Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019

NGÔ THUÝ NGA & NỐT LẶNG ƯU TƯ CỦA NGƯỜI THƠ TRẺ

Vừa rồi Ngô Thuý Nga tặng tôi tập thơ vừa mới in xong. Đây là lần đầu tiên tôi đọc Ngô Thuý Nga qua Nốt lặng (NXB Hội Nhà văn TP.HCM 2015) của nhà thơ trẻ này vốn trước đây được biết đến là cây bút viết văn xuôi.
Nhà thơ Ngô Thuý Nga ở thác Mai - Đồng Nai

Phải nói rằng Nốt lặng là tập thơ về những thân phận, tâm tư, cảnh đời có những điều gì đó của lãng mạn trêu đùa tình yêu cứ trôi qua đời con gái của mình hay của ai đó mà người viết bày tỏ sự tình. Ngôn ngữ của Ngô Thuý Nga trong tập thơ này nó lãng du và bồng bềnh cảm xúc:

Cũng chỉ là nốt lặng tuổi hai mươi
Cũng chỉ là những cào xé trong lòng người con gái
Mang những nỗi niềm đi hoang
Mang những rỗng rễnh cuộc đời về làm nơi nương tựa
Bởi đứng đâu cũng thấy mình thừa

                                    (Thơ tặng người dung)

Nhà thơ đã đốt cháy nỗi niềm trong sự tuột tay và chỉ có người dưng ấy mới được tặng cái phần quà của nỗi đau rồi cũng nhạt ở người con gái. Thân phận và nỗi niềm hoang hoải là nốt lặng buồn, đã cào xé trong tâm can đày đọa. Sao người dưng lại làm khổ nhau thế nhỉ?

Ngồi trên vũng nắng chớm đông
Gió xõa tóc lên chiều rũ rượi
Em đưa bàn tay hong mùa
Sờ lên trái tim chông chênh nỗi nhớ
                         
           (Quên cài cửa vô thường)
    
Thế mà câu thơ vẫn chông chênh nỗi nhớ, quả là điều kỳ lạ trong yêu đương. Ngô Thuý Nga đã sử dụng ngôn ngữ của người trẻ đương đại viết lên hoàn cảnh chiều rũ rượi, trong tâm tư nghĩ về phía ấy mà không ủy mỵ. Với tình yêu ngày nay và cách gieo lên những con chữ thực tiễn đời thường, mà người đọc và viết lớp đi trước chưa có được:

Có đôi lần anh vén váy em làm gối
Ngủ vùi sau cơn say hư ảo đời người
Đêm vẫn ngọt
Anh vẫn say
Em đi về rất vội

              (Phố núi ngọt)
Tập thơ Nốt lặng của Ngô Thuý Nga

Nếu có thì rất ít, mà họ vẫn đắn đo cho tròn trĩnh ngôn từ. Người trẻ bây giờ đã xa đi những ràng buộc của niêm luật thường tình, tìm đến cái mới lạ nhưng vẫn rất thơ:

Đàn bà có khi như cơn bão
Cuồng điên xé lòng mình đổi lấy an nhiên cho những điều không thật
Cấu rách bản năng để nắm tay người chơi trò cút bắt
Già mất một cuộc tình vừa bắt đầu những vết son

                                      (Ngược sáng)

Hình như thơ Ngô Thuý Nga trong Nốt lặng là những mất mát trong tâm hồn người con gái như lời ru buồn cứ chực chờ vỡ òa ở con tim bé nhỏ:

Ta lặng im bên nhau
Em trệu trạo nhai bóng đêm đổ ập bên song cửa
Đáy mắt anh rơi giữa khoảng trống hai chỗ ngồi chưa kịp ấm
Ta trầm ngâm
Nghe thinh không vỡ òa

Em cởi áo mình trả áo cho anh…

                       (Trả áo cho anh)
     
Nỗi buồn ấy còn thể hiện ở những bài thơ như Giấc mơ không màu: “Người đàn ông có dĩ vãng già nua /Có muôn ngàn mặt nạ khiến em nhìn vào đâu cũng thấy mình như vỡ”; rồi: Em lật tung ký ức tìm một cái ôm dài/ Chỉ nhìn thấy khoảng trống mênh mông còn sót lại (Nhặt mưa làm nước mắt); và:

Cắn đôi sợi tóc sót lại trên gối
Mới biết mình ảo vọng
Giữa nỗi buồn màu huyết dụ bẻ cong. 

                   (Nỗi buồn màu huyết dụ)
  
Không thể kể hết nỗi niềm trong Nốt lặng của nhà thơ được. Hình như nhà thơ đã và đang trải qua nỗi niềm trước sóng gió cuộc đời mà âm điệu, cấu tứ của những bài thơ cứ canh cánh một nét buồn rong ruổi.

Em hoang vỡ chỗ nằm thiếu bóng anh thao thức
Chiếc chăn bông chẳng ấm nỗi đêm dài

                                        (Cho anh)

Đọc Nốt lặng của Ngô Thuý Nga ta thấy một nỗi ưu tư của người thơ trẻ, như thấy cái vô tư buồn của yêu đương lứa đôi mà nhận cho riêng mình nốt lặng cuộc đời. Nốt lặng của Ngô Thuý Nga là cung trầm của đời sống yêu thương với bút pháp dìu dặt và những cái mới của ngôn ngữ, thi ảnh, làm nên một nét riêng của cô. Nốt lặng cũng nên dừng ở đây vì lẽ đời cần nhiều niềm vui và hạnh phúc và biết cất đi nỗi buồn. Có lẽ mai sau đọc Ngô Thuý Nga, tôi hy vọng niềm vui sẽ được nhân lên bởi những nốt son dịu vợi đang chờ phía trước.

NGUYỄN VŨ QUỲNH
Nguồn: NVTPHCM




Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

NHÀ VĂN THANH GIANG CỦA QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI

“Trong bảo tàng Bến Tre Đồng khởi, Thanh Giang dừng rất lâu trước các hiện vật, một mảnh đạn, một cây chông, một lưỡi mác, một chiếc lược bằng kim loại, chiếc bi đông méo mó… dường như ông đang tìm về với những đồng chí đồng đội mình, với những bà má Bến Tre sẵn sàng hy sinh đứa con cuối cùng của mình cho cách mạng. Đó là mạch nguồn đã nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo của ông.”
Nhà văn Thanh Giang

Nhà văn quân đội Thanh Giang quê ở xứ dừa Bến Tre, quê của nữ tướng anh hùng Nguyễn Thị Định cùng đội quân tóc dài xuất quỷ nhập thần đã làm nên một Dáng đứng Bến Tre ngày Đồng khởi. Các sáng tác văn học của Thanh Giang đậm chất Nam Bộ, nơi ông từng cầm súng. Đó là những: “Dòng sông nước mắt”; “Vùng tranh chấp”; “Khúc chuông chùa”; “Rừng hát”; “Lửa hương rừng dừa”; “Sóng Hàm Luông”… Trong các sáng tác của ông, dù là thơ, kịch hay văn xuôi, thì hình ảnh người lính nơi ông chiến đấu và công tác đều hiện lên rất quả cảm, chân tình nhưng cũng thật đời thường, dung dị.

Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại chiến trường “Miền Đông gian lao mà anh dũng” ông được biên chế về Cục Chính trị Quân giải phóng Miền Nam với nhiệm vụ trợ lý văn nghệ, đã cùng các nhà văn Võ Trần Nhã, Minh Khoa làm tờ Văn nghệ Quân giải phóng những số đầu tiên. Sau đó nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn, rồi sau nữa là Nguyễn Trọng Oánh, Triệu Bôn, Nam Hà… Có thể nói những ngày ở Văn nghệ Quân giải phóng là những ngày đẹp đẽ, trẻ trung, sôi nổi nhất của nhà văn Thanh Giang. Những ngày đó, ông đã viết những tác phẩm đầu tiên: “Một tên sen đầm Hoa Kỳ”, “Đánh trong lòng địch”… Với tư cách một biên tập viên, một phóng viên mặt trận, một nhà văn chiến sĩ, Thanh Giang đã cùng bộ đội tham dự các chiến dịch Bình Giã, Bàu Bàng, Sài Gòn-Mậu Thân 1968… Ông từng “Vượt đồng chó ngáp”, băng lộ 4 “Con lộ bạc đầu”, vượt Cửu Long Giang “Con sông giảm kỷ”… Ông từng đột ấp, công đồn, chống càn… rồi làm rẫy, săn thú, hái rau, đào củ rừng, xuống sông, ra suối bắt cá cải thiện. Những trái dừa xiêm mát ngọt đã bao đời nuôi người dân xứ dừa Bến Tre Đồng khởi. Đã bao nhiêu trái dừa được hái xuống nuôi bộ đội, nuôi niềm tin và hy vọng mà hôm nay nó vẫn thơm thảo ngọt lành. Ông Năm, cái tên thân thương mà bà con chòm xóm dành cho Thanh Giang đã nói lên tình đất, tình người ở đây sâu đậm biết chừng nào. Thanh Giang đã có vài chục tác phẩm bao gồm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Tiêu biểu như: Bông súng đỏ; Chiến trường sống và viết; Cô biệt động; Dòng sông nước mắt… Đặc biệt là tiểu thuyết Khúc chuông chùa viết về các chiến sĩ biệt động Sài Gòn, một tiểu thuyết hay nhất trong đời văn Thang Giang. Ông cũng có những kịch bản phim chất lượng về chiến tranh, từng được nhiều giải thưởng Văn học của trung ương và địa phương. Sau bộ phim “Đêm Bến Tre” (ông là tác giả kịch bản văn học mang tên: Lửa hương rừng dừa, được giải B - không có giải A của Tổng cục Chính trị), năm 2005 ông hoàn thành tiểu thuyết Sóng Hàm Luông khá dày dặn, bề thế. Đây là cuốn tiểu thuyết ông viết để “Kính dâng hương hồn nữ tướng Anh hùng Nguyễn Thị Định cùng đồng bào đồng chí Bến Tre đã anh dũng ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng”. Tác phẩm gần 600 trang này nằm trong chương trình đầu tư sáng tác viết tiểu thuyết sử thi của Bộ Quốc phòng.

Trường phổ thông trung học Nguyễn Văn Tư, nơi cậu bé Thanh Giang từng theo học để rồi lớn lên thành chiến sĩ, thành nhà văn cách mạng, một ngày đầu tháng 5-2009 rưng rưng đón người lính già trở về. Những cô bé cậu bé đang nô đùa kia rồi ai sẽ trở thành chiến sĩ, nhà văn? Ông đứng nhìn những tươi non hôm nay với dáng điệu và xúc cảm khó tả của một người từng đi qua biết bao cơ cực. Nhìn ông lúc ấy mới thấy hết ý nghĩa của những chiến thắng, những hy sinh của nhiều thế hệ mà trong ấy ông là một đại diện. Dưới bóng tượng đài Chiến thắng Đồng khởi-Bến Tre, ba thế hệ gia đình nhà văn đứng lặng trước những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh, máu xương của một thời. Ông im lặng rất lâu trước những hàng bia liệt sĩ khuyết danh. Trong cái nắng xứ dừa, mái đầu trần đốm bạc của nhà văn khe khẽ rung lên. Ông dừng lại rất lâu trước những hàng chữ thẳng tắp trên tấm bia đá hoa cương màu xám. Phải đến khi người cháu nhắc, ông mới chậm chậm bước từng bậc vào khu bảo tàng. Trong bảo tàng Bến Tre Đồng khởi, Thanh Giang dừng rất lâu trước các hiện vật, một mảnh đạn, một cây chông, một lưỡi mác, một chiếc lược bằng kim loại, chiếc bi đông méo mó… dường như ông đang tìm về với những đồng chí đồng đội mình, với những bà má Bến Tre sẵn sàng hy sinh đứa con cuối cùng của mình cho cách mạng. Đó là mạch nguồn đã nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo của ông. Để rồi, ở cái tuổi tám mươi, lão nhà văn vẫn cầm chắc cây bút, như là cây súng của mình.

PHÙNG VĂN KHAI
Nguồn: VNQĐ


TRƯƠNG GIA HÒA - THÊM MỘT LẦN DỊU DÀNG THẮNG THẾ

Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh vừa công bố giải thưởng văn chương năm 2017. Nằm trong danh sách 6 tác phẩm được tặng thưởng có “Đêm nay con có mơ không?”, tập tản văn mới ra mắt hồi tháng 8 vừa qua của nữ tác giả sinh năm 1975 Trương Gia Hoà.
Nhà thơ Trương Gia Hòa

Phải khẳng định đây không phải là giải động viên, an ủi cho một người vừa thoát bệnh ung thư. Bản thân tác giả Trương Gia Hòa cũng không muốn nhắc nhiều đến câu chuyện này, bởi: “Tôi mắc ung thư dạng nhẹ nhất. Đây là một điều may mắn chứ không phải kỳ công gì của tôi”. Chị cho biết, “Đêm nay con có mơ không” là tập tản văn đầu tiên của chị. Song về thời điểm sáng tác thì cuốn tản văn thứ hai “Sài Gòn thềm xưa nắng rụng” và cuốn thứ nhất “Đêm nay con có mơ không” là như nhau, “chẳng qua tôi chia nó ra thành hai cuốn theo đề tài”. Đây là tập hợp những bài viết đã từng in rải rác trên báo của chị. Trước khi in hai tập tản văn, Trương Gia Hòa từng ra cuốn thơ “Sóng sánh mẹ và anh” cũng dạt dào nữ tính: “Sóng sánh thơ/ Sóng sánh đời/ Em thả mình vào muôn ngàn sao/ Con thuyền đầy ắp tiếng khóc...”.

Đề tài “ăn khách”: Gia đình

Nói đến sự nhẹ nhàng, dịu dàng có thể nhắc đến tản văn Xuân Diệu về loài hoa được ông đặt tên “hoa học trò”: “Vừa buồn, mà lại vừa vui mới thực là nỗi niềm bông phượng. Hoa phượng là hoa học trò. Mùa xuân, phượng ra lá. Lá xanh um, mát rượi, ngon lành như lá me non. Lá ban đầu xếp lại, còn e ấp, dần dần xòe ra cho gió đưa đẩy. Lòng cậu học trò phơi phới làm sao!”. Tản văn Trương Gia Hòa không hấp dẫn ở mặt câu chữ như tản văn Xuân Diệu nhưng về sự dịu dàng lại không kém. Chị không đi vào đề tài mơ màng như Xuân Diệu mà đi vào một đề tài đang vô cùng “ăn khách” trên nhiều lĩnh vực văn nghệ: Đề tài gia đình. Trương Gia Hòa viết về những người sống quanh ta và ít nhiều kèm theo sự định hướng, khuyên bảo. Mặc dù thế người đọc vẫn dễ dàng chấp nhận, bởi lời khuyên từ tâm khác với mệnh lệnh. Thí dụ chị nói với con trai: “Khi không biết được ngày mai ta sẽ thế nào thì hôm nay, đừng giận hờn ai con nhé. Hãy sống thật vui vẻ. Con cứ cười khi thấy vui và hãy cười cả khi lòng tan nát (…). Thành phố đang bắn pháo hoa. Mẹ con mình hãy cùng lưu giữ những khoảnh khắc rực rỡ của bầu trời đêm hôm nay cho 364 ngày sau nữa. Để làm gì con biết không? Để ít ra, khi mặt đất vẫn lắm chông gai thì chúng ta vẫn còn một bầu trời lấp lánh”.

Tản văn “Đêm nay con có mơ không?” thu hút độc giả ngay từ khi mới phát hành. Có lẽ người ta thèm những điều dung dị, ấm áp tìm thấy trong sách. Hầu như tất cả các thành viên trong gia đình ở nhiều thế hệ đều được tác giả “chăm sóc” ngọt ngào: “Nội mãi mãi không ngồi đó nhìn mình mặc cái quần jeans ôm sát hai ống chân rồi tưởng tượng, rủi mà có con kiến nó chui vô thì cách gì mà bắt nó ra… Nội mãi mãi không ngồi đó để chỉ mình cách làm món bột gạo lá mít, cách làm bánh đúc có xương… những món mình đã ăn mòn răng mà cứ lần lữa không chịu học cách làm, vì ỷ lại. Từ nay có thèm bất tử thì cứ ngồi đấy mà chép miệng bùi ngùi”. Hay “những chiếc lá của bà thơm. Thơm ngọt ngào suốt hành trình tuổi thơ tôi. Thơm bâng khuâng cho đến tận bây giờ. Và, thơm dịu dàng cho cả những ngày mai”.
Nhà thơ Trương Gia Hòa và gia đình 
tại buổi ra mắt sách “Đêm nay con có mơ không?”

“Đêm nay con có mơ không?” đích thị là một tập tản văn do đàn bà viết, dành trước hết cho đàn bà. Chỉ có phụ nữ mới hay nói tới chuyện dọn nhà, từ chuyện dọn nhà lại nghĩ sang những câu chuyện khác: “Bạn dọn nhà và bạn gặp lại một quãng đời rất sến của mình rồi thổn thức bồi hồi. Chuyện lặp lại năm này qua năm khác rồi có khi bạn tự hỏi, cuộc đời mình nếu không có những khoảnh khắc thế này thì có khi nào sẽ vui hơn không. Chứ quá khứ, nhìn lại mỉm cười nhưng lắm khi chùng lòng quá đỗi”. Chừng 40 tản văn trong 200 trang sách cứ dịu dàng, thủ thỉ như thế, ngay đợt đầu đơn vị phát hành “Đêm nay con có mơ không” đã mạnh dạn tung ra 3 ngàn cuốn. Với thể loại tản văn, với một tác giả chưa quen tên như Trương Gia Hòa, đây cũng có thể coi như một sự “liều nhẹ”.

Sẽ trở lại bình yên hơn

Trương Gia Hòa vốn là sinh viên văn khoa, Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. Chị từng là biên tập viên nhà xuất bản, sau đó trở thành nhà báo chuyên mảng tiêu dùng của một tờ báo ở Sài Gòn. Khi tờ báo này đóng cửa, chị lại “dạt” sang một tờ báo có tiếng khác. Những trang tản văn  phần đa được sinh nở trước khi chị trở thành nhà báo. Ở thời kỳ  dồn tâm huyết cho báo chí  không may chị gặp trọng bệnh. Suốt hai năm rưỡi Gia Hòa ra, vào viện liên tục để lo chữa trị, chị xin nghỉ hẳn việc. Nhưng trong lúc dưỡng bệnh chị lại bày ra may vá, may ga gối, may thú nhồi bông… bạn bè đồng nghiệp ủng hộ, ai cũng khen chị may tỉ mẩn, khéo léo. Trương Gia Hòa tâm sự: “Vì rảnh nên chăm chút cho từng sản phẩm may. Bấy giờ mình không đi làm, không có thu nhập, nên nếu mình kiếm được 1/10 thu nhập bằng công việc may vá thì cũng gắng kiếm, để thấy mình không vô dụng”.

Gia Hòa sinh ra trong một gia đình không ai theo nghiệp văn chương: “Ba mẹ khi xưa là giáo viên, hạnh phúc chuẩn mực, đại gia đình rất tình cảm, thương yêu nhau. Đó là một gia tài”. Cuộc sống riêng có những biến cố và tuổi thơ êm đềm, có lẽ là một trong những lí do khiến “Đêm nay con có mơ không?” mang màu sắc trong sáng, hướng thiện.

Sau đây Trương Gia Hòa sẽ tạm ngưng viết văn. Với chị, “văn chương cứu rỗi tâm hồn nhưng cơm áo gạo tiền và cuộc sống hiện thực rất khắc nghiệt nên tôi giữ văn chương như một nẻo riêng tư của mình”. Lý do chị tạm ngưng viết, bởi lo “nếu viết ngay sẽ giống như hai cuốn tản văn đã ra mắt”. Chị hứa hẹn “cuốn sách trở lại của tôi sẽ là tinh thần khác, năng lượng khác nhưng chắc chắn bình yên hơn, sâu sắc hơn”. Giống như cuộc sống bây giờ của chị “tôi lao động hàng ngày để đủ tiền đi chợ thôi. Nhưng qua bao sóng gió tôi thấy mình thanh thản”. Và Trương Gia Hòa cũng không định đóng đinh với tản văn, trong tương lai chị chọn thể loại văn học nào còn tùy thuộc nhu cầu chuyển tải điều chị muốn nói tại thời điểm ấy.

ĐÀO NGUYÊN
Theo Tiền Phong



Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

CHIỀU MƯA ĐỌC “MỘT NGÀY KHÁC TA” CỦA ĐÀO AN DUYÊN

Một ngày mưa Pleiku. Mưa cả tháng rồi. Chiều lơ đễnh lôi một cuốn sách ra đọc để... giết mưa. Thế mà rồi bị ám ảnh, mà cứ trôi theo những câu thơ của Đào An Duyên trong tập thơ nhỏ tôi vô tình cầm trên tay lúc này: Một ngày khác ta.
Nhà thơ Đào An Duyên

Là bởi thế này, tôi quen cô bé này đã lâu, thấy cô ấy chập chững viết, có đọc và rồi... quên. Chả hiểu sao có hồi Gia Lai có rất nhiều cây bút trẻ xuất hiện, ồn ào có, lặng lẽ có, văn đàn tưng bừng như đây đang chuẩn bị là... trung tâm văn chương. Mà có thế thật, kỳ nào đại biểu được chọn đi dự hội nghị văn trẻ toàn quốc thì Gia Lai cũng chiếm số lượng đông nhất. Nhưng văn chương có những quy luật khắc nghiệt của nó, để những gì còn lại nó là những thứ tinh túy thứ thiệt, còn phù du, còn ảo ảnh, còn bong bóng xà phòng... thì sẽ tan đi dưới mặt trời thôi. Và trong cái náo nhiệt phù du một thưở ấy, Đào An Duyên lặng lẽ đứng bên, an phận một cô giáo dạy văn cấp 2, thi thoảng viết chút, như là một cách nhắc mình có biết... văn chương.

Thế rồi, chả hiểu sao, chỉ mấy năm nay, ào ạt viết. Năm 2016 in tập Ngày đã qua, tập thơ đầu tay và được ngay cái giải khuyến khích của liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, và năm nay ra tiếp Một ngày khác ta, tập thơ khiến ta có thể đọc một mạch không dứt.

Đây là tập thơ nghĩ nhiều. Làm thơ giờ, hoặc là rất hời hợt, hoa lá cành, tâm trạng, buồn vui vu vơ, hoặc là nghĩ như triết gia, cứ toàn lý tính chả thấy cảm xúc đâu. Chả ai cấm, nhất là thời buổi ai cũng mần thơ được, làm thơ trên điện thoại, post trực tiếp lên facebook rồi đủ vài chục bài, cũng in một tập, cũng ì xèo quảng cáo, chả thua gì ai. Đào An Duyên khác, giữ được mạch cảm xúc trữ tình trong trẻo, nhưng vẫn đậm suy tư, vẫn đau đáu với những vấn đề quanh mình, cũng chả hẳn là to tát lắm, nhưng những suy nghĩ trong thơ nó chứng tỏ người viết trưởng thành và có trách nhiệm xã hội, và vì thế mà có sự lan tỏa “Ta  giấu niềm đau vào cỏ/ Cỏ giấu nước mắt vào xanh/ Đi đến ngọn nguồn lau lách/ Đau xưa chưa chỗ giấu mình...” (Với cỏ). “Tháng giêng/ Em vẫn ngồi cạnh những chiều lam khói/ Dòng sông cong vào tháng giêng lưng ong/ Người như chiếc lá vừa nở vào mùa xuân non xanh rừng biếc/ Thương em tự cháy trẻ trai” (Ý nghĩ tháng giêng).
Tập thơ Một ngày khác ta” của Đào An Duyên
         
Cảm xúc cá nhân tất nhiên là hết sức quan trọng của người làm thơ, nhưng nếu không biết tiết chế và “phân bổ” thì nó chỉ đậm đặc cái tôi loanh quanh. Khai thác hết cái tôi được cũng là tốt, nhưng đa phần lại không được thế nên một số tác giả cứ bị cái cảm giác loanh quanh tù túng. Đào An Duyên vượt qua được điều này. Chị có mẹ chia sẻ. Người mẹ quê tần tảo “Con ngủ giấc thị thành mơ bông lúa uốn câu/ Mẹ thắt đáy lưng ong ngồi quạt cho cha mắt ngời hạnh phúc/ Tháng mười về. Dòng sông hiền hòa uốn lượn/ Con soi mình. Soi một giấc mơ xanh” (Mơ giấc trong xanh). Có người cha cựu chiến binh, có vùng quê in đậm tuổi thơ, và có hiện tại. Đây là Pleiku nơi chị đang sống, quen lắm, nhiều người viết lắm, nhưng vẫn riêng, qua chị: “Sương mù ngàn năm trước/ Hẹn dốc ngàn năm sau” (Chiều Pleiku). Cũng như thế, nhiều địa danh khác, nổi tiếng rồi, vào thơ chị vẫn thấy mới, bởi chị chịu khó tìm. Mà cũng không hẳn đã chịu khó, mà cái sự tinh tế, cái sự luôn suy ngẫm, luôn chắt bóp cảm xúc khiến nó... mới “Tựa mình vào dốc vắng/ Chiều gầy như hạc bay/ Chuyện xưa xa vời vợi/ Buồn mãi tận hôm nay” (Với Đà Lạt 3). Giờ nhiều người viết đến đâu là có thơ đấy, cách dễ nhất là... liệt kê địa danh. Thoát ra được điều ấy, tìm ra đặc trưng, bày ra được cảm xúc và phát hiện được hình ảnh mới, ấy mới gọi là thành công.
           
Thơ tình của Đào An Duyên cũng có dấu ấn. Nó không náo nhiệt, cũng không hừng hực. Không cô đơn lạnh lẽo cũng không ân hận trách móc. Nó là trách nhiệm, là chiêm nghiệm, là sự chừng mực nhìn người và nhìn mình, nhưng mà vẫn cứ là thổn thức, vẫn cứ khiến đọc xong ta thấy như... được yêu “Cộng mình vào khuya khoắt/ Thấy thừa ra thật nhiều/ Bàn tay dư dôi thật/ Mãi quờ vào quạnh hiu...” (Cộng). “Em đã đèo cao vực sâu/ Tự vừa vặn mình thác ghềnh đá núi/ Mềm như sông như suối/ Cứng như mầm cây vừa vặn nảy vui buồn/... Em như con bồ câu gù thật nhẹ sợ cả lá rơi/ Để vừa vặn tiếng mưa anh/ Nhưng sao tiếng gù em đau/ Trong tiếng mưa buốt xót” (Vừa vặn em). Cũng có nỗi đau, nhưng nỗi đau như một tiếng thở dài cố nén. Và vì thế mà nó buồn, nỗi buồn đầy chất thơ chứ không lồng lộn hoặc héo quắt “Đừng nhìn mãi cánh cửa ngày đã khép/ Lòng buốt đau. Tiếc một sợi dây gàu/ Em không thấu giếng lòng người thăm thẳm/ Chạm tay vào. Chỉ mùa cũ tươi nguyên./ Tháng mười về lòng như câu thơ bỏ quên/ Câu thơ anh viết ngày chúng mình hạnh phúc/ Câu thơ còn rưng rưng nét mực/ Mà chúng mình xa nhau như mùa ngâu” (Sót lại một chiều ngâu).
           
Đào An Duyên biết sử dụng một cách tài hoa chữ, hình ảnh và tiết chế được cảm xúc để nó nén lại chứ không tãi ra khiến người đọc nhàm. Không phải người viết trẻ nào cũng làm được điều ấy. Chị có nghề và ý thức được việc sử dụng nó để thể hiện trong từng bài thơ nhằm triển khai hết được ý tưởng cũng như cảm xúc của mình, để vừa chặt chẽ mà lại vẫn tung tẩy, không thừa không thiếu. Có những câu thơ rất gợi như ba câu kết của ba khổ thơ trong một bài: “Gầy như sợi tơ vừa non”, “Mùa đông từ đó, một mình”, “Trút hết lá gầy. Mùa đông” (Mùa đông), nó tạo nên một ám ảnh mùa đông rất đặc trưng, rất lan tỏa.

Còn nhiều điều để viết về tập thơ này và cô nhà thơ trẻ này, nhưng tôi nghĩ, cũng như nhiều người khác, đây mới chỉ là những bước đầu. Ngay ở Pleiku này thôi, giờ đây, cũng đã có một số tưng bừng một thưở xếp cánh đâu đó. Đọc câu chữ một thời cứ thấy vang vang giờ như giấy bản gặp mưa Tây Nguyên. Và vì thế mà tôi tin, những lặng lẽ, có phần khép nép, nhưng đầy năng lượng, đầy sáng tạo, đầy đam mê nhưng biết tiết chế của Đào An Duyên sẽ hứa hẹn một cây bút dài hơi của Tây Nguyên, đủ sức đi qua mưa qua nắng Tây Nguyên và cả sự khắc nghiệt sàng lọc của văn chương...

VĂN CÔNG HÙNG
Nguồn: Văn Nghệ số 34/2018

_______________________

Nhà thơ Đào An Duyên sinh ở Thái Bình, hiện là giáo viên ở thành phố Pleiku, Gia Lai.
Hội viên Hội VHNT tỉnh Gia Lai.

Tác phẩm đã xuất bản:

Ngày đã qua (thơ), NXB Hội Nhà văn 2017
- Một ngày khác ta (thơ), NXB Hội Nhà văn 2018

Giải thưởng văn học:

- Giải thưởng Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam 2017


XIN ĐỌC THÊM:


NHÀ VĂN TRẦN KIM TRẮC - ĐẠI THỤ CỦA VĂN CHƯƠNG NAM BỘ QUA ĐỜI

Theo thông tin từ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, nhà văn Trần Kim Trắc đã qua đời vào ngày 17-11-2018 tại nhà riêng trên đường Cống Lở, phường 15, quận Tân Bình. Tuy nhiên, vì lý do riêng nên gia đình không phát tang; vậy nên công chúng mới được thông báo cách đây hai ngày.
Nhà văn Trần Kim Trắc

Khi hay tin nhà văn Trần Kim Trắc, một trong những đại thụ của văn chương Nam bộ đã qua đời, hầu hết những người yêu mến ông đều không tránh khỏi cảm giác bất ngờ. Nhà văn Trần Kim Trắc sinh năm 1929 tại Chợ Gạo, Tiền Giang. Ngoài tên thật, ông còn sử dụng bút danh NT và Trần Kim dưới những tác phẩm của mình. Sự nghiệp văn chương của nhà văn Trần Kim Trắc được bắt đầu từ lúc ông 25 tuổi với truyện ngắn đầu tay được đăng báo là truyện Cái lu, đạt giải nhì giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam ngay sau đó.

Dù đến với văn chương khá muộn nhưng nhà văn Trần Kim Trắc có một quá trình lao động văn chương chăm chỉ và đều tay. Ông có nhiều tác phẩm đã xuất bản như: Cái lu(truyện ngắn, 1954), Cái bót (truyện ngắn in chung, 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung, 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn, 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết, 1996), Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn, 1997), Học trò già (truyện ngắn, 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn, 1998),  Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn, 1999)…

Nhà văn Trần Kim Trắc từng đạt các giải thưởng như: giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1954 với truyện ngắn Cái lu, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 với tập truyện ngắn Ông Thiềm Thừ.
Nhà văn Trần Kim Trắc bên người vợ của mình

Đặc biệt, vào năm 2012, lúc đó đã bước sang tuổi 83 nhưng nhà văn Trần Kim Trắc vẫn cho thấy sức lao động bền bỉ và dẻo dai bằng việc tham dự cuộc thi viết truyện ngắn chủ đề “Con người và cuộc sống hôm nay” do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức. Truyện ngắn Sài Gòn đắc địa của ông đã đạt đồng giải nhì (không có giải nhất) cùng với nhà văn Trương Anh Quốc.

Vào tháng 11-2015, với những giá trị quan trọng mà văn chương Trần Kim Trắc mang lại, NXB Trẻ đã ký hợp đồng mua bản quyền trọn đời tác phẩm của ông. Theo đó, bắt đầu từ tháng 11-2015, đơn vị này độc quyền sử dụng 19 tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc với khoản phí trả trước là 100 triệu đồng cùng số tiền nhuận bút trên mỗi tác phẩm được xuất bản, không tính phần trả trước. Ngoài ra, trong hợp đồng có điều khoản: sau khi nhà văn qua đời, gia đình ông tiếp tục hưởng nhuận bút các tác phẩm của ông do NXB Trẻ ấn hành.

Ông Nguyễn Minh Nhựt, Giám đốc NXB Trẻ chia sẻ về lý do mua bản quyền trọn đời tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc: “Nhà văn Trần Kim Trắc là một trong những nhà văn lớn, viết rất nhiều tác phẩm trong đó có nhiều tác phẩm viết về Nam Bộ cũng như viết về giới trẻ. Về mặt văn tài, ông là nhà văn lớn nhưng thái độ, lối sống của ông rất khiêm tốn, là bài học lớn đối với người làm nghề. Xuất phát từ những vấn đề đó, NXB Trẻ có một nguyện vọng đề đạt xin mua tác quyền trọn đời bộ tác phẩm của ông. May mắn thay NXB Trẻ được ông đồng ý giao quyền”.

Trước sự ra đi của nhà văn Trần Kim Trắc, ông Nguyễn Minh Nhựt không giấu được xúc động: “Tôi và các cán bộ, nhân viên của NXB Trẻ đều rất buồn khi những đại thụ đã từng gắn bó với NXB Trẻ lần lượt đã ra đi như nhà văn Sơn Nam, nhà văn Trang Thế Hy rồi lần này là nhà văn Trần Kim Trắc. Phía NXB không biết nói gì hơn ngoài sự chia buồn gửi đến gia đình nhà văn. Chúng tôi sẽ cố gắng chăm chút, xuất bản để những tác phẩm của ông sẽ còn ở lại với nhân gian, phục vụ độc giả”.

HỒ SƠN
Nguồn: SGGP

XIN ĐỌC THÊM:



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

NHÀ THƠ THANH THẢO VỚI “LOÀI THƠ QUÝ HIẾM”CÓ TÊN TRƯỜNG CA

Có lẽ khó mà có tác giả trường ca đương đại nào sánh được với nhà thơ Thanh Thảo về mặt bề dày sáng tác cũng như chất lượng của trường ca - một thể loại được coi là “loài thơ quý hiếm” cần đưa vào sách - đỏ - văn - chương. Cứ dăm năm miệt mài trong lặng lẽ, thể nào Thanh Thảo cũng lại có thêm một trường ca mới.
Nhà thơ Thanh Thảo

Trên con đường tìm kiếm cái mới, nhà thơ Thanh Thảo không bao giờ là người ngoài cuộc. Trong khi anh đang trăn trở thể nghiệm thì không ít người chỉ muốn anh quay trở lại với những giá trị đã làm nên tên tuổi của anh thời chiến tranh. Nhưng Thanh Thảo không chịu ngủ quên trên thành tựu của những giá trị cũ.

Bằng tài năng thơ và một nỗ lực không chịu bất lực của mình, mấy chục năm qua, Thanh Thảo vỡ vạc chính anh ở mảng đời sống tâm trạng của một người lính đã thấm đẫm nỗi đau trận mạc và mảng đời sống thơ đích thực trước đây anh chưa có thời gian khai phá. Tôi cho rằng trong con - người - thơ của Thanh Thảo, một nội lực sáng tạo lớn luôn thôi thúc anh, luôn cày xới anh, luôn vắt kiệt anh ở những bến bờ mới.

“Chân đất” là trường ca thứ 10 của Thanh Thảo. Trường ca này độc đáo bởi nét nghĩ, nét suy tưởng, nét cấu trúc ngôn ngữ thi ca của riêng anh đã quật vác lên những nét thơ mới như những người nông dân tay trắng, chân đất ở Quảng Ngãi quê anh đã vác đá xây nên Trường Lũy tự thủa nào.

Không hiểu vì sao, tôi chợt liên tưởng, cái nguồn mạch trường ca dồi dào và sâu lắng của Thanh Thảo có thể cũng đã bắt nguồn từ mạch sống trường tồn của dãy Trường Lũy nơi quê hương anh vì “Địa linh thường sinh ra nhân kiệt”. Và, nếu không sinh ra ở miền đất nghèo khó mà quật khởi ấy, không được nuôi dưỡng bởi nhân dân hào hùng và đau thương ấy thì làm sao Thanh Thảo có thể viết được những trường ca như: “Những người đi tới biển”, “Trẻ con ở Sơn Mỹ”, “Những ngọn sóng mặt trời”, “Khối vuông ru-bích”, “Đêm trên cát”, “Metro”…

Lần này, bằng trường ca “Chân đất”, Thanh Thảo đã hướng chúng ta vào một hệ - quy - chiếu thi ngữ mới với cấu trúc của các chương như các “Chân…Thơ” thật độc đáo, găm vào trí giác người đọc, từ “Chân tre” tới “Chân ruộng”, từ “Chân mưa” đến “Chân núi”, từ “Chân cò”, “Chân tháp”, “Chân mây” tới “Chân sóng”, “Chân lũy”.

Và, từ những đường nét kiến trúc khá đặc biệt ấy, anh dựng nên ngôi nhà trường ca “Chân đất” theo giọng điệu riêng mà Thanh Thảo dành cho tập thơ này: Uyên thâm mà phóng túng, dân dã mà hiện đại, tối giản mà sâu sắc, bình dị mà đa dạng… Nếu ở “Chân tre”, anh thầm gọi đất đai máu thịt: “Quê hương ơi làm sao tôi sống/ thiếu Người/ làm sao tôi thành một bóng cây/ nho nhỏ/ nếu trước nhà tôi, ngoài ngõ/ không rậm rì rậm rịt một bóng tre” thì ở “Chân ruộng”, anh phác thảo chân dung cuộc đời: “Người già quê tôi/ tuổi ngót trăm ngày tăm xị rượu/ lưng còng song song mặt đất/ dáng thảnh thơi như một chiếc tàu bay/ bay chậm chậm qua mây mù u uất”.

Khi ở “Chân mưa”, Thanh Thảo cảm nhận đau đáu về mẹ: “những dấu chân mưa bờ tre phấp phỏng/ bóng bóng phập phồng/ tôi ngồi nhìn mẹ tôi xay lúa/ tôi không biết và tôi không nghĩ/ đời mình như chiếc cối xay tre” thì ở “Chân núi”, anh lại thấm thía sứ mệnh của người cầm bút: “như người xuyên rừng nhãng bước chân đi/ cứ chăm chăm phát cây mở lối/ gánh nặng là chữ/ muỗi vắt là chữ/ mồ hôi là chữ/ đói bụng là chữ/ buồn vô ngôn”.

Nếu ở “Chân tháp”, anh ngược về những thế kỷ trước của văn hóa Chàm, để chiêm nghiệm cái đẹp: “tôi kính dâng lên tổ tiên mình/ chiếc bát mẻ nằm lặng bên chân tháp/ cái bát người con trai Việt/ lăn lóc tìm cặp mông người con gái Chàm/ như tìm nơi trú ngụ/ lăn lóc tìm mênh mang vó ngựa/ lăn lóc tìm ấm êm bếp lửa/ lăn lóc tìm đức tin” thì ở “Chân lũy”, anh đã cùng người dân quê mình vác đá xây Trường Lũy: “Đá cõng đá cõng đá/ mồ hôi cõng mồ hôi/ tháng năm cõng tháng năm/ người cõng người/ xây nên Trường Lũy/ cùng mọi người tôi vác đá xây lũy/ cùng mọi người tôi vác tự do vác tình anh em qua lũy/ cùng mọi người tôi ném những trái ngang khỏi lũy/ chúng tôi không xây Vạn Lý Trường Thành/ chúng tôi đếch cần hảo hán/ chúng tôi tươi vui bình thản/ dù chân lũy tới chân trời/ xa lắc chơi vơi”.

Đặc biệt, ở “Chân sóng”, những câu thơ đau đớn của Thanh Thảo như những vết bầm giập trên cơ thể  đất nước làm chúng ta xúc động: “lặng im như đá mồ côi/ họ dạy anh tình yêu không lời/ không thể thiếu Hoàng Sa/ không thể sống thiếu biển/ anh yêu biển mà anh đứng trên bờ/ anh yêu nước mà không biết bơi/ làm sao anh hiểu/ có những người lính đảo/ trần lưng trước mưa đạn quân thù”.

Trong cuộc viễn du vào miền ngôn ngữ cách tân, có khi người làm thơ cảm thấy mình đang bay vào cái vùng bóng tối riêng của một miền ánh sáng để nhìn ngược lại vùng thực tại chúng ta đang sống. Trên cái đường biên mập mờ hai chiều tối - sáng ấy, chúng ta sẽ có những phát hiện mới về các giác cảm, về không gian, về thời gian, về sự tồn tại của con người. Và ở trong vùng tối thẳm sâu vô thức ấy, những câu thơ chợt đến như một giấc mơ và một mình nó làm một cuộc viễn du vượt ra khỏi mọi thể chế về ngôn ngữ để độc hành trong sáng tạo.

Theo tôi, Thanh Thảo là một tài năng không chịu đựng nổi những con đường mòn cũ, quen thuộc trong thi ca. Và bởi tính năng động trong sáng tạo của con người thơ anh luôn bật lên những ý tưởng, những khát khao khám phá. Sau khi đọc nhiều bài thơ của Thanh Thảo, tôi cảm thấy hình như Thơ không phải chỉ đánh thức Thanh Thảo mà chính Thanh Thảo đã đánh thức chúng ta bằng một cái nhìn thành thật đến cay đắng. Bởi một lẽ trên thế gian này, trong cuộc hành trình dâu bể này: “Không ai tái chế nước mắt nỗi đau, dù để làm nên những trang sách”. Không hiểu vì sao câu thơ này thi thoảng lại rung động trong tôi một thứ gì đấy mằn mặn, nhói đau như nước mắt.

Dù tìm tòi, cách tân kiểu nào đi nữa thì thơ Thanh Thảo vẫn là một dòng nội tâm đậm đặc những suy tư trằn trọc với đời sống này, quê hương này, lớp người này, tâm thế này và trong một đêm sâu nào đó, dưới một bầu trời sao nào đó hoặc trong một ngày nắng chói chang nào đó, bên một bát khoai khô nấu mật, bên một người mẹ gầy như ban mai… vẫn còn thao thức một Thanh Thảo luôn canh cánh trước những bần hàn, nghèo khó của quê hương.

Tập thơ “Metro” của Thanh Thảo là tập trường ca thứ 9 (trong số 15 tập thơ) đã xuất bản của anh. Có thể nói, Thanh Thảo đã lập một kỷ lục ghi nét về trường ca trong thơ Việt Nam đương đại. Trong đó, phải kể đến tập trường ca “Đêm trên cát” trước đây của anh đã từng được giới phê bình và công chúng thơ coi như một đỉnh mới của nghệ thuật thơ trường ca trong suốt mấy chục năm qua.

Lần này, với trường ca “Metro”, nhà thơ Thanh Thảo đã làm một cuộc hành trình trở lại với quãng thời gian trai trẻ của anh trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt ở Trường Sơn với một cái nhìn có độ lùi sâu hơn và chiêm nghiệm hơn về số phận con người và đất nước.

Ngay ở chặng ga đầu tiên của “Metro”, hình ảnh những người lính trong “chuyến tàu trận mạc” đã vĩnh viễn nằm lại dưới một Trường Sơn đại ngàn lại nhắc nhở chúng ta về những năm tháng thương đau ấy. Những người lính trẻ đã đi vào chiến tranh, đi vào cái chết với một chân dung hồn nhiên và trong trẻo nhất của thế hệ mình: “không ai đủ sức trả lời/ dù còn cả cuộc đời trước mặt/ năm 26 tuổi tôi “thử hỏi về hạnh phúc”/ với những hồn nhiên trong trẻo nhất/ nhưng hạnh phúc là gì tôi không biết/ là cái bóng của lặng im/ là cái bóng của cái cái bóng cây bằng lăng cây bồ đề/ nửa đêm chợt thức giữa rừng già/ một tiếng gì khẽ rơi/ hạnh phúc”.

Câu hỏi về hạnh phúc trong những năm tháng ấy mãi mãi nằm lại với tuổi trẻ của những người đã lặng lẽ dâng hiến máu xương mình trong cuộc chiến tranh giải phóng: “Nhưng hạnh phúc là gì? câu hỏi này của chị Dương Thị Xuân Quý/ người hỏi không thể tự trả lời/ vì chuông đã rung/ hết giờ”. Một câu hỏi chưa có lời đáp cứ cứa mãi vào tâm khảm những người còn sống hôm nay.

Những năm sau chiến tranh, một Thanh Thảo với những tìm tòi mới trong thơ lại bắt đầu khuấy động thi đàn. Có người đánh giá cao những đóng góp của anh trong mảng thơ viết về chiến tranh, nhưng cũng có người cho rằng mảng thơ sau chiến tranh của anh với những nỗi đau đời sống thường ngày, với những trăn trở cách tân cho thấy một diện mạo sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về thơ Thanh Thảo.

Tôi thì cho rằng ở giai đoạn nào cũng vậy, Thanh Thảo vẫn là một tài năng thơ đích thực với một trái tim luôn nồng nhiệt, chân thành, chia sẻ với mọi mất mát và bất bình trước mọi giả trá, bất công và bạo lực. Có ai đó nói, trong suốt ba chục năm qua, con người thơ của Thanh Thảo vẫn là con người sáng tạo của những trường ca lớn, tôi thấy điều ấy không sai, vì có thể hơi thở máu thịt chính của đời thơ anh là hơi thở của trường ca. Nhưng tôi lại thấy một điều gần đúng, cũng trong thời gian trên, với những tìm tòi bền bỉ nhằm cách tân thơ Việt, Thanh Thảo vẫn là một nhà thơ đáng chú ý của những bài thơ nhỏ rất đặc sắc, hiện đại.

NGUYỄN VIỆT CHIẾN
Nguồn: VNCA


HUỲNH PHAN ANH: "THƠ HIỆN HỮU CHỐNG LẠI THƠ"

“Thơ không là kinh nghiệm. Thơ là sự chờ đợi của kinh nghiệm. Làm thơ, nói về thơ… là tìm tới kinh nghiệm thơ..."
Nhà phê bình Huỳnh Phan Anh

Kể từ khi được ấn hành trong tập tiểu luận “Văn chương và kinh nghiệm hư vô” (xuất bản năm 1968) đến nay, Thơ hiện hữu chống lại thơ của ông Huỳnh Phan Anh vẫn còn là nỗi ám ảnh, day dứt đối với những ai đã làm thơ, đang làm thơ, hay nuôi ý định sẽ làm thơ, và cho những ai muốn định nghĩa, cắt nghĩa về thơ. Ông Huỳnh Phan Anh cùng tiểu luận của ông đã rất đúng khi cho rằng, bất cứ ai trong chúng ta đang ra sức khẳng định thơ là thế này hay thơ là thế khác, hoặc suy tư về thơ hay, thơ dở thì cũng đều là mang thơ ra để phủ nhận chính thơ, là thơ chống thơ theo nghĩa bản chất. Ứng với suy tư ấy của ông Huỳnh Phan Anh trong thực tiễn phê bình thơ ngày hôm nay, ta thấy, mọi sự phân định thơ dở thơ hay, thơ ngoại biên hay thơ trung tâm, thơ “rác” hay thơ “linh thiêng” đều là những cách thức suy diễn chống lại bản chất của thơ. Bởi vì “thơ” là miền im lặng, và cũng là vì, thi sĩ khi làm thơ thường không định nghĩa thơ phải thế này hay thơ phải thế kia.

Thơ cũng như người làm ra nó là một cõi im lặng và hồn nhiên với chính nó. Nó hướng về hiện hữu để hỏi và chiêm nghiệm về hiện hữu, chứ không phải là hướng về hiện hữu rồi quay trở lại nghi vấn về sự tồn tại của mình. Người thơ cất bút làm thơ như một thoáng nghiệm sinh, phiêu lưu cùng hiện hữu, để hiện hữu ấy qua thơ có thể tự lý giải về sự có mặt của mình trong cõi đời. Do đó cách tốt nhất để chúng ta hỏi về thơ là hãy im lặng trước thơ, để nó tự trôi chảy theo ý nghĩ và tuôn trào theo con tim đến với cuộc đời nhiều đau khổ; hướng con người tới sự xoa dịu êm ái của ngôn từ như ông Huỳnh Phan Anh từng thông điệp tới các thi sĩ và thế giới thơ của họ, rằng, “đừng tìm những cuộc hóa thân đâu xa xôi. Hãy nhìn trở lại con người, và bắt đầu bằng cái nhìn nó gửi lên sự vật, những cảm xúc của nó, những mơ mộng của nó, những niềm tin của nó, để thấy sự thay đổi cả một thời đại. Có thể chúng ta bi thảm vì, nói một cách đơn giản, chúng ta đã đánh mất thơ ngây. Và bi thảm hơn, chúng ta không thấy điều đó” (Huỳnh Phan Anh - Thơ hiện hữu chống lại thơ).

Nếu như trong phần 1 của tiểu luận Thơ hiện hữu chống lại thơ, ông Huỳnh Phan Anh đã chỉ ra đặc trưng mơ mộng từ căn tính thơ, rằng, thơ là một hiện hữu không thể cắt nghĩa, không thể khái niệm và không thể ban bố thang bậc xác định thế nào là thơ, thì tới phần 2 của tiểu luận, tác giả của nó đặt thơ vào một vị trí chơi chữ nửa như bông đùa nửa như mời gọi những nhà phê bình thơ nóng tính hạ bút phê phán mình.

Thơ có chân lý không? Một câu hỏi đau đầu cho những nhà bình luận. Câu hỏi ấy đặt ra có nguy cơ lật nhào những quy ước “thang bậc lý luận” cho các ý niệm thơ hay, thơ dở. Và bởi vì thơ là một hiện hữu im lặng, cho nên ngôn ngữ dẫu có trác tuyệt, diệu vợi như thế nào thì nó cũng không thể giải phóng tuyệt đối bản chất mơ mộng, phiêu bồng của tâm hồn người làm ra nó. Cũng bởi lẽ, ngôn ngữ là phúng dụ của nghĩa, nó mang bản chất siêu hình học như cuộc vượt biên, trốn chạy đầy mơ hồ trước thực tiễn sống của thi nhân, cho nên mọi chân lý đặt ra với thơ cũng đều là hành động chống lại chân lý thơ. Ông Huỳnh Phan Anh với kinh nghiệm phản tư triết học đã đặt thơ vào tình thế chống lại những nhà phê bình thơ, chống lại thói quen thẩm định thơ cảm tính, chống lại một hệ thống giáo điều thơ theo kiểu luân lý, thơ hay phải thế này, thơ hay phải thế kia.

Thơ cũng giống như người làm thơ chẳng thể nào chỉ gói gọn tâm hồn mình trong sự nghèo nàn của ngôn ngữ cộng đồng, nó vượt thoát những giới hạn luật lệ khiến thi nhân phải ngột thở, để oằn mình vươn tới cái khác, cái bên ngoài, cái phóng khoáng của tưởng tượng. Người thơ với tâm hồn thơ phiêu bồng, khi thì cưỡi trăng, lúc thì hạ thủy, đêm xuống bầu bạn cùng mây gió, chẳng thể đậu yên một chỗ như con thuyền trước bóng thì làm gì có chân lý chuẩn mực của thơ. Chân lý của thơ là sự im lặng. Cõi lòng thi nhân là cõi lòng không thể dàn trải trong giới hạn của ngôn ngữ. Ngôn ngữ thơ chỉ là cái cớ để những tâm hồn đồng điệu sát lại gần nhau trong sự im lặng bất tận của tâm hồn. Sự im lặng ấy sẽ đốt cháy tâm thức của họ thành cuộc phản kháng chống lại hiện hữu theo nghĩa mời gọi, rủ rê những ngọn lửa khác bên ngoài đang đi tìm “bóng lửa” của mình. Cuộc đoàn viên, tụ họp của những bóng lửa ấy sẽ mở ra viễn tượng bùng cháy bất tận của ngọn lửa thơ, sẵn sàng thiêu đốt mọi giới hạn, mọi quy tắc áp đặt lên bản chất phóng khoáng, tự do của thơ và người thơ: “lời nói thơ, ngôn ngữ thơ, là bí ẩn là bóng tối, nó chỉ hứa hẹn, mời gọi mà không bao giờ là sự thật nền tảng, chân lý sau cùng, vật thể đích thực. Cho nên thơ không khẳng định cái ở đó. Thơ khẳng định cái ở ngoài, ngoài lời nói, ngoài ngôn ngữ. Cho nên sự khẳng định thơ không quá rõ ràng, sáng sủa cố định như một mệnh đề luân lý hay một phương trình toán học” (Huỳnh Phan Anh - Thơ hiện hữu chống lại thơ).

Qua phần 1 và phần 2 của Thơ hiện hữu chống lại thơ, chúng ta thấy, cốt tủy trong lý luận của ông Huỳnh Phan Anh nằm ở “cái im lặng” của thơ, từ sự khai minh ý nghĩa của việc nên định nghĩa về thơ (Câu hỏi về thơ - phần 1) như thế nào?, cho đến Khẳng định của thơ (phần 2) là một sự vận động tĩnh lặng trong cái cõi thơ siêu việt. Giờ đây, trong phần 3 này, ông Huỳnh Phan Anh không chỉ dừng lại ở việc chiêm ngưỡng, nghi vấn, khẳng định cái cõi im lặng ấy, mà còn là cảm giác vượt thoát khỏi chính ý niệm về sự im lặng. Một sự im lặng dường như tuyệt đối trước thể tính của thơ. Và cũng có lẽ vì, khởi thủy của thơ vốn là một miền im lặng thuộc về cõi riêng của thi sĩ, cho nên mọi sự bàn luận về thơ từ ngàn năm nay của loài người đều là những cách thức chống lại cái nguyên khởi mơ mộng ấy của thơ, là chống lại vận mệnh thơ, chống lại sự hiện hữu của thơ và người thơ.

Và có lẽ chính vì thơ là một cõi siêu việt không thể giải quyết được bằng lời, cho nên, chân lý của thơ là chân lý của suy niệm và cảm nghiệm hơn là giải thích và chứng minh. Và vì bản thân thi nhân khi Hắn khai mở ý niệm về thơ thì cũng là lúc Hắn tự đẩy mình vào những giới hạn của thơ, bởi lẽ, mọi ý niệm đều là những cách thức mô tả dựa trên các biểu tượng có giới hạn chứ không phải là một cuộc chuyển động toàn diện về tâm thức.

Thơ trong quan niệm của ông Huỳnh Phan Anh, theo đó không phải là kết quả của kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn sống trải, mà là một dự phóng đón đầu và chỉ đạo kinh nghiệm sống trải của thi nhân - điều mà ông gọi là “sự chờ đợi của kinh nghiệm”. Vì vậy mà, đa phần thi nhân đều là những người sống không theo quy luật thường nghiệm. Họ có chút lập dị của kẻ coi thế giới hữu hình chỉ là cõi tạm, mơ mộng, phiêu bồng, lấy trăng mây gió núi làm bạn đường. Tư tưởng của họ là tư tưởng của một kẻ không tuân theo bất cứ tư tưởng nào, lối sống của họ là lối sống của kẻ không theo thước đo chuẩn mực. Cách nghĩ, cách làm của họ không phục vụ hay làm vui lòng bất cứ ai hoặc bất cứ giai tầng xã hội nào. Có lẽ vì họ là những người tự sáng tạo ra lối sống của mình, tự mình làm nên kinh nghiệm sống và tự mình gánh vác các chuẩn mực do mình đề ra, thế nên, thơ là cõi lặng của chỉ riêng thi sĩ làm ra nó. Nó không lẫn, không hòa, không trộn vào làm một với bất cứ thi phẩm nào và của bất cứ thi nhân nào bên ngoài nó. Nó là miền im lặng của chính nó và của người làm ra nó, đúng như ông Huỳnh Phan Anh quan niệm: “Thơ không là kinh nghiệm. Thơ là sự chờ đợi của kinh nghiệm. Làm thơ, nói về thơ… là tìm tới kinh nghiệm thơ. Như vậy trong chính danh của lời nói, trong chính danh của thơ, người ta phải nhìn nhận một điều: Không được phép nói về thơ. Niềm im lặng của thơ biến mọi lời nói, mọi lời thuyết giảng hay chú giải về thơ thành thừa thãi, ngụy biện ngây ngô” (Huỳnh Phan Anh - Thơ hiện hữu chống lại thơ).

NGÔ HƯƠNG GIANG
Nguồn: VHQN

__________________________

Trích dẫn từ nguồn: Huỳnh Phan Anh, Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Hoàng Đông Phương xuất bản, Sài Gòn, 1968, tr.93-115


NHÀ VĂN THÙY DƯƠNG: TRĂN TRỞ VỚI MỖI THÂN PHẬN NGƯỜI

Nếu không biết Thùy Dương sinh ra và lớn lên ở Hải Dương, sẽ đoán   chắc nàng là người Hà Nội gốc. Gọi là nàng v ì nàng không chỉ xinh đẹp, ...

BÀI ĐỌC NHIỀU