôn ngữ, nhưng đọc thơ họ, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra cảm trạng yếu đuối, nhạy cảm và mong manh. Đinh Thị Như Thúy vẫn run rẩy, mỏng mảnh một cách đáng yêu dù đã chuyển đổi từ “em” sang “tôi”: “Tôi rất sợ khi đã khoác vào người một chiếc áo khác, nhìn cuộc đời bằng một màu mắt khác, mà còn đó nguyên vẹn những vui buồn của cảm nghiệm sống hôm nay” (Phía bên kia cây cầu). Phan Huyền Thư phân đôi cá thể để gia tăng điểm nhìn về con người và xã hội, rốt cuối từ ngữ không tránh khỏi vùng nóng bỏng nỗi niềm phận nữ: “Nằm nghiêng ở trần thương kiếp nàng Bân/ ngón tay rỉ máu. Nằm nghiêng/ khe cửa ùa ra một dòng ấm/ cô đơn. Nằm nghiêng/ cùng sương triền đê đôi bờ/ ỡm ờ nước lũ” (Nằm nghiêng). Đã có ý thức bung phá nhưng đặc tính “luôn luôn tìm cách gìn giữ, vá víu, thu xếp hơn là phá hủy và xây mới; thích thỏa hiệp và thương lượng hơn cách mạng” (Giới nữ; tr.255) của phụ nữ vẫn dồi dào trong thơ của những cây bút “hướng tâm”. Thơ Phan Thị Vàng Anh có tinh thần “an cư” như thế: “Bước tiếp thôi còn một tầng nữa thôi/ Bỗng thấy mình còn sống còn đau còn hạnh phúc/ Lại sợ rồi sẽ hết, những ngày này sẽ hết/ Hai tiếng nữa thôi, ngày lạnh nhất sẽ qua/ Buồn làm sao, chuyện gì rồi cũng thành ấm áp” (Ngày lạnh nhất Hà Nội). Tư duy thơ Vũ Thiên Kiều tự do, phóng khoáng đúng với cốt cách người miền Tây nhưng đề tài còn vương vấn chuyện sinh nở (một đặc điểm riêng, đặc biệt của phụ nữ), vẫn là tự truyện về “tôi”, dù chị đã lồng ghép, tích hợp vào đó bao phì nhiêu của cuộc sống: “Cuống rốn rụng muộn ngày quê/ củ khoai tây cuối vụ không đặc bột/ ốc vặn thôi trèo dọc môn hớt ánh mặt trời/ trăng non mười bốn/ sợi đay óng ưỡn người nằm trên sần sật nốt chai/ bàn tay bà nội thở trong váng đèn dầu đỏ/ mầm tre trồi lên từ gò đất/ mẹ sinh em” (Sấm chớp phù sa).

Như vậy, hầu hết thơ nữ ở vùng “hướng tâm” này, vừa muốn là chính mình vừa muốn phá bỏ, bàn về cái ngoài “tôi”, nhưng xét cho cùng, dù có nhiều cố gắng nhưng tâm thế họ vẫn bị mắc kẹt một cách vô thức về giới tính. Cái họ viết đang là “bản mặt nữ giới” chứ chưa có tâm thế của một chủ thể, viết về con người.

Ở khuynh hướng “ly tâm” (Phần III), Inrasara điểm danh 10 gương mặt tiêu biểu: Chiêu Anh Nguyễn, Du Nguyên, Đoàn Minh Châu, Khương Hà Bùi, Kiều Maily, Lê Thị Thấm Vân, Lưu Mêlan, Phạm Tường Vân, Phan Quỳnh Trâm và Tiểu Anh. “Họ thuộc thế hệ hậu hiện đại và hậu hiện đại mới. Mang cảm thức hậu hiện đại, sáng tác theo thủ pháp hay có âm hưởng hậu hiện đại, họ thổi luồng khí mới vào thơ Việt. Xu hướng ly tâm thấy rõ trong chọn cách xuất hiện của họ” (tr.135). Chúng ta có một Chiêu Anh Nguyễn “rất vỉa hè”, một Du Nguyên “ở lại cô đơn với buồn không địa chỉ” (tr.153), một Đoàn Minh Châu “đi một bước dài đưa thơ tình giảm bớt rất nhiều bản năng để hướng đến suy nghiệm” (tr.165), một Khương Hà Bùi với kiểu “thơ lăn lóc bụi bặm Sài Gòn, nhập cuộc vào dòng chảy sôi động của Sài Gòn luôn sôi động, mới mẻ và bấp bênh” (tr.173), một Kiều Maily “khi riêng, ... tinh tế và sâu lắng. Chung, nó mang tính đại diện” (tr.186), một Lê Thị Thấm Vân: “sâu sắc trí tuệ và sức bùng vỡ bản năng ...làm được cuộc vượt thoát tâm thức lãng mạn hậu thời một cách ngoạn mục” (tr.193), một hơi thơ Lưu Mêlan “thổi đến từ miền lạ, vô hình” (tr.212), một Phạm Tường Vân mạnh mẽ cắt đứt các cuộc đã đi để nhập cuộc: “vào dòng chảy của cuộc sống đương đại, với những thời sự nóng hổi nhất của nó” (tr.229), một Phan Quỳnh Trâm “sáng tác trong tâm thế nữ quyền, mà Trâm đã ở trong nó, và qua nó – viết” (tr.237) và một Tiểu Anh “chặt chẽ, rõ ràng” “không quanh quéo cầu kì, không son phấn cho ngôn ngữ, càng không ẩn dụ siêu thực bí bức” (tr.250).

Tác phẩm của 10 cây bút thơ kể trên đa dạng về nơi gửi gắm. Đối với họ, “in chính thống hay phi chính thống, in giấy hay đăng lên mạng, in trong nước hay ở nước ngoài – vô phân biệt” (tr.135). Cái chính họ được là chính họ. Thế giới mà họ hướng đến đã gạt dần diện mạo của một cái tôi “bé mọn”. Họ tha hồ quẫy phá trong thế giới rộng lớn. Mỗi người xuất hiện một tâm thế khác nhau nhưng khá giống nhau ở cách đời thường hóa ngôn từ, hình ảnh thơ. Đó là những ngôn từ “thực”, thực nghiệt ngã. Họ chối bỏ những ngôn từ giả tạo, đẩy cả không khí nhộn nhịp, xô bồ của vỉa hè vào thơ, tạo nên thứ ngôn ngữ cơm bụi. Thế giới phơi bày theo cách họ trải nghiệm. Chiêu Anh Nguyễn, Khương Hà Bùi, Kiều Maily, Phạm Tường Vân, Tiểu Anh là dẫn chứng. Nỗi buồn của khuynh hướng “hướng tâm” là nỗi buồn thuộc về giới, nỗi buồn của khuynh hướng “ly tâm” là nỗi buồn kiệt cùng, “giáp mặt” với nỗi buồn. Nhưng không thể nào nắm bắt được. Nỗi buồn “không địa chỉ” là yếu tố khẳng quyết xu hướng “giải trung tâm”.

Inrasara đã khéo léo nói rõ những đánh giá của mình ngay trong cuốn sách: “Dành lời bình và phân tích dài hay ngắn, tuyển thơ nhiều hay ít bài không nói lên sự lớn/ bé, quan trọng ít/ nhiều của tác giả. Mà ở hứng khởi của người viết khi tiếp xúc với mỗi tác giả - tác phẩm ở thời điểm nhất định” (tr.135). Đây mới chỉ là “hứng khởi” (theo cách nói khá khiêm tốn) của Inrasara, nhưng đọc tập sách, chúng ta biết được nét chuyển động và lối đi của thơ nữ đương đại Việt Nam thời hậu hiện đại mới.

HOÀNG THUỴ ANH
Nguồn: VĂN NGHỆ, 24/2018


LƯ NHẤT VŨ - LÊ GIANG: CÂU HÁT RU NHAU MỘT ĐỜI…

“Ngày nào cũng phải nghe, ổng mở băng cho nghe người già hát, nghe cả tiếng hút thuốc, ngoáy trầu lẫn trong tiếng hát; riết rồi thấm vô người hồi nào không hay” - bà thường nói vui.

Vợ chồng nhạc sĩ Lư Nhất Vũ - nhà thơ Lê Giang

Nhiều năm gặp lại, tôi sững sờ thấy nhà thơ Lê Giang đã gầy đi rất nhiều so với lần trước tôi đến thăm, khi bà còn ở chung cư trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Q.3, TP.HCM). Điều không hề thay đổi là bà vẫn say sưa nói về những bài thơ mới, những bài vừa được chồng bà là nhạc sĩ Lư Nhất Vũ phổ nhạc. Năm tháng qua đi nhưng tình yêu ông bà dành cho nhau, cho nghệ thuật vẫn như những câu hát ru, ngân nga mãi một đời…

Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ có chiếc máy ảnh nhỏ. Khách đến nhà chơi là ông đem máy ra chụp, lưu lại hết những gương mặt thân quen trong giới văn chương, âm nhạc. Nhà thơ Lê Giang gọi đó là lời “cảm ơn bạn đến chơi nhà”. “Ở tuổi này rồi, bè bạn còn nhớ nhau là quý lắm” - bà nói. Quý đến mức bà chỉ muốn khách ở lại lâu hơn, ăn với nhau một bữa cơm hay ngồi nhâm nhi nồi khoai ấm ngày gió lùa.

Chuyện xưa chuyện nay kể nhau nghe không bao giờ cạn. Mà kể nhiều nhất vẫn là những cảm hứng sáng tác, những dự án đang làm. Ngày trước, bà thường hào hứng nói về những chuyến điền dã để sưu tầm ca dao, dân ca ở khắp đất nước. Giờ bà lại say sưa với Bầy trẻ ở chung cư cũ - bản thảo đang biên tập, dự kiến sẽ xuất bản vào tháng 8/2017. 

“Có những đứa trẻ tôi biết chúng từ khi còn ẵm ngửa, mà giờ lại trở thành người biên tập bản thảo của mình. Giật mình nhìn lại mấy mươi năm, bầy trẻ ở chung cư ngày ấy đã thật sự lớn khôn, không nổi tiếng cũng thành đạt, có địa vị. Tôi nghĩ, phải làm một cuốn sách về thế hệ ấy” - bà tâm sự. 

“Bầy trẻ” trong sách của bà có diễn viên Hiền Mai, đạo diễn Lâm Lê Dũng, người mẫu thời trang Kim Sa, những tổng biên tập báo, kỹ sư, tiến sĩ… Chung cư cũ đã thành ký ức không quên của một thế hệ. Còn với người nghệ sĩ, đó là chất liệu quý cho sáng tạo. 

Bà nhìn “bọn trẻ” rồi nhớ lại những năm tháng đời mình. Cuộc đời quý giá và thật kỳ diệu. Có đứa trẻ nào thuở bi bô nói cười lại nghĩ được là khi lớn lên chúng sẽ thành người thế nào, sẽ sống một cuộc đời ra sao? Như bà ngày xưa, ngay cả khi “về chung một nhà” với người nhạc sĩ tài ba cũng đâu nghĩ rồi đời mình sẽ gắn trọn với câu dân ca.

“Ngày nào cũng phải nghe, ổng mở băng cho nghe người già hát, nghe cả tiếng hút thuốc, ngoáy trầu lẫn trong tiếng hát; riết rồi thấm vô người hồi nào không hay” - bà thường nói vui. 

Một người đã 87 tuổi mà vẫn minh mẫn ngồi soạn bản thảo in sách và làm thơ mỗi ngày, có lẽ chỉ có mỗi nhà thơ Lê Giang. Mà bài thơ nào của bà cũng được người bạn đời phổ nhạc. Những câu thơ đơn sơ mà thấm đượm ân tình ông bà dành cho nhau suốt một đời: “Ngọt bùi tri kỷ mặn mà tri âm”, “Ở đâu cũng vậy miễn thương nhau cùng”…Năm tháng dài nhưng chuyện xưa chỉ như mới hôm qua. 

Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ còn nhớ hoài ngày còn ở rừng chứng kiến những cái chết trong chớp mắt, nhớ đám cưới bạn xưa bị dội bom khiến 80 người chết; vẫn ám ảnh bởi cảnh mối rừng ăn xác chết, nhớ những lần thú rừng có dấu hiệu lạ là biết sắp phải đối mặt với B52 của quân thù… Trải bao hiểm nguy ở chiến trường, rồi đến những ngày miệt mài trên hành trình sáng tạo, đến giờ nhạc sĩ Lư Nhất Vũ vẫn cần mẫn với những bài hát mới.

Bên hiên nhà là khu vườn lộng gió ông trồng cây ăn trái, thỉnh thoảng ra đốn quày chuối chín, hái trái đu đủ, trồng rau lang, ngắm mấy quả mít ngày một lớn, rồi thêm giàn tigôn phơn phớt hồng trong nắng.

Ở tuổi mà bao người đã thật sự nghỉ ngơi, vợ chồng nhà thơ - nhạc sĩ Lê Giang và Lư Nhất Vũ vẫn còn tiếp tục cùng nhau đi tiếp một hành trình dài cùng đoàn làm phim tài liệu về nguồn. “Đi chứ, còn sức là còn đi! Khỏe thì viết bài đăng báo để bạn bè biết mình… chưa chết” - nhà thơ Lê Giang đùa.

Đôi bàn tay gầy guộc hằn đầy gân xanh của bà vẫn ngày ngày cầm bút, viết cho đời mà cũng là viết cho mình. Năm xưa bà cùng ông biên soạn các công trình Hát ru Việt Nam, Đi tìm kho báu vô hình, Lý trong dân ca người Việt, những tập tản văn Ngày ấy qua rồi, Nghiêng tai dưới gió, Còn khóc ngon lành, Ừa, chỉ có vậy thôi!...; giờ thì bà vẫn chăm chút cho những vần thơ bùi ngùi vì hiểu mình đang bước dần đến cuối dốc đời:

…“Bè bạn tôi đã lần lượt ra đi
Như những áng mây chiều khuất núi
Những áng mây chiều bồng bềnh le lói
Như cánh chim về tổ ngút ngàn xa
Rằng tôi cứ từ từ thủng thẳng ra đi
Mãi mãi vẫn là khúc quân hành năm tháng…”


…Rời khỏi ngôi nhà yên tĩnh ở cuối đường của ông bà, tôi nhớ mãi cách bà nói với ông: “Ông sửa giùm em tựa bài hát này đi”. Một lời ngọt ngào vậy thôi cũng đủ để hiểu ân tình một đời của ông bà. Tôi lại lan man đến cảnh ông bà nắm tay nhau dạo trên bờ biển Phan Thiết năm nào - khoảng thời gian ông đang làm bản thảo tuyển tập nhạc Bài ca đất phương Nam(xuất bản năm 2014); nhớ cả câu bà nói: “Trong nhà phải vững thì nước mới yên” - một cách riêng của “lạt mềm…”.

Ông bà đã cống hiến cho đời những thành tựu có giá trị vượt thời gian, nhưng điều đẹp đẽ âm thầm mà nhiều người quen biết ông bà ngưỡng mộ, có lẽ còn là sự đồng hành tận tụy bên nhau trọn một kiếp người…

TIỂU QUYÊN
PHỤ NỮ TPHCM 6.2017

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2018

NHỮNG CƠN BÃO KÝ TỰ ẤM TRONG THƠ PHAN HOÀNG

Phan Hoàng là một trong những cây bút tiêu biểu cho phong cách thơ trẻ Sài Gòn hiện nay. Anh đã khởi sự theo đuổi những “cơn bão ngôn từ”, “thế giới ký tự mới” từ rất sớm, bắt đầu là tập thơ Tượng tình (1995) rồi đến Hộp đen báo bão (2002). Dòng cảm hứng sáng tạo trẻ trung ấy vẫn tiếp tục tuôn chảy đến tập thơ Chất vấn thói quen (NXB Hội Nhà văn, 2012).
Nhà thơ Phan Hoàng

Trong tập thơ thứ ba này, Phan Hoàng vẫn tiếp tục khai thác những đề tài quen thuộc trong cuộc sống đời thường. Như hình ảnh Mẹ gánh ước mơ, cách thể hiện mới mà vẫn không thiếu vắng yếu tố tình cảm - ngọn lửa sưởi ấm cho thơ:

Tuổi thơ tôi trên thúng gióng tản cư
mẹ gánh ước mơ chạy qua mùa loạn lạc
tiếng khóc con thơ
                          mạnh hơn
                                       tiếng gầm đại bác

Trong bài Níu lòng sông Đáy, tác giả đã mở rộng không gian và thời gian sinh tồn khi ký họa chân dung của hai người mẹ Bắc - Nam theo chiều dài lịch sử. Giữa cảnh đất rộng trời cao, họ như cánh cò nhỏ nhoi lặn lội nuôi con trong xã hội loạn lạc, đói nghèo:

Sông Đáy trong mơ vẫn dâng ngang trời
mẹ như cánh chim đêm
mãi mãi hoá thân vào châu thổ

Ngày lót lá, bạn níu lòng sông Đáy
tôi bàng hoàng lội ngược gió sông Ba

Thấu hiểu được công lao to lớn của cha mẹ, biết rõ sự thiệt thòi của thế hệ mình, tác giả đã đặt nhiều hy vọng vào tương lai của con. Tuy nhiên, hàng loạt dấu chấm hỏi trong bài Ốc đảo 318 đã thể hiện sự băn khoăn của tác giả: con người tương lai sẽ hội nhập thế nào trong sân chơi toàn cầu nhưng không ai thấu hiểu ai:

Ốc đảo tràn ngập đức tin của con rồi sẽ
xanh hơn? Thế giới toàn cầu hoá của con rồi sẽ
tình người hơn? Và cả vũ trụ đầy bí ẩn của con rồi sẽ
...???

Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng lối vắt dòng với ba cụm từ “của con rồi sẽ” nằm ở cuối dòng. Đặc biệt, ba dấu hỏi nằm ở cuối bài có tác dụng gợi tưởng, tạo dư âm. Trong thơ Phan Hoàng, ta thường gặp hình thức điệp, như việc lặp cấu trúc câu nghi vấn trong bài Em nóng dần lên:

những đàn chim di cư tìm bầu trời mới
hay chờ chết ?
những đàn cá di cư tìm nguồn nước mới
hay chờ chết ?
những đàn thú di cư tìm cánh rừng mới
hay chờ chết ?

Tác giả cũng thường dùng thủ pháp đảo trật từ để tạo ra cách diễn đạt khác thường nhưng người đọc vẫn hiểu được nghĩa. Như đoạn thơ: “Mượt mà mông / mủm mỉm môi / mơ màng mắt / tình tang ngang dọc” (Bình nguyên bay). Hoặc: “Đúng tôi / đớn đau tôi / thăng hoa tôi” (Văn bản dở dang).
Tập thơ Chất vấn thói quen của Phan Hoàng

Thơ hiện đại thường có xu hướng dựng lên một thế giới mới lạ bằng thủ pháp lắp ghép hình ảnh và câu chữ. Lạc vào thơ Phan Hoàng, ta chứng kiến một thế giới vừa quen vừa lạ. Trong bài Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc, mặt trời không mọc lên ở phương Đông mà mọc từ căn nhà “mái tranh vách đất” quen thuộc ở nông thôn:

Trải qua những dòng sông ngập tràn nước mắt
những cánh rừng cháy trọc xương khô
mặt trời vẫn không ngừng mọc lên
trong ngôi nhà tư duy thân thuộc của mình

Ta cũng cùng tác giả đi dạo, lắng nghe những Tiếng cười trên sông Sài Gòn. Nhưng đó không phải là con sông của thành phố hiện đại mà là một con sông thiêng liêng trong tâm tưởng. Tác giả không dẫn ta đi về phía trước mà lùi lại đằng sau để chiêm nghiệm một vẻ đẹp khác thường của dòng sông cùng với tâm sự của cổ nhân:

Như cánh chim lãng du
sà vào lòng sông tắm gội phục sinh tiền kiếp
tôi thấy mình chấp chới bay ngược
về phía tiếng cười không thanh âm nhập nhoà ánh đuốc

Say sưa đuổi bắt tiếng cười
tôi lạc vào cõi lòng trắc ẩn người xưa?

Nhưng phổ biến hơn cả là sự lắp ghép từ ngữ để tạo ra những sắc thái biểu đạt mới: “Đau những chân trời tư tưởng tật nguyền / Câu thơ neo bờ nước mắt” (Tiếng thì thầm). Hoặc “Rẽ nụ cười tươi nắng ban mai / Bay về nguyên thủy ước mơ không mầm móng hận thù tận thế” (Thèm làm ngọn gió tự do). Bên cạnh những bài làm mới hiện thực, còn có một số bài triết lý về Những cơn bão ký tự mới trong thơ hiện đại:

Cơn bão nổi mạnh dần lên
thế giới ký tự mới mở ra
mỗi hơi thở nồng nàn bạt ngàn tín hiệu

Em cứ ngon giấc hồ nghi giữa mùa hoa cúc
cơn bão nối những ký tự nồng nàn cất tiếng thuỷ tinh

Phan Hoàng cho rằng, thơ của mình chỉ là “những văn bản dở dang / những văn bản vô ngôn / văn bản không khuôn thước / văn bản không văn bản” (Văn bản dở dang). Bởi vậy anh rất ngại viết hoa đầu dòng và dùng dấu chấm cuối câu. Thơ anh chỉ là những “con sóng ký hiệu” xộc xệch đang đợi bạn đọc sắp xếp lại theo cách của mình. Tập thơ Chất vấn thói quen có vẻ như bao gồm những bài thơ vô ngôn nhưng thực ra là đa ngôn. Để thấy được điều đó, các bạn hãy chịu khó cùng tác giả bước sang bờ bên kia văn bản.

TS. PHẠM NGỌC HIỀN
Nguồn: Tản Viên Sơn 3.2014


Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

NHÀ THƠ PHẠM THỊ NGỌC LIÊN: VẪN TIN VÀO TÌNH YÊU

Nhà văn Hồ Anh Thái nhận định: "Chị không vô tình hoặc cố tình để lại dấu vết thơ trong văn xuôi như nhiều người đã làm. Văn là văn. Không cần nấp vào bóng thơ ca hoặc một thể loại nào khác. Thao tác vừa nữ tính, trẻ trung vừa am hiểu tâm lý người đọc khiến tác giả có thể cuốn được người ta đi theo"...
Nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên

1.Nhắc đến Phạm Thị Ngọc Liên, hẳn nhiều độc giả sẽ nhớ đến thơ, đặc biệt là thơ tình. Nhưng tôi lại biết đến chị nhờ… truyện ngắn. Hồi ấy tôi mới bập vào văn chương Trương Hiền Lượng với trào lưu "văn học vết thương" qua tiểu thuyết "Cây hợp hoan" và "Một nửa đàn ông là đàn bà".

Rồi bắt gặp tập truyện "Có một nửa mặt trăng trong mặt trời" của Phạm Thị Ngọc Liên, bị hút luôn bởi cái tên "một nửa" kiểu nhà văn họ Trương. Nhưng đọc vào thì vỡ ra một thế giới khác. Thế giới những người nữ với đủ mọi cung bậc xúc cảm: yêu say đắm, si mê, miên man, mơ mộng, rồi dỗi hờn, trách móc, ghen tuông,…Và trên hết là đắm đuối với cuộc đời này. Tập truyện được lấy tên theo tên… bài thơ của chính chị. Bài thơ như lời đề từ, với những câu mở đầu đầy năng lượng: "Đỏ như thế/ nồng nàn như thế/ một ngày mặt trời rụng xuống tim tôi".

Sau cú va quệt đó, tôi "rụng" vào từ - trường - chữ Phạm Thị Ngọc Liên. Tôi lội ngược lại thuở cuối thập niên 1980, đầu những năm 1990, hóa ra chị, ngay từ đầu đã cùng lúc bắt cá hai tay, với cả thơ và truyện ngắn. Như người ta thì, bắt cá hai tay rất dễ mà xôi hỏng bỏng không, thành… trắng tay. Đằng này, chị bắt đâu trúng đấy, thơ ra thơ, truyện ra truyện. Trong cuộc thi thơ và truyện ngắn năm 1989 - 1990 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phạm Thị Ngọc Liên cùng lúc dự thi cả hai thể loại.

Cuối năm 1989, sơ kết nửa chặng đường cuộc thi, truyện "Chuỗi hạt của con cáo" của chị được nhận tặng thưởng. Sang năm 1990, bài thơ "Em sẽ yêu anh như tháng Giêng" đưa chị lên bậc cao nhất, giải A cuộc thi thơ. Có lẽ cú đúp thơ - truyện của Phạm Thị Ngọc Liên là điều hi hữu trong lịch sử hơn 60 năm của tạp chí văn chương uy tín này.

Nhà văn Hồ Anh Thái nhận định: "Chị không vô tình hoặc cố tình để lại dấu vết thơ trong văn xuôi như nhiều người đã làm. Văn là văn. Không cần nấp vào bóng thơ ca hoặc một thể loại nào khác. Thao tác vừa nữ tính, trẻ trung vừa am hiểu tâm lý người đọc khiến tác giả có thể cuốn được người ta đi theo".

Với mạch ấy, từ "Có một nửa mặt trăng trong mặt trời" đến "Người đàn bà bí ẩn", "Đồi hoang",  rồi "Nụ hôn buốt giá" và "Và tháng ngày trôi đi", Phạm Thị Ngọc Liên xác quyết nhất quán giọng văn nữ trữ tình nhưng dữ dội, kiểu "sóng ở đáy sông". Văn xuôi của chị không nệ vào bất cứ điều gì, kể cả cấu trúc hay ràng buộc dung lượng chữ, điều mà các truyện ngắn hay bị gò bó. Các câu chuyện tự trôi. Nhân vật tự trôi. Nhưng lại rất chặt và chắc. Nhờ cái đinh vít, là khả năng dắt mũi tâm lí nhân vật của tác giả.

Nói về điều này, chị cho rằng: "Viết truyện, tôi tỉnh táo và khá khắc nghiệt khi nhìn nhận sự việc. Nếu thơ tôi tràn ngập cảm xúc thì truyện của tôi cũng tràn ngập cảm xúc như thế. Có điều câu chữ rạch ròi hơn. Khuynh hướng viết của tôi, cho đến nay nặng tính phân tích tâm lí. Đã phân tích thì không bay bổng được và tôi cũng không có ý định bay bổng trong lúc viết truyện."

2. Ban đầu, Phạm Thị Ngọc Liên gây chú ý với cha anh đi trước lẫn bạn viết cùng thế hệ bằng chùm thơ 7 bài dự thi và đoạt giải A trên Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh năm 1987 - thời tờ báo này còn "linh thiêng và hào hoa", do nhà thơ Chim Trắng làm Tổng biên tập, các cây viết xếp hàng dài để được lên, bởi lên một lần là cả miền Nam nhớ tên.

"Những câu thơ vươn ra như mạch nước ngầm/ Đánh thức tâm hồn tôi…". Thơ Phạm Thị Ngọc Liên đấy. Và cứ thế, từ giải thưởng thơ của Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh đến giải thưởng thơ trên Văn nghệ Quân đội rồi tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004, song song đó là các tập thơ: "Những vầng trăng chỉ mọc một mình", "Biển đã mất", "Em muốn giang tay giữa trời mà hét" và "Thức đến sáng và mơ" lần lượt ra đời, làng văn dáo dác, không ít người ngơ ngác đặt câu hỏi với nhau và với Phạm Thị Ngọc Liên, đại ý: Sao có người đẹp thế mà còn lao đầu vào thơ văn, lại còn viết hay nữa mới… vô lí chứ. Với các người đẹp, thời gian để phòng bị các thế lực vo ve đã đủ mệt, hoặc phủ phê đủ đầy với tình yêu rồi, ai lại dành thời gian làm thơ bao giờ, lại toàn thơ chất chứa những ẩn tình. Hay thơ ai đó đội lốt tên Phạm Thị Ngọc Liên?

Xin thưa, thơ chính chủ Phạm Thị Ngọc Liên. Chị em phụ nữ không ngần ngại gọi chị là người phát ngôn cho phe nước mắt của mình, bằng thơ. Một giọng phát - ngôn - thơ mạnh mẽ, quyết liệt, không bao giờ có kiểu "quan ngại sâu sắc" nước đôi, nửa chừng.

Đặc biệt, thơ chị không chỉ "đóng cửa bảo nhau" với các chị em. Khá nhiều phái mạnh bị thơ chị đốn tim, khuất phục. Trong số này, không thể không kể đến những nhạc sĩ tài hoa. Hàng loạt nhạc sĩ tên tuổi đã phổ nhạc thơ Phạm Thị Ngọc Liên, từ các ông trùm phổ thơ là Phan Huỳnh Điểu, Hoàng Hiệp, Phú Quang, đến các bậc tài danh khác như Y Vân, Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu, Bảo Phúc. Không dưới 30 bài thơ của chị được những nốt nhạc chắp thêm cánh để bay lên, cao hơn và xa hơn.

Trong đó, không thể không nhắc đến "Im lặng đêm Hà Nội". Những người trẻ chuẩn bị lấy đà để bước vào yêu, hay đang yêu, hoặc đã bầm dập vì yêu, ít ai lại chưa một lần nghe: "Chỉ còn mênh mông gương hồ/ Hiu hắt soi những cây bàng lá đỏ/ Chỉ còn mênh mông gương hồ/ Từng hàng cây góc phố - ngây ngô nhìn nhau/ Chỉ còn hơi ấm mối tình đầu/ Anh đi có đôi lần nhìn lại/ Chỉ còn em, còn em im lặng đến tê người".

Phạm Thị Ngọc Liên bảo: Những bài thơ tình hay nhất được viết ra khi chị đã "đi qua" hạnh phúc lẫn khổ đau, chìm lỉm trong cảm xúc yêu. Dù hạnh phúc hay đau khổ, chỉ sau phút giây chìm lỉm đó, chị mới "hét" lên được. Tiếng hét đó là thơ. Và có một nguyên - tắc - mềm, là nỗi buồn có lớn đến cỡ nào thì những câu thơ viết ra cũng phải đẹp.

3. Có điều ít người biết, Phạm Thị Ngọc Liên bước vào con đường nghệ thuật đầu tiên không phải ở tư thế sáng tác, mà là… tham gia nghệ thuật biểu diễn. Chị mưu sinh bằng việc dạy piano, làm tour guide, từng làm MC, ca sĩ, làm diễn viên kịch nói, đóng phim… Chữ, lúc ấy chỉ là phương tiện để chị nói lên tâm tư tình cảm của mình trong cuộc mưu sinh gắt gao thời bấy giờ. Nói theo kiểu hôm nay, là chị dùng chữ để xả stress.

"Đó là khoảng thời gian tôi thu nhặt kiến thức, thử thách chính mình, cố tìm kiếm cho mình một lối đi đúng nhất. Năm 1991, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, tôi vẫn chưa xác định được liệu mình có theo nghề viết hay không. Cho đến khi được nhà văn Tô Hoài tìm đến bắt tay trong Đại hội Hội Nhà văn năm 1995 và bảo: 'Cô sinh ra để viết đấy. Dù có làm gì cũng không được bỏ nghề viết nhé', thì tôi mới xác quyết rằng nghề viết đúng là nghề của mình". Chị bảo vậy.

Điều ít người biết nữa, là giữa lúc đang cầm chịch cùng lúc 4 tạp chí/đặc san đình đám, gồm: Bazaar, Her World, Cosmopolitan và Esquire của một công ty truyền thông, chị xin nghỉ, nhẹ nhàng như không. "Đến lúc thấy cần phải sống cho mình nhiều hơn, thì nghỉ thôi". Chị bảo thế. Và thế là chị đi. Xuyên Việt. Xuyên lục địa. Với vốn ngoại ngữ có sẵn, chị "rong chơi cuối trời quên lãng" một cách thoải mái, tự tin, không phải kiểu "Du lịch của người câm" như tên một tác phẩm của nhà thơ Lê Minh Quốc.

Cứ nhìn cách Phạm Thị Ngọc Liên trải nghiệm với các chuyến đi, không tin được chỉ gần chục năm nữa là chị chạm ngưỡng thất thập cổ lai hy. Khi cần lịch lãm tinh tế, có tinh tế lịch lãm. Khi cần bụi bặm nếm mật nằm gai, có bụi bặm nằm gai nếm mật. Trên tất cả, là tinh thần hòa vào thiên nhiên, khám phá lịch sử - văn hóa của những vùng đất. Tôi cảm giác chị thuộc về thế hệ trẻ thời đại 4.0 hiện nay, chứ không phải thế hệ 5x của mình. Có khi, thế hệ 8x, 9x xách dép chạy theo chị chưa chắc đã kịp.

4. Trên đường ngược Sài Gòn sau khi đã no nê hoàng đầu ấn và cảnh sắc rừng tràm, chúng tôi lại lạc vào những đầm sen. Sen Đồng Tháp thì vô địch không đối thủ. Và tôi nhận ra Phạm Thị Ngọc Liên yêu sen cũng vô địch không đối thủ. Chị lại hồn nhiên giang tay giữa trời mà hét.

Tất nhiên không hét như thuở đôi mươi nữa. Mà hét lớn hơn, cái lớn lặn vào mắt, vào trong.

Tôi kịp nhận ra, rất tự nhiên, Phạm Thị Ngọc Liên đã sống như chính thơ chị: "Hối hả như chưa từng được thở/ tôi vồ vập cuộc sống một cách tham lam". Chắc chắn không phải ai cũng đủ tự tin và tỉnh táo để chọn cho mình cách "về hưu" như chị. Và, với Phạm Thị Ngọc Liên, nếu không có tình yêu, thế gian này sẽ lạnh lẽo và vô cùng nghiệt ngã. Bởi vậy, câu nói của Tagore vẫn như ngọn hải đăng soi đường chị vượt sóng, từ thời tuổi trẻ đến giờ: "Hãy tin vào tình yêu, dù tình yêu có đem lại khổ đau".

VĂN THÀNH LÊ
Theo VNCA

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

MỘT NÉT BÍ ẨN CỦA THƠ BÍCH KHÊ

Nhà thơ Bích Khê (1916-1946), tên thật là Lê Quang Lương, sinh trưởng từ xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, trong một gia đình Nho học có truyền thống đấu tranh cách mạng. Bích Khê đã có thơ đăng ở báo Tiếng dân từ những năm 1931-1932. Cho đến cuối năm 1936, nhiều sáng tác theo lối thơ Đường luật của ông đều đặn xuất hiện trên các tờ báo lớn. Từ năm 1936, Bích Khê bắt đầu sáng tác thơ tự do và nhanh chóng trở thành một trong những nhà thơ cách tân hàng đầu trong phong trào Thơ mới (1932-1945) với tập thơ “Tinh huyết” (1939). Ông qua đời sớm do bệnh lao năm 1946.
Nhà thơ Bích Khê

Trong Trường thơ loạn, không riêng gì Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử  mà cả Bích Khê đều bí ẩn. Chế Lan Viên như ngọn “Tháp Chàm lẻ loi và bí mật”, Hàn Mạc Tử thầm lặng như thủy triều theo những mùa trăng, còn Bích Khê thì tràn lên như màu hoàng hoa của những điệu nhạc cổ. Có phải người ta gọi “trường thơ loạn” là vì họ nghĩ và viết khác thường, không như những thi sỹ bình thường khác? Có phải vì vậy mà người đương thời thường khi khó mà hiểu tường tận những gì họ nói? Ví như thơ Bích Khê. Một người tinh tường như Hoài Thanh “ đã đọc không biết mấy chục lần… thấy trong đó những câu thơ đẹp. Nhưng không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa…”.*

Có thể có nhiều những điều bí ẩn trong thơ Bích Khê. Chẳng hạn vì sao chỉ trong ba tháng Bích Khê đã làm được một công việc “thần dị” như vậy; Hoặc vì sao Bích Khê tìm đến “thơ lõa thể” như một mê đắm “tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc”(Duy tân) như vậy, vv 

Nhưng trong khuôn khổ một bài phát biểu nhỏ, xin thử đi tìm một nét của cái “hình như vẫn còn gì nữa” mà Hoài Thanh từ Novembre 1941 đã viết những dòng đầy phân vân kia.

Chúng ta đều biết Bích Khê mê thơ Đường, sáng tác hàng trăm bài thơ Đường luật từ lúc mới mười bốn, mười lăm tuổi. Rồi từ Đường luật, Bích Khê tiếp xúc với thơ Hàn Mạc Tử, với thơ phương Tây, đặc biệt mê đắm thơ tượng trưng của Charles Baudelaire (Baudelaire người là vua thi sỹ - Ăn mày). Từ nửa cuối phong trào thơ mới, sau lời khích của Hàn Mạc Tử, Bích Khê đột nhiên chuyển sang kiểu thơ tượng trưng, với tâm nguyện “trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sỹ phi thường, bằng không sẽ không bao giờ làm thơ nữa”. Thế rồi, năm 1939, khi tập Tinh huyết ra đời, là “một đóa hoa thần dị” như Hàn Mạc Tử đã viết trong lời chứng.

Điều làm nên “thần dị” này là sự kết tinh, gặp gỡ giữa hai lối tư duy thơ, thơ Đường và thơ tượng trưng của phương Tây trong ngòi bút Bích Khê. Sự kết tinh đó thể hiện trên nhiều phương diện, hòa trộn trong câu thơ từ nhạc điệu, hình ảnh, màu sắc, hương vị…làm cho thơ Bích Khê mang một vẻ đẹp dị thường, “hay vào loại bậc nhất trong thơ Việt Nam”. Chẳng hạn:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông
(Tỳ bà)

Trong câu thơ trên có thể nhận ra dấu vết thơ Đường khá rõ. Ngôn từ phảng phất sắc thái “buồn vương” dịu nhẹ đến “cây ngô đồng” hiện hữu trong thơ Đường như một biểu tượng (Ngô đồng nhất diệp lạc/ Thiên hạ cộng tri thu). Nhưng cũng trong câu thơ trên có thể nhận ra dấu vết của thơ tượng trưng phương Tây hòa trộn trong màu sắc và nhạc điệu: màu vàng như một “biểu tượng” đặc trưng trong mênh mông buổi tàn thu. (Charles Baudelaire trong bài mang tính tuyên ngôn Correpondances cũng có sự hòa trộn rất đặc trưng này: Les parfums, les couleurs et les sons de respondent ). Một lối tư duy thơ rất khác lạ so với tư duy lãng mạn đương thời, lại khác xa với tư duy thơ hiện thực, có phần bí ẩn, với sự hòa tan trong lớp vỏ ngôn từ những vô thức, trực giác, ám thị…và không còn ráo riết với nghĩa, bớt đi rất nhiều sự rõ ràng, vươn tới cái mà ông cha ta vẫn nói: “ý tại ngôn ngoại”. Cái ý ở ngoài lời này chính là một đòi hỏi rất cao đối với thơ, cũng là cái để thơ kích thích suy nghĩ tiếp của người đọc, cũng chính là cái mỗi người đọc, tùy theo quan niệm thẫm mỹ của mình, tùy theo kinh nghiệm sống của mình, tùy theo tâm trạng của mình lĩnh hội theo cách của mỗi người. Tôi đồ rằng, đó chính là cái mà Hoài Thanh muốn nói: “hình như vẫn còn gì nữa…” trong những câu thơ của Bích Khê.

Rất nhiều trong thơ Bích Khê những câu thơ gần như mờ nghĩa, phi lý tính, hay nói cách khác, không thể đưa lý trí ra để giải thích cho rõ ràng, để tìm ra cái nghĩa hiểu theo một cách thực dụng. Bởi vì Bích Khê không chủ trương miêu tả, không chủ trương mạch lạc, không chủ trương hiện thực… mà chủ trương gây ấn tượng. Mỗi câu thơ hướng đến một ấn tượng. Cũng như chủ nghĩa tượng trưng không chủ trương hiện thực, mà chủ trương đi sâu vào cõi tâm hồn, vào cõi linh cảm, vào cõi vô thức… rồi từ đó đi tới cái đẹp:

Vàng phai nằm im ôm non gầy
Chim yên neo mình nương xương cây
Đây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa
Đông nam mây đùn nơi thành xa

(Hoàng hoa)

Chẳng thể nào hình dung ra cho trọn vẹn đó là “bức tranh” gì (Bích Khê vượt ra ngoài khuôn phép của hiện thực). Nhưng lại cảm nhận được một cách rõ rệt trong cảm thức của mỗi người như là một sự thực thể của hiện thực xa xôi nào đó, hình thành bởi rất nhiều liên tưởng mà ngôn từ gợi ra. Chỉ cảm nhận được mà không gọi tên được, chỉ hình dung được mà không vẽ ra được. Không hẳn là hiện thực, nhưng có vẻ như biêng biêng với hiện thực. Đó chính là siêu thực, một nấc thang của hiện thực, vượt lên trên hiện thực. Chẳng hạn như khi Nguyễn Du viết: Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương, thì hiện thực đã không còn “nguyên vẹn” nữa. Ở đây mọi ngôn từ đều hiện thực, từ các danh từ: ngọn đèn, tiếng chày, nguyệt, sương đều hiện thực, nhưng đã có một thực tại “ngoài thực tại”, hình thành bởi sự “quái đản” tương tác giữa các động từ “khêu” và danh từ “nguyệt” (khêu nguyệt), “nện” và “ trăng” (nện trăng) tạo ra. Ở trường hợp Bích Khê, nhà thơ như đã khoác lên hiện thực chiếc áo màu hoàng hoa và những gì chúng ta hình dung được là như một ý niệm về cái đẹp. Nói như  Hàn Mạc Tử: “Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì thực tế ấy thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu…”**.

Nếu như ở thơ Đường nói chung, các nhà thơ thường rất ít khi nói hết ý mình, chỉ gợi mở, chỉ dựng lên những tương quan giữa các chất liệu thơ, rồi để người đọc “tự luận”, tự tìm ra ý nghĩa…, thì Thơ Bích Khê cũng vậy. Bích Khê không chú tâm đến cái nhìn thấy, mà chú tâm khêu gợi. Hơn thế nữa, Bích Khê hòa trộn tất cả những: hương, hoa, nhạc, màu…vào một cảm thức đặc biệt để từ đó làm câu thơ bật sáng một cách dị thường, làm bất ngờ những ai đọc tới. Thoạt tiên người ta bất ngờ, người ta chưa thể hiểu ngay mà bị nhạc điệu dẫn đi, rồi người ta cảm nhận được, khi đã xuất hiện trong liên tưởng của họ những sợi tơ mỏng manh nối với một thực tại nào đó. Nhưng là sự cảm nhận khó gọi tên, lại càng khó giải thích cho ra ngọn ngành. Đấy là cách làm quen thuộc của các nhà thơ “trường thơ loạn”. Chế Lan Viên viết: Hàn Mạc Tử nói làm thơ tức là điên. Tôi thêm: làm thơ là làm sự phi thường. Thi sỹ không phải là người. Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xáo trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý *** .

Chẳng hạn:

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Tay đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Dây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
(Tỳ bà)

Quả thực trong đoạn thơ trên và rất nhiều đoạn thơ khác của Bích Khê cảm giác như vẫn chưa thấy hết những gì nhà thơ muốn nói, như Hoài Thanh thú nhận là có thật.

Bích Khê nghiêng về phía hình thức, về phía “vị nghệ thuật”. Ngay từ bài thơ mang tính “tuyên ngôn”, Bích Khê đã nói rõ quan niệm của mình: Hỡi lời ca man dại/ Điệu nhạc thở hơi rừng/ Đêm nay xuân đã lại/ Thuần túy và tượng trưng (Xuân tượng trưng). Lời ca man dại, thuần túy… cho ta thấy với Bích Khê thơ là “vương quốc” của cái đẹp. Hẳn không phải ngẫu nhiên mà Bích Khê đặt cho tác phẩm của mình là Tinh huyết và Tinh hoa.

Bích Khê rất chú ý đến hình thức:

Từ nhạc điệu, hình ảnh, màu sắc đều toát lên vẻ đẹp đặc thần dị mang “thương hiệu Bích Khê”. Bích Khê có rất nhiều bài thơ “độc thanh”, đọc lên nghe như một bản giao hưởng chơi vơi, mênh mang. Nếu là mùa thu thì đó là vàng rơi, vàng rơi: thu mênh mông, nếu là mây thì đó là mây nhung pha màu thu, nếu là sương thì đó là sương lam phơi màu thu, nếu là đàn thì đó là cây đàn yêu đương làm bằng thơ…

Từ cách ngắt dòng, vắt dòng khá “gắt”, làm gián đoạn, làm “tán loạn” trong tiếp nhận của người đọc:

Buồn, và xanh trời. (tôi trôi tới bờ
Êm biếc - khóc với thu: lời úa ngô
Vàng…khi cách biệt - giữa hồn xây mộ -
Tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ
im lặng nhìn bông ý, lặng lờ lên
những dáng hình thanh khí…) Giữa mông mênh
(Duy tân)

Đoạn thơ trên trích từ bài Duy tân, hẳn mang chủ định đổi mới rõ rệt của Bích Khê. Đây là một kiểu tư duy thơ từng có trong thơ phương Tây. Kiểu tư duy này không còn chú ý đến trật tự ngôn ngữ và ngữ pháp thông thường, ngược lại, cố ý đảo lộn, xáo trộn ngữ nghĩa, gây “vấp” trong cảm nhận, đặng làm tăng sự chú ý của người đọc, cái mà Chế Lan Viên nói là: nó xáo trộn Dĩ vãng, và không chỉ là dĩ vãng.
Bích Khê sử dụng nhiều thể thơ. Có thể thơ thuần túy dân tộc như lục bát, song thất lục bát, có thể thơ cổ phong, thơ luật Đường, thơ tự do…Nhiều câu thơ của Bích Khê “in dấu” của lối diễn đạt hiện đại, không hề bị cũ so với thơ hiện thời.

Chẳng hạn, lối diễn đạt nhiều lớp: Bóng yên hoa, màu khiêu vũ, mây phú quý, bả phù vân ( Đêm khuya nghe chuông ); lối diễn đạt “tích hợp” nhiều cảm giác: Tôi muốn nghe đôi mắt/ Chứa cả một hồ thu ( Thu); lối diễn đạt dung dị, như một tâm sự: Thưa chị đêm nay dường nhớ quá/ Đưa thư hồng nhạn biết mang không/ Một nhành mai trắng rung rinh ngọc/ Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông ( Gửi Liên Tâm ); lối diễn đạt mang nặng cảm thức nội tâm: Đêm nay ta nhặt hoa trăng rụng/ Những cánh đau thương sắp mặt lầu ( Nhặt hoa ), Rồi những mùa thu vô hạn thương/ Trở về dưới biếc chập chờn hương/ Mùa thu ám ảnh nhà thi sỹ/ Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương ( Nấm mộ ), Là lúc đêm về trên mái ngói/ Những nhành nhãn muộn cánh dơi bay (Làng em )…

Nhưng vì quá chú trọng hình thức, cái đẹp của câu thơ có đôi lúc làm nhẹ đi cái day dứt với cuộc đời. Chế Lan Viên nói: nó thoát Hiện tại là vì vậy. Bích Khê không đau đời bằng Hàn Mạc Tử. Thơ Hàn Mạc Tử cất lên từ đau thương, biến đau của một người thành đau của nhiều người. Bích Khê quên cái đau của mình để đến xứ sở của cái đẹp. Bởi vậy, thơ Bích Khê có những bài, những câu đẹp lộng lẫy. Đi vào thế giới thơ Bích Khê là bước vào ngôi đền thiêng của thi ca, nhưng càng đi càng thấy tiếng vọng của cuộc đời đã ở xa lắm. Hiển nhiên không ai đi tìm bóng dáng cuộc đời trong thơ ca lãng mạn, nhưng sao đọc Huy Cận, Xuân Diệu, rồi Chế Lan Viên, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính ngày trước, vẫn thấy điều gì đó ngay cạnh ta, trong lòng ta. Còn Bích Khê, ông dẫn ta đi vào chốn thiên thai đầy những vạt hoa vàng quên lãng nào đó, thì phải.

Dẫu vậy, thơ Bích Khê thật đẹp và lạ, thật quý và hiếm trong lịch sử thơ ca Việt Nam.

LÊ THÀNH NGHỊ
Nguồn: Văn Nghệ

____________________________

* Hoài Thanh và Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, H. 1989, tr. 232
** Hàn Mạc Tử: Tựa Tinh huyết, 1939.
*** Chế Lan Viên: Tựa Điêu tàn. Xem Chế Lan Viên, Toàn tập, 5 tập, tập 1, NXB.Văn học, H. 2002, tr.23.


Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

BÁC SĨ - NHÀ VĂN TRẦN HỮU NGHIỆP: THỜI GIAN TRONG MẮT...

Đọc những bài viết của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp trong năm tháng cuối đời, khi ông đã bị tàn phế, hơn mười năm không còn đi lại được, tôi xúc động trước tấm lòng yêu thương con người và cuộc sống của ông trải dài theo từng trang viết…
Bác sĩ - nhà văn Trần Hữu Nghiệp

Tôi biết tên ông từ rất lâu, không chỉ vì ông là một “Bác sĩ, Nhà giáo nhân dân, cây đại thụ của ngành y” như lời đánh giá của Tiến sĩ Nguyễn Duy Cương, nguyên thứ trưởng Bộ Y tế, mà còn vì ông là một nhà báo - một nhà báo đúng nghĩa, viết báo từ trước năm 1945 và đã có hàng chục bài báo về nhiều lĩnh vực mà người đọc có thể tìm thấy trong đó những kiến thức uyên bác của một trí thức lớn, thông tuệ cổ kim, đông tây. Một số bài báo của ông đã được tập hợp và in trong cuốn hồi ký Thời gian trong mắt tôi, xuất bản năm ông đã 82 tuổi. Đọc cuốn sách và nhìn vào đôi mắt của ông qua từng bài viết, tôi càng cảm phục ông và những người mà ông đã lưu giữ hình ảnh tốt đẹp của họ trong đôi mắt “đi suốt thời gian” của cuộc đời mình. Ông là bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, nguyên phó giám đốc Sở Y tế Nam Bộ, tổng thanh tra Quân Dân y toàn quốc, hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cán bộ y tế trung ương.

Một văn bản quyết định đề bạt có một không hai

Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp sinh năm 1911 tại xã Tân Thuỷ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, cùng quê với cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Như lời ông bộc bạch, cha ông là một “nông dân chính cống”, còn mẹ ông là một phụ nữ tần tảo, “thường xuyên nuôi tằm ươm tơ”, cùng chồng thu vén cho gia đình khá giả để gửi con trai lên thị trấn Ba Tri theo học. Học giỏi, Trần Hữu Nghiệp lần lượt vượt qua các bậc từ tiểu học đến tú tài và năm 1931 thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội. Năm 1937, tốt nghiệp đại học, ông được sang Paris tu nghiệp. Về nước, ông mở phòng khám, có cả một bệnh viện tư ở Mỹ Tho, thành một bác sĩ nổi tiếng không chỉ vì chữa bệnh giỏi mà còn vì rất giàu có lúc bấy giờ.

Những năm tháng tuổi thơ gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn nghèo khó đã dần dần hình thành trong lòng cậu bé Trần Hữu Nghiệp tình yêu quê hương, đất nước, để rồi sau này, khi đã giàu có, “bạc tiền ra vào như nước”, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp sẵn sàng từ bỏ tất cả, đi theo cách mạng, ra bưng biền tham gia kháng chiến chống Pháp. Nặng lòng với quê hương đến mức, mấy chục năm sau, trong một lần qua Ba Lan, vào thăm Vườn thú ở thủ đô Varsava, nhìn thấy hai con trâu và một con nghé đang nhai cỏ, mùi phân nồng toả ra làm cho nhiều khách tham quan phải lấy khăn bịt mũi, thì trái lại bác sĩ Trần Hữu Nghiệp lại “hít hà mùi thân thuộc”, cái mùi mà “đêm nằm ngủ trên rương xe, từ khói lam của đống hun lọt vào nhà theo khe cửa, ngửi được mùi thoang thoảng rất đặc biệt của phân trâu suốt mấy năm tuổi ấu thơ”, khiến ông càng thêm nhớ quê hương, “mong sớm được trở về Nam Bộ cùng bà con chống Ngô Đình Diệm!”.

Cách mạng Tháng 8.1945 bùng nổ, cũng như nhiều tri thức tên tuổi khác, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp hồ hởi tham gia cách mạng, trở thành uỷ viên tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh tỉnh Mỹ Tho. Ngày 23.9.1945, giặc Pháp quay trở lại đánh chiếm Mỹ Tho, ông bí mật rời gia đình ra bưng biền tham gia kháng chiến. Trên đường đi, ông gặp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một người bạn cũ, nay là bộ trưởng y tế trong chính phủ đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới từ Sài Gòn ra. Trước khi chia tay, bộ trưởng tiễn bác sĩ Trần Hữu Nghiệp một quãng đường khá xa, dặn dò nhiều chuyện, rồi quyết định cử bác sĩ làm phó giám đốc Sở Y tế Nam Bộ. Không có máy đánh chữ và cũng không có con dấu, văn bản quyết định chỉ là một tấm danh thiếp, mặt sau giới thiệu bác sĩ Trần Hữu Nghiệp với chức vụ mới, đề ngày tháng và ký tên dưới chữ Bộ trưởng Y tế Chính phủ lâm thời; còn mặt trước là mấy chữ in nổi: “Docteur Pham Ngoc Thach - chuyên trị bệnh phổi và lao. Phòng khám đường Chasseloup Laubat, số…”. Đây là một “văn bản đề bạt cán bộ” có một không hai mà bác sĩ Trần Hữu Nghiệp nhớ mãi như là một kỷ niệm khó quên!

Cái đài thu của bộ trưởng và cái cối xay tiêu của Bác Tôn

Trong cuốn hồi ký Thời gian trong mắt tôi, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp lưu giữ trong đôi mắt của mình hình ảnh sâu đậm nhất về hai người, đó là về bác sĩ, Bộ trưởng Y tế Phạm Ngọc Thạch và về Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. Năm 1988, vào dịp kỷ niệm 20 năm ngày bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hy sinh, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp viết bài báo Tưởng nhớ người thầy thuốc lớn Phạm Ngọc Thạch, bùi ngùi nhớ đến vị bộ trưởng y tế đầu tiên trong chính phủ ta, người viện trưởng đầu tiên của Viện Chống lao trung ương, một người bạn gần gũi, một người thủ trưởng quý mến.
  
Năm 1962, đoàn cán bộ ý tế đầu tiên từ miền Bắc được cử vào chiến trường, trước khi rời Làng Ho, thuộc tỉnh Quảng Bình để vào Nam, anh chị em trong đoàn vô cùng cảm động khi thấy “anh Tư Đá” (bác sĩ, Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch), tự lái xe ô tô vượt quãng đường gần 500 cây số từ Hà Nội vào tiễn anh chị em. Đi được một đoạn, mọi người vẫn thấy bộ trưởng đứng nhìn theo. Hình ảnh đó in đậm trong ký ức của các cán bộ y tế khi vào chiến trường miền Nam, đến mức mọi người bảo nhau: “Ai không chịu được gian khổ, muốn thành lính B quay (quay lại miền Bắc) thì nên nhớ sau lưng mình có anh Tư Đá đang nhìn mình mà khóc!”…

Sau Tết Mậu Thân 1968, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch có mặt tại chiến truờng miền Nam và chỉ hai tháng sau bác sĩ đã hy sinh ở tuổi 59 trong một túp lều tranh, giữa khu rừng già gần Xóm Giữa, Lò Gò, Tây Ninh. Đêm 8.11.1968, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp cùng một số anh chị em đau đớn cầm “đèn pin soi đường, khiêng linh cữu bác sĩ Phạm Ngọc Thạch mai táng trên tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, dưới cơn mưa lâm râm của đêm tháng Mười âm lịch”. Sau này, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp còn xúc động hơn khi được Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Đức Thắng cho biết, sau khi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hy sinh, kiểm kê tài sản của gia đình bác sĩ ở Hà Nội, thì: “Ngoài cái đài thu thanh của Bộ cho mượn để nghe tin tức, không còn tài sản nào đáng giá một trăm đồng!”.

Năm 1965, sau khi từ miền Nam tập kết ra Bắc, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp được nhận một nhiệm vụ đặc biệt: làm thầy thuốc riêng cho Bác Tôn và được tháp tùng Bác trong chuyến sang thăm Trung Quốc, Cộng hoà Dân chủ Đức và sang Liên Xô nhận Giải thưởng Lênin Vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc.

Cuối tháng 9.1945, Chủ tịch tỉnh Mỹ Tho Nguyễn Văn Tiếp dẫn một người đến gặp bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, giới thiệu là “một người bạn chí thân”, nhờ bác sĩ cho ở lại ít ngày và “có bệnh gì thì chữa luôn giùm”. Người đó là anh Hai Thắng, tức Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng sau này.

Thời gian đó Bác Tôn mới được cách mạng đón từ nhà tù Côn Đảo về. Không ngờ mười năm sau, Bác Tôn còn nhớ tới người thầy thuốc năm xưa!

Ngày còn mở phòng khám bệnh tư ở Mỹ Tho, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã được biết suốt những năm Bác Tôn bị tù, bác gái ở nhà tần tảo chạy chợ, hàng ngày mua trái cây và gà, vịt từ quên chở lên Sài Gòn hoặc Mỹ Tho bán lấy tiền nuôi con. Hôm Bác Tôn về Vinh Kim thăm nhà sau hơn 16 năm bị tù ở Côn Đảo, khi đến nhà thì cũng vừa lúc chập choạng tối. Bác gái đang đi mua gà ở xóm trên, nghe tin bươn bả chạy về, mấy con gà mua vừa trả tiền xong đang cầm trên tay chạy mất! Về nhà, thấy chồng đang ngồi trên bộ ván đầu nhà, khách đến thăm khá đông, Bác gái nghẹn ngào nhìn chồng sau hơn 16 năm xa cách, không nói được lời nào, chỉ đứng ôm cột nhà mà khóc!...

Trở về từ chuyến “Làm thầy thuốc riêng cho Bác Tôn” đi thăm ba nước nói trên, một trong những ấn tượng sâu sắc nhất để lại trong lòng bác sĩ Trần Hữu Nghiệp là tình cảm yêu thương sâu sắc của Bác Tôn đối với bác gái thể hiện qua món quà có ý nghĩa nhất mà Bác Tôn mua tặng bác gái trong chuyến đi này.

Giải thưởng Hoà bình Lênin mà Liên Xô trao tặng Bác Tôn có số tiền 100.000 rúp. Ngoài số tiền đó, các bạn Liên Xô còn tặng Bác 10.000 rúp để mua quà về tặng gia đình và bầu bạn. Trước ngày rời Liên Xô, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp nhắc Bác Tôn mua quà về cho gia đình. Bác suy nghĩ một hồi rồi nói với ông:

- Tánh tôi ưa thích nhất là món cá kho tộ, bỏ nhiều tiêu. Chiều nào bà nhà tôi cũng mang tiêu hột ra đâm trong chén đá, văng tùm lum ra ngoài. Bà lại kém mắt rồi, nên cứ mò mò tìm từng hột bỏ vô lại. Vậy anh tìm mua giùm tôi một cái cối xay tiêu đem về tặng bà. Chắc bà mừng lắm.

Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã tìm mua được một chiếc cối xay tiêu đẹp, làm bằng gỗ, hết 7 rúp, còn 9.993 rúp đem về trao lại cho Bác Tôn. Số tiền còn lại đó, Bác Tôn nhờ trao lại cho các bạn Liên Xô và số tiền 100.000 rúp của Giải thưởng Hoà bình Lênin khi về nước Bác Tôn đã trao cho ông Trần Duy Hưng, chủ tịch Uỷ ban Hành chính Hà Nội, dùng để xây nhà trẻ ở thủ đô.

Ý nguyện còn lại

Tôi viết những dòng này về bác sĩ Trần Hữu Nghiệp khi ông đã đi xa được gần hai năm, tôi không còn có dịp để được hầu chuyện ông.

Sau hàng chục năm công tác, giữ nhiều trọng trách khác nhau, năm 1979, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp được nghỉ hưu. Về hưu giữa những năm tháng đất nước đang ở vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, xã hội, chồng chất khó khăn, gia đình bác sĩ cũng như nhiều gia đình khác phải vật lộn với nỗi lo cơm áo thường ngày. Cả hai vợ chồng ông đều là bác sĩ, riêng ông là bác sĩ giỏi, tác giả của nhiều cuốn sách y học được nhiều người biết đến, như Phép nuôi con(1943), Chữa bệnh cho con khi xa thầy thuốc (1962), Chủ động bảo vệ hạnh phúc gia đình (1978), Nói chuyện với người uống rượu (1981), Nói chuyện với người hút thuốc (1983)…, và được nhiều học trò đánh giá là “thầy của các bậc thầy giỏi”. Nhưng đồng lương của cả hai vợ chồng không đủ chu cấp cho một gia đình đông người, ông đã phải nuôi heo để có thêm thu nhập. Trong một lần chở thức ăn cho heo trên một chiếc xe đạp cọc cạch, ông đã bị một chiếc xe xích lô tông, bị gãy chân và tàn phế suốt quãng đời còn lại.

Đọc những bài viết của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp trong năm tháng cuối đời, khi ông đã bị tàn phế, hơn mười năm không còn đi lại được, tôi xúc động trước tấm lòng yêu thương con người và cuộc sống của ông trải dài theo từng trang viết. Tấm lòng nhân hậu ấy theo ông tới tận giờ phút lâm chung, hồi 15h55’ ngày 23.12.2006 tại TP Hồ Chí Minh. Theo di nguyện của Nhà giáo nhân dân, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, toàn bộ số tiền phúng điếu trong lễ tang ông đã được vợ ông là bác sĩ Nguyễn Thị Lê và các con lập thành một quỹ học bổng giúp đỡ sinh viên y khoa nghèo vượt khó. Năm học vừa qua, 3 sinh viên của Trường đại học Y khoa TP Hồ Chí Minh, nơi bác sĩ Trần Hữu Nghiệp có nhiều gắn bó và là nơi cô con gái thứ hai của ông - bác sĩ Trần Kiều Miên từng giảng dạy, đã được nhận học bổng từ quỹ này, mỗi em 5 triệu đồng.

Năm 2007, bác sĩ Nguyễn Thị Lê, người bạn đời gắn bó gần 60 năm của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp trải qua một cuộc mổ tim. Tuy sức khoẻ yếu, nhưng bác sĩ Nguyễn Thị Lê vẫn đang cùng gia đình ba người con gái Trần Kiều Dung, Trần Kiều Miên và Trần Kiều Lan lo phát triển quỹ học bổng cho học sinh nghèo như di nguyện của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp để lại. Quỹ học bổng đó nay đã có trên 100 triệu đồng, trong năm 2008 tiếp tục được trao cho các sinh viên nghèo và cán bộ y tế ở vùng xa, vùng sâu gặp nhiều khó khăn. Tấm lòng nhân hậu của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp và gia đình ông thật đáng trân trọng biết bao!

4.2008
DƯƠNG ĐỨC QUẢNG
Nguồn: ANTG

NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU