Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN TRẦN KIM TRẮC - ĐẠI THỤ CỦA VĂN CHƯƠNG NAM BỘ QUA ĐỜI

Theo thông tin từ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, nhà văn Trần Kim Trắc đã qua đời vào ngày 17-11-2018 tại nhà riêng trên đường Cống Lở, phường 15, quận Tân Bình. Tuy nhiên, vì lý do riêng nên gia đình không phát tang; vậy nên công chúng mới được thông báo cách đây hai ngày.
Nhà văn Trần Kim Trắc

Khi hay tin nhà văn Trần Kim Trắc, một trong những đại thụ của văn chương Nam bộ đã qua đời, hầu hết những người yêu mến ông đều không tránh khỏi cảm giác bất ngờ. Nhà văn Trần Kim Trắc sinh năm 1929 tại Chợ Gạo, Tiền Giang. Ngoài tên thật, ông còn sử dụng bút danh NT và Trần Kim dưới những tác phẩm của mình. Sự nghiệp văn chương của nhà văn Trần Kim Trắc được bắt đầu từ lúc ông 25 tuổi với truyện ngắn đầu tay được đăng báo là truyện Cái lu, đạt giải nhì giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam ngay sau đó.

Dù đến với văn chương khá muộn nhưng nhà văn Trần Kim Trắc có một quá trình lao động văn chương chăm chỉ và đều tay. Ông có nhiều tác phẩm đã xuất bản như: Cái lu(truyện ngắn, 1954), Cái bót (truyện ngắn in chung, 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung, 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn, 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết, 1996), Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn, 1997), Học trò già (truyện ngắn, 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn, 1998),  Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn, 1999)…

Nhà văn Trần Kim Trắc từng đạt các giải thưởng như: giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1954 với truyện ngắn Cái lu, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 với tập truyện ngắn Ông Thiềm Thừ.
Nhà văn Trần Kim Trắc bên người vợ của mình

Đặc biệt, vào năm 2012, lúc đó đã bước sang tuổi 83 nhưng nhà văn Trần Kim Trắc vẫn cho thấy sức lao động bền bỉ và dẻo dai bằng việc tham dự cuộc thi viết truyện ngắn chủ đề “Con người và cuộc sống hôm nay” do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức. Truyện ngắn Sài Gòn đắc địa của ông đã đạt đồng giải nhì (không có giải nhất) cùng với nhà văn Trương Anh Quốc.

Vào tháng 11-2015, với những giá trị quan trọng mà văn chương Trần Kim Trắc mang lại, NXB Trẻ đã ký hợp đồng mua bản quyền trọn đời tác phẩm của ông. Theo đó, bắt đầu từ tháng 11-2015, đơn vị này độc quyền sử dụng 19 tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc với khoản phí trả trước là 100 triệu đồng cùng số tiền nhuận bút trên mỗi tác phẩm được xuất bản, không tính phần trả trước. Ngoài ra, trong hợp đồng có điều khoản: sau khi nhà văn qua đời, gia đình ông tiếp tục hưởng nhuận bút các tác phẩm của ông do NXB Trẻ ấn hành.

Ông Nguyễn Minh Nhựt, Giám đốc NXB Trẻ chia sẻ về lý do mua bản quyền trọn đời tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc: “Nhà văn Trần Kim Trắc là một trong những nhà văn lớn, viết rất nhiều tác phẩm trong đó có nhiều tác phẩm viết về Nam Bộ cũng như viết về giới trẻ. Về mặt văn tài, ông là nhà văn lớn nhưng thái độ, lối sống của ông rất khiêm tốn, là bài học lớn đối với người làm nghề. Xuất phát từ những vấn đề đó, NXB Trẻ có một nguyện vọng đề đạt xin mua tác quyền trọn đời bộ tác phẩm của ông. May mắn thay NXB Trẻ được ông đồng ý giao quyền”.

Trước sự ra đi của nhà văn Trần Kim Trắc, ông Nguyễn Minh Nhựt không giấu được xúc động: “Tôi và các cán bộ, nhân viên của NXB Trẻ đều rất buồn khi những đại thụ đã từng gắn bó với NXB Trẻ lần lượt đã ra đi như nhà văn Sơn Nam, nhà văn Trang Thế Hy rồi lần này là nhà văn Trần Kim Trắc. Phía NXB không biết nói gì hơn ngoài sự chia buồn gửi đến gia đình nhà văn. Chúng tôi sẽ cố gắng chăm chút, xuất bản để những tác phẩm của ông sẽ còn ở lại với nhân gian, phục vụ độc giả”.

HỒ SƠN
Nguồn: SGGP

XIN ĐỌC THÊM:



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

NHÀ THƠ THANH THẢO VỚI “LOÀI THƠ QUÝ HIẾM”CÓ TÊN TRƯỜNG CA

Có lẽ khó mà có tác giả trường ca đương đại nào sánh được với nhà thơ Thanh Thảo về mặt bề dày sáng tác cũng như chất lượng của trường ca - một thể loại được coi là “loài thơ quý hiếm” cần đưa vào sách - đỏ - văn - chương. Cứ dăm năm miệt mài trong lặng lẽ, thể nào Thanh Thảo cũng lại có thêm một trường ca mới.
Nhà thơ Thanh Thảo

Trên con đường tìm kiếm cái mới, nhà thơ Thanh Thảo không bao giờ là người ngoài cuộc. Trong khi anh đang trăn trở thể nghiệm thì không ít người chỉ muốn anh quay trở lại với những giá trị đã làm nên tên tuổi của anh thời chiến tranh. Nhưng Thanh Thảo không chịu ngủ quên trên thành tựu của những giá trị cũ.

Bằng tài năng thơ và một nỗ lực không chịu bất lực của mình, mấy chục năm qua, Thanh Thảo vỡ vạc chính anh ở mảng đời sống tâm trạng của một người lính đã thấm đẫm nỗi đau trận mạc và mảng đời sống thơ đích thực trước đây anh chưa có thời gian khai phá. Tôi cho rằng trong con - người - thơ của Thanh Thảo, một nội lực sáng tạo lớn luôn thôi thúc anh, luôn cày xới anh, luôn vắt kiệt anh ở những bến bờ mới.

“Chân đất” là trường ca thứ 10 của Thanh Thảo. Trường ca này độc đáo bởi nét nghĩ, nét suy tưởng, nét cấu trúc ngôn ngữ thi ca của riêng anh đã quật vác lên những nét thơ mới như những người nông dân tay trắng, chân đất ở Quảng Ngãi quê anh đã vác đá xây nên Trường Lũy tự thủa nào.

Không hiểu vì sao, tôi chợt liên tưởng, cái nguồn mạch trường ca dồi dào và sâu lắng của Thanh Thảo có thể cũng đã bắt nguồn từ mạch sống trường tồn của dãy Trường Lũy nơi quê hương anh vì “Địa linh thường sinh ra nhân kiệt”. Và, nếu không sinh ra ở miền đất nghèo khó mà quật khởi ấy, không được nuôi dưỡng bởi nhân dân hào hùng và đau thương ấy thì làm sao Thanh Thảo có thể viết được những trường ca như: “Những người đi tới biển”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Những ngọn sóng mặt trời”, “Khối vuông ru-bích”, “Đêm trên cát”, “Metro”…

Lần này, bằng trường ca “Chân đất”, Thanh Thảo đã hướng chúng ta vào một hệ - quy - chiếu thi ngữ mới với cấu trúc của các chương như các “Chân…Thơ” thật độc đáo, găm vào trí giác người đọc, từ “Chân tre” tới “Chân ruộng”, từ “Chân mưa” đến “Chân núi”, từ “Chân cò”, “Chân tháp”, “Chân mây” tới “Chân sóng”, “Chân lũy”.

Và, từ những đường nét kiến trúc khá đặc biệt ấy, anh dựng nên ngôi nhà trường ca “Chân đất” theo giọng điệu riêng mà Thanh Thảo dành cho tập thơ này: Uyên thâm mà phóng túng, dân dã mà hiện đại, tối giản mà sâu sắc, bình dị mà đa dạng… Nếu ở “Chân tre”, anh thầm gọi đất đai máu thịt: “Quê hương ơi làm sao tôi sống/ thiếu Người/ làm sao tôi thành một bóng cây/ nho nhỏ/ nếu trước nhà tôi, ngoài ngõ/ không rậm rì rậm rịt một bóng tre” thì ở “Chân ruộng”, anh phác thảo chân dung cuộc đời: “Người già quê tôi/ tuổi ngót trăm ngày tăm xị rượu/ lưng còng song song mặt đất/ dáng thảnh thơi như một chiếc tàu bay/ bay chậm chậm qua mây mù u uất”.

Khi ở “Chân mưa”, Thanh Thảo cảm nhận đau đáu về mẹ: “những dấu chân mưa bờ tre phấp phỏng/ bóng bóng phập phồng/ tôi ngồi nhìn mẹ tôi xay lúa/ tôi không biết và tôi không nghĩ/ đời mình như chiếc cối xay tre” thì ở “Chân núi”, anh lại thấm thía sứ mệnh của người cầm bút: “như người xuyên rừng nhãng bước chân đi/ cứ chăm chăm phát cây mở lối/ gánh nặng là chữ/ muỗi vắt là chữ/ mồ hôi là chữ/ đói bụng là chữ/ buồn vô ngôn”.

Nếu ở “Chân tháp”, anh ngược về những thế kỷ trước của văn hóa Chàm, để chiêm nghiệm cái đẹp: “tôi kính dâng lên tổ tiên mình/ chiếc bát mẻ nằm lặng bên chân tháp/ cái bát người con trai Việt/ lăn lóc tìm cặp mông người con gái Chàm/ như tìm nơi trú ngụ/ lăn lóc tìm mênh mang vó ngựa/ lăn lóc tìm ấm êm bếp lửa/ lăn lóc tìm đức tin” thì ở “Chân lũy”, anh đã cùng người dân quê mình vác đá xây Trường Lũy: “Đá cõng đá cõng đá/ mồ hôi cõng mồ hôi/ tháng năm cõng tháng năm/ người cõng người/ xây nên Trường Lũy/ cùng mọi người tôi vác đá xây lũy/ cùng mọi người tôi vác tự do vác tình anh em qua lũy/ cùng mọi người tôi ném những trái ngang khỏi lũy/ chúng tôi không xây Vạn Lý Trường Thành/ chúng tôi đếch cần hảo hán/ chúng tôi tươi vui bình thản/ dù chân lũy tới chân trời/ xa lắc chơi vơi”.

Đặc biệt, ở “Chân sóng”, những câu thơ đau đớn của Thanh Thảo như những vết bầm giập trên cơ thể  đất nước làm chúng ta xúc động: “lặng im như đá mồ côi/ họ dạy anh tình yêu không lời/ không thể thiếu Hoàng Sa/ không thể sống thiếu biển/ anh yêu biển mà anh đứng trên bờ/ anh yêu nước mà không biết bơi/ làm sao anh hiểu/ có những người lính đảo/ trần lưng trước mưa đạn quân thù”.

Trong cuộc viễn du vào miền ngôn ngữ cách tân, có khi người làm thơ cảm thấy mình đang bay vào cái vùng bóng tối riêng của một miền ánh sáng để nhìn ngược lại vùng thực tại chúng ta đang sống. Trên cái đường biên mập mờ hai chiều tối - sáng ấy, chúng ta sẽ có những phát hiện mới về các giác cảm, về không gian, về thời gian, về sự tồn tại của con người. Và ở trong vùng tối thẳm sâu vô thức ấy, những câu thơ chợt đến như một giấc mơ và một mình nó làm một cuộc viễn du vượt ra khỏi mọi thể chế về ngôn ngữ để độc hành trong sáng tạo.

Theo tôi, Thanh Thảo là một tài năng không chịu đựng nổi những con đường mòn cũ, quen thuộc trong thi ca. Và bởi tính năng động trong sáng tạo của con người thơ anh luôn bật lên những ý tưởng, những khát khao khám phá. Sau khi đọc nhiều bài thơ của Thanh Thảo, tôi cảm thấy hình như Thơ không phải chỉ đánh thức Thanh Thảo mà chính Thanh Thảo đã đánh thức chúng ta bằng một cái nhìn thành thật đến cay đắng. Bởi một lẽ trên thế gian này, trong cuộc hành trình dâu bể này: “Không ai tái chế nước mắt nỗi đau, dù để làm nên những trang sách”. Không hiểu vì sao câu thơ này thi thoảng lại rung động trong tôi một thứ gì đấy mằn mặn, nhói đau như nước mắt.

Dù tìm tòi, cách tân kiểu nào đi nữa thì thơ Thanh Thảo vẫn là một dòng nội tâm đậm đặc những suy tư trằn trọc với đời sống này, quê hương này, lớp người này, tâm thế này và trong một đêm sâu nào đó, dưới một bầu trời sao nào đó hoặc trong một ngày nắng chói chang nào đó, bên một bát khoai khô nấu mật, bên một người mẹ gầy như ban mai… vẫn còn thao thức một Thanh Thảo luôn canh cánh trước những bần hàn, nghèo khó của quê hương.

Tập thơ “Metro” của Thanh Thảo là tập trường ca thứ 9 (trong số 15 tập thơ) đã xuất bản của anh. Có thể nói, Thanh Thảo đã lập một kỷ lục ghi nét về trường ca trong thơ Việt Nam đương đại. Trong đó, phải kể đến tập trường ca “Đêm trên cát” trước đây của anh đã từng được giới phê bình và công chúng thơ coi như một đỉnh mới của nghệ thuật thơ trường ca trong suốt mấy chục năm qua.

Lần này, với trường ca “Metro”, nhà thơ Thanh Thảo đã làm một cuộc hành trình trở lại với quãng thời gian trai trẻ của anh trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt ở Trường Sơn với một cái nhìn có độ lùi sâu hơn và chiêm nghiệm hơn về số phận con người và đất nước.

Ngay ở chặng ga đầu tiên của “Metro”, hình ảnh những người lính trong “chuyến tàu trận mạc” đã vĩnh viễn nằm lại dưới một Trường Sơn đại ngàn lại nhắc nhở chúng ta về những năm tháng thương đau ấy. Những người lính trẻ đã đi vào chiến tranh, đi vào cái chết với một chân dung hồn nhiên và trong trẻo nhất của thế hệ mình: “không ai đủ sức trả lời/ dù còn cả cuộc đời trước mặt/ năm 26 tuổi tôi “thử hỏi về hạnh phúc”/ với những hồn nhiên trong trẻo nhất/ nhưng hạnh phúc là gì tôi không biết/ là cái bóng của lặng im/ là cái bóng của cái cái bóng cây bằng lăng cây bồ đề/ nửa đêm chợt thức giữa rừng già/ một tiếng gì khẽ rơi/ hạnh phúc”.

Câu hỏi về hạnh phúc trong những năm tháng ấy mãi mãi nằm lại với tuổi trẻ của những người đã lặng lẽ dâng hiến máu xương mình trong cuộc chiến tranh giải phóng: “Nhưng hạnh phúc là gì? câu hỏi này của chị Dương Thị Xuân Quý/ người hỏi không thể tự trả lời/ vì chuông đã rung/ hết giờ”. Một câu hỏi chưa có lời đáp cứ cứa mãi vào tâm khảm những người còn sống hôm nay.

Những năm sau chiến tranh, một Thanh Thảo với những tìm tòi mới trong thơ lại bắt đầu khuấy động thi đàn. Có người đánh giá cao những đóng góp của anh trong mảng thơ viết về chiến tranh, nhưng cũng có người cho rằng mảng thơ sau chiến tranh của anh với những nỗi đau đời sống thường ngày, với những trăn trở cách tân cho thấy một diện mạo sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về thơ Thanh Thảo.

Tôi thì cho rằng ở giai đoạn nào cũng vậy, Thanh Thảo vẫn là một tài năng thơ đích thực với một trái tim luôn nồng nhiệt, chân thành, chia sẻ với mọi mất mát và bất bình trước mọi giả trá, bất công và bạo lực. Có ai đó nói, trong suốt ba chục năm qua, con người thơ của Thanh Thảo vẫn là con người sáng tạo của những trường ca lớn, tôi thấy điều ấy không sai, vì có thể hơi thở máu thịt chính của đời thơ anh là hơi thở của trường ca. Nhưng tôi lại thấy một điều gần đúng, cũng trong thời gian trên, với những tìm tòi bền bỉ nhằm cách tân thơ Việt, Thanh Thảo vẫn là một nhà thơ đáng chú ý của những bài thơ nhỏ rất đặc sắc, hiện đại.

NGUYỄN VIỆT CHIẾN
Nguồn: VNCA


HUỲNH PHAN ANH: "THƠ HIỆN HỮU CHỐNG LẠI THƠ"

“Thơ không là kinh nghiệm. Thơ là sự chờ đợi của kinh nghiệm. Làm thơ, nói về thơ… là tìm tới kinh nghiệm thơ..."
Nhà phê bình Huỳnh Phan Anh

Kể từ khi được ấn hành trong tập tiểu luận “Văn chương và kinh nghiệm hư vô” (xuất bản năm 1968) đến nay, Thơ hiện hữu chống lại thơ của ông Huỳnh Phan Anh vẫn còn là nỗi ám ảnh, day dứt đối với những ai đã làm thơ, đang làm thơ, hay nuôi ý định sẽ làm thơ, và cho những ai muốn định nghĩa, cắt nghĩa về thơ. Ông Huỳnh Phan Anh cùng tiểu luận của ông đã rất đúng khi cho rằng, bất cứ ai trong chúng ta đang ra sức khẳng định thơ là thế này hay thơ là thế khác, hoặc suy tư về thơ hay, thơ dở thì cũng đều là mang thơ ra để phủ nhận chính thơ, là thơ chống thơ theo nghĩa bản chất. Ứng với suy tư ấy của ông Huỳnh Phan Anh trong thực tiễn phê bình thơ ngày hôm nay, ta thấy, mọi sự phân định thơ dở thơ hay, thơ ngoại biên hay thơ trung tâm, thơ “rác” hay thơ “linh thiêng” đều là những cách thức suy diễn chống lại bản chất của thơ. Bởi vì “thơ” là miền im lặng, và cũng là vì, thi sĩ khi làm thơ thường không định nghĩa thơ phải thế này hay thơ phải thế kia.

Thơ cũng như người làm ra nó là một cõi im lặng và hồn nhiên với chính nó. Nó hướng về hiện hữu để hỏi và chiêm nghiệm về hiện hữu, chứ không phải là hướng về hiện hữu rồi quay trở lại nghi vấn về sự tồn tại của mình. Người thơ cất bút làm thơ như một thoáng nghiệm sinh, phiêu lưu cùng hiện hữu, để hiện hữu ấy qua thơ có thể tự lý giải về sự có mặt của mình trong cõi đời. Do đó cách tốt nhất để chúng ta hỏi về thơ là hãy im lặng trước thơ, để nó tự trôi chảy theo ý nghĩ và tuôn trào theo con tim đến với cuộc đời nhiều đau khổ; hướng con người tới sự xoa dịu êm ái của ngôn từ như ông Huỳnh Phan Anh từng thông điệp tới các thi sĩ và thế giới thơ của họ, rằng, “đừng tìm những cuộc hóa thân đâu xa xôi. Hãy nhìn trở lại con người, và bắt đầu bằng cái nhìn nó gửi lên sự vật, những cảm xúc của nó, những mơ mộng của nó, những niềm tin của nó, để thấy sự thay đổi cả một thời đại. Có thể chúng ta bi thảm vì, nói một cách đơn giản, chúng ta đã đánh mất thơ ngây. Và bi thảm hơn, chúng ta không thấy điều đó” (Huỳnh Phan Anh - Thơ hiện hữu chống lại thơ).

Nếu như trong phần 1 của tiểu luận Thơ hiện hữu chống lại thơ, ông Huỳnh Phan Anh đã chỉ ra đặc trưng mơ mộng từ căn tính thơ, rằng, thơ là một hiện hữu không thể cắt nghĩa, không thể khái niệm và không thể ban bố thang bậc xác định thế nào là thơ, thì tới phần 2 của tiểu luận, tác giả của nó đặt thơ vào một vị trí chơi chữ nửa như bông đùa nửa như mời gọi những nhà phê bình thơ nóng tính hạ bút phê phán mình.

Thơ có chân lý không? Một câu hỏi đau đầu cho những nhà bình luận. Câu hỏi ấy đặt ra có nguy cơ lật nhào những quy ước “thang bậc lý luận” cho các ý niệm thơ hay, thơ dở. Và bởi vì thơ là một hiện hữu im lặng, cho nên ngôn ngữ dẫu có trác tuyệt, diệu vợi như thế nào thì nó cũng không thể giải phóng tuyệt đối bản chất mơ mộng, phiêu bồng của tâm hồn người làm ra nó. Cũng bởi lẽ, ngôn ngữ là phúng dụ của nghĩa, nó mang bản chất siêu hình học như cuộc vượt biên, trốn chạy đầy mơ hồ trước thực tiễn sống của thi nhân, cho nên mọi chân lý đặt ra với thơ cũng đều là hành động chống lại chân lý thơ. Ông Huỳnh Phan Anh với kinh nghiệm phản tư triết học đã đặt thơ vào tình thế chống lại những nhà phê bình thơ, chống lại thói quen thẩm định thơ cảm tính, chống lại một hệ thống giáo điều thơ theo kiểu luân lý, thơ hay phải thế này, thơ hay phải thế kia.

Thơ cũng giống như người làm thơ chẳng thể nào chỉ gói gọn tâm hồn mình trong sự nghèo nàn của ngôn ngữ cộng đồng, nó vượt thoát những giới hạn luật lệ khiến thi nhân phải ngột thở, để oằn mình vươn tới cái khác, cái bên ngoài, cái phóng khoáng của tưởng tượng. Người thơ với tâm hồn thơ phiêu bồng, khi thì cưỡi trăng, lúc thì hạ thủy, đêm xuống bầu bạn cùng mây gió, chẳng thể đậu yên một chỗ như con thuyền trước bóng thì làm gì có chân lý chuẩn mực của thơ. Chân lý của thơ là sự im lặng. Cõi lòng thi nhân là cõi lòng không thể dàn trải trong giới hạn của ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ chỉ là cái cớ để những tâm hồn đồng điệu sát lại gần nhau trong sự im lặng bất tận của tâm hồn. Sự im lặng ấy sẽ đốt cháy tâm thức của họ thành cuộc phản kháng chống lại hiện hữu theo nghĩa mời gọi, rủ rê những ngọn lửa khác bên ngoài đang đi tìm “bóng lửa” của mình. Cuộc đoàn viên, tụ họp của những bóng lửa ấy sẽ mở ra viễn tượng bùng cháy bất tận của ngọn lửa thơ, sẵn sàng thiêu đốt mọi giới hạn, mọi quy tắc áp đặt lên bản chất phóng khoáng, tự do của thơ và người thơ: “lời nói thơ, ngôn ngữ thơ, là bí ẩn là bóng tối, nó chỉ hứa hẹn, mời gọi mà không bao giờ là sự thật nền tảng, chân lý sau cùng, vật thể đích thực. Cho nên thơ không khẳng định cái ở đó. Thơ khẳng định cái ở ngoài, ngoài lời nói, ngoài ngôn ngữ. Cho nên sự khẳng định thơ không quá rõ ràng, sáng sủa cố định như một mệnh đề luân lý hay một phương trình toán học” (Huỳnh Phan Anh - Thơ hiện hữu chống lại thơ).

Qua phần 1 và phần 2 của Thơ hiện hữu chống lại thơ, chúng ta thấy, cốt tủy trong lý luận của ông Huỳnh Phan Anh nằm ở “cái im lặng” của thơ, từ sự khai minh ý nghĩa của việc nên định nghĩa về thơ (Câu hỏi về thơ - phần 1) như thế nào?, cho đến Khẳng định của thơ (phần 2) là một sự vận động tĩnh lặng trong cái cõi thơ siêu việt. Giờ đây, trong phần 3 này, ông Huỳnh Phan Anh không chỉ dừng lại ở việc chiêm ngưỡng, nghi vấn, khẳng định cái cõi im lặng ấy, mà còn là cảm giác vượt thoát khỏi chính ý niệm về sự im lặng. Một sự im lặng dường như tuyệt đối trước thể tính của thơ. Và cũng có lẽ vì, khởi thủy của thơ vốn là một miền im lặng thuộc về cõi riêng của thi sĩ, cho nên mọi sự bàn luận về thơ từ ngàn năm nay của loài người đều là những cách thức chống lại cái nguyên khởi mơ mộng ấy của thơ, là chống lại vận mệnh thơ, chống lại sự hiện hữu của thơ và người thơ.

Và có lẽ chính vì thơ là một cõi siêu việt không thể giải quyết được bằng lời, cho nên, chân lý của thơ là chân lý của suy niệm và cảm nghiệm hơn là giải thích và chứng minh. Và vì bản thân thi nhân khi Hắn khai mở ý niệm về thơ thì cũng là lúc Hắn tự đẩy mình vào những giới hạn của thơ, bởi lẽ, mọi ý niệm đều là những cách thức mô tả dựa trên các biểu tượng có giới hạn chứ không phải là một cuộc chuyển động toàn diện về tâm thức.

Thơ trong quan niệm của ông Huỳnh Phan Anh, theo đó không phải là kết quả của kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn sống trải, mà là một dự phóng đón đầu và chỉ đạo kinh nghiệm sống trải của thi nhân - điều mà ông gọi là “sự chờ đợi của kinh nghiệm”. Vì vậy mà, đa phần thi nhân đều là những người sống không theo quy luật thường nghiệm. Họ có chút lập dị của kẻ coi thế giới hữu hình chỉ là cõi tạm, mơ mộng, phiêu bồng, lấy trăng mây gió núi làm bạn đường. Tư tưởng của họ là tư tưởng của một kẻ không tuân theo bất cứ tư tưởng nào, lối sống của họ là lối sống của kẻ không theo thước đo chuẩn mực. Cách nghĩ, cách làm của họ không phục vụ hay làm vui lòng bất cứ ai hoặc bất cứ giai tầng xã hội nào. Có lẽ vì họ là những người tự sáng tạo ra lối sống của mình, tự mình làm nên kinh nghiệm sống và tự mình gánh vác các chuẩn mực do mình đề ra, thế nên, thơ là cõi lặng của chỉ riêng thi sĩ làm ra nó. Nó không lẫn, không hòa, không trộn vào làm một với bất cứ thi phẩm nào và của bất cứ thi nhân nào bên ngoài nó. Nó là miền im lặng của chính nó và của người làm ra nó, đúng như ông Huỳnh Phan Anh quan niệm: “Thơ không là kinh nghiệm. Thơ là sự chờ đợi của kinh nghiệm. Làm thơ, nói về thơ… là tìm tới kinh nghiệm thơ. Như vậy trong chính danh của lời nói, trong chính danh của thơ, người ta phải nhìn nhận một điều: Không được phép nói về thơ. Niềm im lặng của thơ biến mọi lời nói, mọi lời thuyết giảng hay chú giải về thơ thành thừa thãi, ngụy biện ngây ngô” (Huỳnh Phan Anh - Thơ hiện hữu chống lại thơ).

NGÔ HƯƠNG GIANG
Nguồn: VHQN

__________________________

Trích dẫn từ nguồn: Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Hoàng Đông Phương xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr.93-115


NHÀ VĂN TIẾN ĐẠT: SỰ TRÔI GIẠT LỮ KHÁCH VÀ THÂN PHẬN MỸ NHÂN

“Đề tài nổi bật nhất trong tác phẩm của tôi là thân phận, sự cô đơn và trôi giạt của con người. Những nhân vật ấy, có niềm cô đơn sâu kín và sự trôi giạt như đã thành định mệnh” - nhà văn Tiến Đạt tâm sự.

Khá im ắng sau tiểu thuyết Thể xác lưu lạc (2009), nhà văn Tiến Đạt vừa trở lại với 2 quyển sách gây chú ý: tập truyện ngắn Truy đuổi tâm trạng mỹ nhânvà sách du ký Lữ khách - gió bụi xa gần, kịp tung ra trong Hội Sách TPHCM lần VIII - 2014. Anh đã dành một cuộc trò chuyện thú vị xoay quanh những cuốn sách, những chuyến đi, sự trôi giạt của lữ khách và thân phận mỹ nhân…
Từ trái sang: Phan Hoàng, Giản Thanh Sơn, Tiến Đạt, Trần Nhã Thuỵ
trên đỉnh đèo Gió ở Bắc Kạn 27.5.2012

* Năm 2009, sau khi khá gây tiếng vang với tiểu thuyết Thể xác lưu lạc, thấy anh có vẻ im tiếng. Nhà văn, có nhiều trường hợp “ở ẩn luyện bút”, là sự nghỉ ngơi của một chu kỳ làm việc, hoặc cũng có khi bị bí đề tài, thiếu đam mê sáng tạo?  

- Phía trước, trong và sau khi phát hành cuốn sách, luôn thể hiện đời sống của một nhà văn. Ở nước ta, tỷ lệ nhà văn chỉ sống bằng nghề viết rất hiếm. Tôi cũng rơi vào trường hợp phải làm nhiều việc khác bên cạnh viết văn. Viết, theo mình như một đam mê chữ nghĩa, khó dứt ra được.  Sau khi phát hành tiểu thuyết Thể xác lưu lạc, tôi cũng âm thầm viết một số cuốn mới.

* Có phải tập truyện ngắn Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân và cuốn du ký Lữ khách, gió bụi xa gần anh kịp tung ra tại Hội Sách TPHCM diễn ra vào cuối tháng 3 này?

- Việc in sách trùng thời điểm Hội Sách chỉ là sự tình cờ của cá nhân tôi, hoặc là chủ ý của Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ (đơn vị mua bản quyền - NV). Thật ra, tôi cũng rất lười trong việc in ấn. Rất may, lần này có sự hỗ trợ khá nhiệt tình và chuyên nghiệp của nhà xuất bản, nên tôi mới nhanh chóng hoàn thành các bản thảo của mình, kịp in và phát hành đúng thời gian diễn ra Hội Sách.

* Theo thông tin chúng tôi nắm được, trong kế hoạch in sách tháng 3 năm nay, riêng cá nhân anh in cùng lúc 3 cuốn chứ không phải 2. Nếu điều này xảy ra, đây là điều rất hiếm của một nhà văn Việt Nam.

- Đáng lẽ cùng lúc tôi sẽ in 3 cuốn. Một cuốn truyện ngắn, một cuốn du ký và một cuốn tản văn, 3 đề tài khác nhau. Cuốn tản văn, tựa đề Sự quyến rũ của bước chân, đáng lẽ cũng sẽ in vào dịp này, tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ các yếu tố, chúng tôi dời phát hành sang thời điểm khác, có thể trong năm nay.

* Trong lời bạt tập truyện ngắn Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân, Tiến sĩ - nhà phê bình Trần Hoài Anh và nhà văn Trần Nhã Thụy đã có bài viết khá công phu về tác giả và tác phẩm. Theo nhà phê bình Trần Hoài Anh: “Đây  là sự ám ảnh của một tâm thức hiện sinh... vừa thực lại vừa mộng, vừa lãng mạn lại vừa trần trụi. Trong các câu chuyện tình, ta thấy rõ sự đan xen giữa khát vọng tính dục với những đam mê rất Người, đó là những vấn đề thấm đẫm chất nhân sinh mang tính nhân bản sâu sắc”. Tôi có sự tò mò, anh có chọn sex là phương cách, trào lưu để gây chú ý, như một vài tác giả trẻ hơn anh hiện nay?

- Tôi chưa bao giờ có chủ ý viết về tính dục, và cũng không báng bổ đề tài này. Quan trọng, phải hợp với nhân vật, bối cảnh, không gian, thời gian… Tính dục, chỉ là một trong những yếu tố làm đậm đặc cá tính nhân vật, giúp đẩy vấn đề đi đến tận cùng. Khai thác các yếu tố tính dục, với tôi, chỉ là một phép thử để qua đó nhân vật bộc lộ tính cách và nhân cách của mình. Bạn đọc tinh ý lắm, nhà văn chẳng lừa họ được bằng những trang viết cố tình khiêu gợi nhưng chẳng ăn nhập gì với đề tài. 

Đề tài nổi bật nhất trong tác phẩm của tôi là thân phận, sự cô đơn và trôi giạt của con người. Những nhân vật ấy, có niềm cô đơn sâu kín và sự trôi giạt như đã thành định mệnh.

* Sự trôi giạt của lữ khách và niềm cô đơn thân phận mỹ nhân là những đề tài đang theo đuổi của anh?

- Tôi thích viết về lữ khách và mỹ nhân. Lữ khách và mỹ nhân là những đại diện nhân vật nam và nữ trong các tác phẩm. Họ đa phần không tên, chỉ có đại từ Anh và Nàng thay thế.

* Lữ khách - gió bụi xa gần, theo nhận xét của giới xuất bản, là tập sách du ký được đầu tư lớn nhất và in 4 màu công phu, đẹp nhất trong thể loại sách du ký từ trước đến nay. Chính vì thế, giá bán cũng khá cao. Anh có thể chia sẻ ít nhiều về nội dung chuyển tải và các cung đường anh viết trong cuốn sách này?

- Đây là tập hợp các bài viết theo thể loại du ký trong thời gian trên 15 năm làm trong ngành du lịch của tôi. Nội dung là những câu chuyện liên quan khoảng 40 thành phố của khoảng 20 nước trên thế giới và khoảng 30 tuyến điểm du lịch có sức hấp dẫn, nét riêng tại nước ta mà tôi có cơ hội đi qua trong vai lữ khách.

Những địa danh tôi có cơ may đi qua nằm trong miền ký ức. Thật khó để đưa ra nhận định nơi nào có sức quyến dụ nhất đối với du khách/lữ khách. Không phải chỉ có phong cảnh đẹp hùng vĩ, giàu bản sắc văn hóa bản địa, ẩm thực phong phú, nhiều giai thoại mỹ nhân, sầm uất trung tâm mua sắm xa xỉ… thì lưu lại lâu trong bộ nhớ lữ khách/du khách. Không hẳn địa danh trở thành tuyến điểm du lịch nổi tiếng được đưa vào các ấn phẩm du lịch trong và ngoài nước lưu lại ấn tượng đẹp và sâu lắng nhất cho tất cả mọi người. Cái đẹp của từng vùng đất, và lưu lại trong nỗi nhớ của người lữ khách, nhiều khi phụ thuộc vào duyên.

Cuốn sách này chỉ là tập hợp của những bài viết mang tính ngẫu hứng, và dậy lên niềm xúc cảm về những vùng đất tôi từng đi qua. Vì, còn có nhiều nơi tôi từng đặt chân đến, nhưng thật khó khi trải lòng ra trang viết. Có thể, còn chờ ủ thêm chất men, hoặc phải quay trở lại khơi nguồn mạch chảy suy tư du ký.

* Niềm vui đi, dịch chuyển có trong tất cả chúng ta. Anh làm trong ngành du lịch, lại là nhà văn, nên khá thuận lợi trong việc chuyển tải câu chuyện từng nơi anh đặt chân đến. Đi, dịch chuyển, với anh là cơ hội, hay là định mệnh? 

- Khởi thủy của con người, có lẽ là dịch chuyển, hành trình tìm kiếm, khám phá thế giới rộng lớn bên ngoài về bí ẩn nội tâm.

Trong ký ức trẻ thơ, những câu chuyện lang bạt kiếm sống trải nghiệm nơi xa lạ, hòa vào dòng đời phức tạp đầy sinh động, nhiều màu sắc, cung bậc của người đàn ông thợ chẻ đá trong gia tộc tôi thời họ trai trẻ đã kích thích trong tôi sự tò mò và nuôi đam mê trở thành lữ khách. Lữ khách của người thợ chẻ thể hiện bản lĩnh phóng khoáng vùng vẫy, mạnh mẽ của người đàn ông phải tự làm chủ, tự đạo diễn cuộc đời mình. Thợ chẻ là lữ khách bất đắc dĩ của bao chênh vênh nhọc nhằn phận người. 

Những người thợ chẻ, trong câu chuyện mỗi lần gặp mặt, họ vẫn nhớ về khoảng thời gian bôn ba, lưu luyến những vùng đất. Cũng giống như tâm cảm của người thợ chẻ, tôi bị quyến rũ mê hoặc vẻ đẹp quê hương xứ sở, và âm thanh vang vọng, réo gọi qua bao cung đường.

* Được biết, du ký đang là thể loại khá ăn khách, vì đánh trúng tâm lý mê đi của độc giả. Anh có tin sách của mình sẽ trở thành một trong những tác phẩm best-seller?

- (Cười) Tôi luôn nuôi niềm hy vọng! Cũng rất vui, vì sách chưa phát hành, nhưng đã có nhiều độc giả, và các công ty du lịch, trong đó có Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist đặt mua đợt đầu vài trăm cuốn để tặng du khách. Tôi có niềm tin, thông qua sách, mình chuyển tải hộ được cảm xúc cho độc giả, những người mê sự rong ruổi qua các cung đường.

THANH TUẤN
SGGP THỨ 7

________________________

Nhà văn Tiến Đạt họ tên đầy đủ là Nguyễn Tiến Đạt, sinh ngày 01.5.1975 ở Quảng Ngãi. Tốt nghiệp Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện làm việc tại Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist).

Nhà văn Tiến Đạt là Phó ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khoá VI và VII (2010-20). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2014.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Có con chim lạ trong thành phố (tập truyện ngắn - 2003).
- Tội lỗi tự nhiên (tập truyện ngắn - 2006)
- Thể xác lưu lạc (tiểu thuyết - 2009)
- Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân (tiểu thuyết - 2014)
- Lữ khách - gió bụi xa gần (du ký - 2014)

Giải thưởng văn học:

- Tặng thưởng Hội Nhà văn TP.HCM 2014 cho tập truyện ngắn Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân.


Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

PHAN HOÀNG & THƠ HIỆN THỜI PLUS

    Nhà thơ Phan Hoàng

Nếu chọn một đoạn thơ đậm chất Phan Hoàng nhất theo cảm nhận của riêng mình, tôi sẽ chọn đoạn này:

"ngôi nhà quanh năm ngập tràn tiếng sóng
đong đầy tiếng gió
bí mật chuyển lưu nguồn sáng chân lý kỳ lạ
quang hợp sức mạnh rồng tiên
di truyền bản lĩnh núi non
hội tụ tấm lòng biển cả
hào phóng năng lượng tái sinh giống nòi
cho tôi
con tôi
và
cho n… tôi"

Đoạn thơ này nằm trong bài thơ Mặt trời trong ngôi nhà thân thuộc - Giải ba cuộc thi "Đây biển Việt Nam", do Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Báo điện tử VietNamNet đồng tổ chức (2011 - 2012).

Những câu thơ vẽ lên phần nào chân dung người làm ra nó. Một Phan Hoàng - kẻ sĩ hào sảng, đầy trách nhiệm với đất nước, giống nòi; một Phan Hoàng - thi nhân vững chãi và tươi mới trong từng con chữ. 

Và nữa, có một Phan Hoàng - công dân toàn cầu, trên hành trình đi tìm bản thể đã chạm tới những nỗi đau khổ của con người trong thế giới hiện đại. Dường như vì lẽ đó, thơ anh ngày càng vạm vỡ và nhức nhối hơn lên.

Trân trọng giới thiệu với bạn đọc Thơ hiện thời Plus một chùm thơ của Phan Hoàng.

NGUYỄN THUÝ QUỲNH giới thiệu trên trang Thơ hiện thời Plus/fb 2017
(Nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh là Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên,
Tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Thái Nguyên)


CHỮ NGHĨA THỊ TRƯỜNG

Thử ném chữ tình tang ngang dọc
săn chứng khoán chim trời
bán cổ phiếu cỏ dại
người trách nhiệm hữu hạn sẻ chia
thơ đấu giá lên đời

Ai đầu tư cổ phần tri âm
văn chương tình nguyện liên doanh tri kỷ
chữ nghĩa thị trường xuống chó lên voi

chữ nghĩa thị trường
hot

chữ nghĩa thị trường
bạc

chữ nghĩa thị trường
nhạt

Nhiều đêm gối đầu lên hàng đống sách
nghe lòng trống
rỗng
hoang mang


UỐNG BÓNG

Tôi ngồi uống bóng
đêm xua ý nghĩ mưu sinh chợ đời rời rã
từng đốt xương lắc rắc âm sắc cháy rừng

Tôi ngồi uống bóng
đêm nghe mưa thì thào nghẹn ngào tiếng nấc
sấm động gò hoang tức tưởi oan hồn

Tôi ngồi uống bóng
đêm lần giở từng trang từng trang thư tịch cổ
toát lạnh đường gươm giấu mặt tang thương…

bao vương triều vụt trôi
hồn chữ nằm tê tái
bao nấm mộ lụi tàn
cỏ nghĩa nhân cứu rỗi?


TIẾNG THÌ THẦM

Ở giữa hơi nước và mây lạnh
tôi nghe thì thầm
tiếng giữa hoan lạc và thụ tinh

Ở giữa sấm chớp và mưa giăng
tôi nghe thì thầm
tiếng giữa chuyển dạ và sinh nở

Ở giữa áp thấp và bão tố
tôi nghe thì thầm
tiếng giữa hấp hối và cái chết

Thì thầm giao hưởng bất tận
tuần hoàn qua những đại dương phận người lênh đênh
cuốn cánh buồm tôi trôi mê mải hải lưu buồn
đau những chân trời tư tưởng tật nguyền
câu thơ neo bờ nước mắt


CƠN BÃO KÝ TỰ MỚI

Vật vờ như ngọn gió vô hình
trong thế giới ảo
lớp lớp ký tự vô hồn
nhà nhà nhốn nháo
những ký tự thiếu tư duy số phận
tôi bỗng lắc lư
bay
bay
lên
từ muôn đợt sóng ngầm
chìm trong cơn bão không hề dự báo

cơn bão đưa tôi vào thượng tầng khí quyển
say điệu luân vũ thiên nga
lá rừng hoá than trở về xanh cành lộc mới
đá bí mật mở dần pho ký tự núi lửa
đồng hồ ngực biển quay ngược
những vệt đồi mồi biến khỏi bóng đêm

cơn bão nổi mạnh dần lên
thế giới ký tự mới mở ra
mỗi hơi thở nồng nàn bạt ngàn tín hiệu

Em cứ ngon giấc hồ nghi giữa mùa hoa cúc
cơn bão nối những ký tự nồng nàn cất tiếng thuỷ tinh


THƠ VÀ GIÓ VÀ…

1.
Cứ mãi đi tìm thơ ta chẳng biết thơ đến từ đâu
cứ mãi đi tìm gió ta chẳng biết gió từ đâu đến
đi tìm ta đi tìm.

Gió như thơ và
thơ như gió
đi tìm ta đi tìm
gió không như thơ và
thơ không như gió
đi tìm ta đi tìm.

2.
Cánh chim thi ca trong ta càng bay càng xa những đám mây số phận,
ngọn gió thi ca trong ta càng bay càng xa những chân trời khát vọng,
chưa chạm cõi hư không
quay quắt nhớ tiếng người.

Có lúc trong gió ta nghe trái đất tinh khôi nụ cười thơ trẻ.
có khi trong thơ ta nghe trái đất quằn quại giọt nước mắt cạn kiệt
rơi
rơi
rơi…

3.
Cứ mãi đi tìm thơ ta chẳng biết thơ đến từ đâu
cứ mãi đi tìm gió ta chẳng biết gió từ đâu đến
đi tìm ta đi tìm.

Gió như thơ và
thơ như gió
ở trong hơi thở của ta
ở trong mạch máu của ta
ở trong sâu thẳm tâm linh của ta
ở trong cội nguồn cảm hứng sáng tạo của ta
cội nguồn lẫm liệt dựng nên hình hài non nước
bi tráng Tiên Rồng!


EM NÓNG DẦN LÊN

Khí hậu biến đổi từng ngày
trái đất nóng dần lên từng ngày
gió thốc mạnh từng ngày
nước dâng cao từng ngày
rừng cháy lan từng ngày

Những đàn chim di cư tìm bầu trời mới
hay chờ chết?
Những đàn cá di cư tìm nguồn nước mới
hay chờ chết?
Những đàn thú di cư tìm cánh rừng mới
hay chờ chết?

Khí hậu biến đổi từng ngày
da thịt em nóng dần lên từng ngày
hành tinh ta tốc hành khám phá thế giới mới từng ngày

Em
cởi bỏ mọi trang phục pha lê nứt vỡ
cởi bỏ mọi tư duy hình thức đa khô đình nát bến cạn
hoà nhập vào cơ thể ta đang tốc hành về phía ánh sáng
hay đóng cửa
tự huyễn hoặc mình
chờ chết?


MẮT GỖ

Những vân gỗ như những con mắt ngây thơ
trong ngôi nhà sang trọng
nền bọc nhung
tường ốp kín gỗ quí

Chủ nhà thuyết minh về bộ sưu tập gỗ của mình
hùng hồn như trên diễn đàn chỉ đạo bảo vệ rừng
hùng hồn như trên diễn đàn phòng chống tham nhũng
một ngọn lửa dẳng dai chót lưỡi

Ở đâu đó có cánh rừng già đang hấp hối
ở đâu đó có người kiểm lâm mới bị trả thù
ở đâu đó có ngọn núi trọc xói mòn vừa ngã sập
ở đâu đó có cơn lũ quét thất thanh tiếng thú tiếng người

Những vân gỗ quí
trong ngôi nhà sang trọng
như những con mắt lửa giấu kín hờn căm
chờ ngày phát hoả


ĐÊM CỐ ĐÔ NHỚ NGUYỄN CÔNG TRỨ

Ta như chiến tướng trấn thủ biên cương
vung gươm vượt núi băng ngàn
tung vó ngựa mịt mù thẳng hướng kinh đô
mang tham vọng dẹp lũ gian thần
đánh đổ hôn quân
cứu nguy xã tắc
cứu nguy dòng sông ô nhiễm trò chơi dâm tặc
cứu nguy điệu hò đánh đổi đô la nhan sắc
cứu nguy giấc mơ xứ đẹp xứ thơ bay bổng hoa niên

hình như đất trời thương tình
xui khiến ta sớm gặp em
thôn nữ mang hồn cung nữ giam cầm kiếp trước
ngọc ngà và nõn nà
khát khao và ẩn ức
có lẽ người xưa đã sai rồi
danh tướng làm sao sánh được mỹ nhân?

chưa lao vào vũ điệu tử thần
chưa dẹp được ô lại hôn quân
ngày mặt trời chết đứng trước núi đồi âm âm nham thạch
đêm mặt trăng vùi mình cỏ thơm hoang vu phủ khe trinh bạch
một tiếng vọng nóng bỏng dịu dàng
ơi ới ơi đò… căng phồng lồng ngực
ta hiểu vì sao người xưa
mê mải giữa đồng thuyền quyên ư hư ứ hự
rời xa kinh thành ảo vọng phù hoa
thảnh thơi cưỡi bò vàng leng keng lục lạc
mo cau che miệng thế gian


VĂN BẢN DỞ DANG
(Gửi NQ)

1.
Những lúc rơi dưới đáy đớn đau
lơ mơ thấy mình
hồn nhiên thơ dại đại dương bình yên của mẹ
cưỡi cơn hồng thuỷ lặng im
tẩy xoá nếp nhăn tư duy già nua
hằn sâu gương mặt rỗ nhàu trái đất
rỗ nhàu đúc khuôn thần đồng sáng tạo

Những lúc bay trên đỉnh thăng hoa
lơ mơ thấy mình
hào phóng chàng trai độc quyền cánh rừng nguyên sinh
rực hương thiếu nữ
ném phăng kỹ năng dục vọng trang phục mục ruỗng
bồng bềnh ngọn lửa trong ngần khoái lạc
từng đợt sóng tín hiệu kỳ bí dâng tràn
va đập chín chiều ký ức
đánh thức bụi vàng lãng quên

2.
Mọi nền văn minh hình như phát tích từ khoái lạc giấc mơ ánh sáng vô thức chống lại thói quen kỹ năng bóng tối ý thức
kỹ năng nhân danh tiến bộ gặm nhắm từng khoảnh khắc tự nhiên sự sống

3.
Vượt lên đau đớn và thăng hoa
tôi tự tại giấc mơ tôi
mưa ban mai lặng lẽ gióng chuông gọi hồn tận thế
những con chữ như chiến binh chuyển dịch văn bản thơ mãi mãi dở dang

văn bản vô ngôn
văn bản tinh huyết
văn bản ma lực
tâm chấn tín hiệu khoái cảm

4.
Đắm chìm sâu giấc mơ khoái lạc
đắm chìm sâu văn bản dở dang
tôi phát hiện tôi
khác xa dần
xa dần
cánh đồng thâm canh cảm xúc con trâu cái cày
khói lam mây xám ăn quẩn chái bếp thiếu gạo của mẹ
dàn đồng ca hát nhép tân cổ giao duyên mùi mẫn cởi áo trao nhau

Cơn hồng thuỷ khoái cảm âm thầm nổi lên
kỹ năng dục vọng trang phục mỹ từ mục ruỗng bị đánh đắm
từng đợt sóng tín hiệu bụi vàng ký ức dâng tràn

5.
Giữa những cơn sóng tín hiệu
tôi tìm thấy gương mặt lênh đênh tôi
đúng tôi
đớn đau tôi
thăng hoa tôi
trong những văn bản dở dang
văn bản vô ngôn
văn bản không khuôn thước
văn bản không văn bản

6.
Đời người chỉ một gang tay
sao tự trói mình xích xiềng lê dài giá trị bia đá?

Làm sao bùng lên nhiều cơn hồng thuỷ
dâng sóng tín hiệu đỉnh khoái
cuốn phăng những kho văn bản mộng mị ngủ muộn
những kho văn bản ấu trĩ già cỗi
những kho văn bản hư danh giả dối
khủng bố dòng chảy tự do ngôn từ
ám sát khát khao chồi xanh ý tưởng
đe doạ cánh rừng nguyên sinh rực hương thiếu nữ căng tràn văn bản nhựa sống tương lai


THÈM LÀM NGỌN GIÓ TỰ DO
(Tặng TNT)

1.
Những bài báo đặt hàng đang truy đuổi tôi
nhuận bút ứng trước đang truy đuổi tôi
như con chuột bị lũ mèo rượt tới hang cùng ngõ tận

Gục đầu lên máy vi tính
tôi thèm đứt ruột
được làm ngọn gió không đồng phục
không điện thoại
không internet
bay về mái tranh vách đất của mẹ
cởi trần lăn lóc tắm mưa
trưa trưa mắc võng lưng trời
đung đưa tréo chân đã đời trái chín
nghe gà trống xuống giọng tỉ tê gà mái
hung hăng bò ụ động đực phá chuồng

Chiều chiều quạ đói gọi diều
lùa cơm nguội ba trăng
chan hương ngò mắm cái
ọc gáo nước giếng trong
ngửa cổ tưng tưng mấy nhịp bài chòi…

2.
Gục đầu lên máy vi tính
tôi thèm đứt ruột
được làm ngọn gió tự do
bay về mái tranh vách đất của mẹ
hô tập bạn bè
mũ rơm áo dừa phong tướng phong vương
cầm roi thúc bò cờ lau đánh trận

Những đêm mùa xanh ngực nở dậy thì
băng băng đạp xe vượt đồng sình cỏ lác
vượt bầu sen bầu súng
hôn lên đôi mắt rụt rè thôn nữ em
hôn lên đôi môi nứt nẻ ruộng hạn em
hôn lên bầu vú thơm rơm rạ em
hôn đến tận cùng con gái quê mùa em
như Chí Phèo ngấu nghiến da thịt trong veo Thị Nở
vườn chuối nhà em đua nhau trỗ buồng ra trái
những câu thơ không phấn son ngạo nghễ chào đời

3.
Gục đầu lên máy vi tính
tôi thèm đứt ruột
được làm ngọn gió không đồng phục
không điện thoại
không internet
bay về mái tranh vách đất của mẹ
bay về phía vô danh
bay về phía vô thanh
bay về phía vô manh
bay về phía vô tặc
hoá con sáo sậu bước thấp bước cao bập bẹ nói cười… cậc cậc cậc
hoá con mèo mun tủng tẳng tùng tăng tung tẩy khắp vườn
hoá con cóc hiền triết bó gối im ỉm ìm im lắng nghe
trên những gò hoang hoàng hôn hoa dại khẽ hương
trong mỗi ngôi nhà nửa đêm chõng tre kẽo kà kẽo kẹt
mặt trời khát khao mỏi mắt căng mình
rình
ngượng nghịu
cười
toả năng lượng giới tính
bình minh

Ngọn gió ngang tàng
mang đầy cơn đau hy vọng thiếu phụ mùa sinh nở
mang đầy tiếng khóc dự cảm trẻ thơ
mang cả tiếng chim trinh nữ hoá thân từ kiếp trước
rẽ nụ cười tươi nắng ban mai
bay về nguyên thuỷ ước mơ không mầm móng hận thù tận thế.

PHAN HOÀNG



NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU